Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận khoảng 250.000 ca phẫu thuật thẩm mỹ, trong đó có từ 25.000 – 35.000 trường hợp gặp biến chứng. Con số này cho thấy những rủi ro ngày càng báo động của ngành làm đẹp hiện nay.
Thông tin này được các chuyên gia đưa ra tại hội thảo “Thẩm mỹ an toàn: Từ pháp lý đến thực hành chuẩn y khoa” do báo Tiền Phong tổ chức tại TP.HCM vào ngày 12-5.
PGS.TS.BS Nguyễn Thanh Vân, Chủ tịch Hội Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ TPHCM, cho biết phẫu thuật thẩm mỹ là lĩnh vực đặc thù vì đối tượng can thiệp thường là người khỏe mạnh, mục tiêu nhằm cải thiện ngoại hình.
Tuy nhiên nhu cầu làm đẹp ngày càng cao kéo theo áp lực lớn về kết quả, trong khi thực tế vẫn tồn tại nhiều nguy cơ tai biến, đặc biệt tại các cơ sở hoạt động không phép.
Theo thống kê, biến chứng thường gặp nhất ở vùng mũi, chiếm khoảng 42,6%, tiếp theo là vùng mặt và ngực. Các tai biến phổ biến gồm nhiễm trùng, tụ máu, sẹo xấu, biến dạng chức năng, tắc mạch, hoại tử, mù mắt do tiêm filler, thuyên tắc phổi, tổn thương nội tạng và thậm chí tử vong.
Đáng lo ngại, xu hướng “phi y khoa hóa” trong thẩm mỹ đang gia tăng mạnh. Nhiều spa và cơ sở chăm sóc sắc đẹp không được cấp phép vẫn ngang nhiên thực hiện các thủ thuật xâm lấn như tiêm filler, hút mỡ hay nâng mũi. Không ít nơi sử dụng vật liệu không rõ nguồn gốc, người thực hiện thiếu chuyên môn y khoa, dẫn đến hàng loạt ca tai biến nghiêm trọng.
Các biến chứng có thể từ nhẹ như bầm tím, tụ dịch đến rất nặng như nhiễm trùng, hoại tử, sốc phản vệ, suy đa cơ quan hoặc tử vong.
Đặc biệt, huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi có tỉ lệ tử vong lên tới hơn 20%, thường xảy ra sau các ca tạo hình thành bụng. Hội chứng thuyên tắc mỡ sau hút mỡ hoặc cấy mỡ khối lượng lớn cũng có nguy cơ tử vong cao.
Nhiều trường hợp nghiêm trọng đã được ghi nhận. Một phụ nữ 36 tuổi bị viêm phúc mạc toàn thể sau hút mỡ và tạo hình thành bụng, phải điều trị hơn 100 ngày với nhiều cuộc phẫu thuật mới giữ được tính mạng nhưng vẫn mang di chứng nặng nề.
Một nữ bệnh nhân khác, 64 tuổi, tử vong sau khi thực hiện cùng lúc nhiều thủ thuật như cắt mí, đặt túi ngực, hút mỡ và tạo hình bụng. Nguyên nhân được xác định là thuyên tắc phổi dẫn đến suy đa cơ quan.
Ngoài ra nhiều ca mù mắt sau tiêm filler, lật mi, lộ sụn mũi hay hoại tử ngực cũng liên tục xuất hiện thời gian gần đây.
Theo các chuyên gia, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thực hiện thẩm mỹ tại cơ sở không phép, người làm không phải bác sĩ chuyên khoa, lạm dụng nhiều kỹ thuật trong cùng một ca mổ hoặc thiếu điều kiện hồi sức cấp cứu. Các yếu tố như béo phì, hút thuốc lá hay bệnh nền cũng làm tăng nguy cơ tai biến.
"Khi có biểu hiện sốt, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, nôn, tiêu chảy hoặc xuất huyết sau khi đi về từ vùng có dịch, cần đến ngay cơ sở y tế và thông báo lịch sử đi lại, tiếp xúc để được hướng dẫn kịp thời", Bộ Y tế khuyến cáo tối 17/5, sau khi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc tế về dịch Ebola.
Bệnh Ebola là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, có thể gây bệnh nặng và tử vong. Bệnh lây qua tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch cơ thể của người mắc bệnh hoặc người tử vong do Ebola; hoặc qua đồ vật, bề mặt bị nhiễm dịch cơ thể của người bệnh.
Các dấu hiệu thường gặp khi nhiễm virus gồm sốt, mệt mỏi, đau đầu, đau cơ, đau họng, nôn, tiêu chảy, đau bụng, phát ban. Một số trường hợp có thể có biểu hiện xuất huyết. Thời gian ủ bệnh thường từ 2 đến 21 ngày.
Để phòng bệnh, không tiếp xúc trực tiếp với người có triệu chứng nghi ngờ mắc bệnh Ebola, máu, dịch cơ thể hoặc đồ dùng của người bệnh.
Trong tuyên bố ngày 17/5, WHO đánh giá đợt bùng phát mới, do virus chủng Bundibugyo gây ra, chưa đáp ứng các tiêu chí để cấu thành một tình trạng khẩn cấp do đại dịch song các quốc gia có chung đường biên giới đất liền với Congo đang đứng trước nguy cơ cao bị dịch bệnh tiếp tục lây lan.
Thống kê của WHO đến ngày 16/5 có 246 ca nghi nhiễm, 8 ca xác định bằng xét nghiệm và 80 ca tử vong nghi ngờ do Ebola tại tỉnh Ituri (Congo). Dịch bệnh hiện đã lan ra ít nhất 3 vùng là Bunia, Rwampara và Mongbwalu. Bệnh nhân khởi phát với các triệu chứng gồm sốt, đau nhức toàn thân, suy nhược, nôn mửa và trong một số trường hợp có xuất huyết. Nhiều bệnh nhân diễn tiến xấu nhanh chóng và tử vong.
WHO nhận định quy mô thực tế của đợt dịch lần này có thể lớn hơn nhiều so với số liệu được phát hiện và báo cáo hiện tại. Cảnh báo được đưa ra dựa trên tỷ lệ dương tính rất cao từ các mẫu bệnh phẩm ban đầu, cùng với số lượng ca nghi nhiễm được báo cáo ngày càng tăng. Tại Uganda, ghi nhận hai trường hợp mắc bệnh được khẳng định bằng xét nghiệm, trong đó một ca tử vong tại Kampala, đều là người đi từ Congo.
Đây là đợt bùng phát dịch Ebola lần thứ 17 được ghi nhận tại Congo kể từ khi virus này được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1976 tại Yambuku, thuộc tỉnh Équateur. Đợt dịch gần đây nhất tại quốc gia này vừa chấm dứt vào tháng 12/2025.
Thông thường, các đợt dịch trước đều do chủng Ebola-Zaire gây ra, chủng virus hiện đã có vaccine phòng ngừa. Tuy nhiên, đợt bùng phát mới này mang tính chất "bất thường" và nguy hiểm vì hiện chưa có bất kỳ liệu pháp điều trị hoặc vaccine đặc hiệu nào được phê duyệt cho chủng virus Bundibugyo. Trong lịch sử, thế giới ghi nhận hai đợt bùng phát dịch do chủng này vào các năm 2007 và 2012.
Trước tình hình trên, WHO lưu ý các nước cần kích hoạt ngay cơ chế quản lý thảm họa và khẩn cấp quốc gia, đồng thời triển khai sàng lọc y tế tại các cửa khẩu biên giới và trên các trục đường giao thông nội địa chính.
Đột quỵ có thể xảy ra đột ngột, không báo trước nhưng hậu quả lại tiến triển rất nhanh. Nếu người bệnh không được cấp cứu kịp thời sẽ làm tăng nguy cơ tử vong và tàn tật lâu dài.
Nhiều người thường chủ quan trước những dấu hiệu ban đầu như nói ngọng, yếu tay chân hay chóng mặt. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, đột quỵ không chỉ là một bệnh lý thông thường mà là một "cơn tấn công não", cần được cấp cứu ngay lập tức tương tự nhồi máu cơ tim.
Mỗi phút trôi qua, hàng triệu tế bào não chết đi
Não là cơ quan phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung cấp máu và oxy. Khi dòng máu bị tắc nghẽn bởi cục máu đông hoặc mạch máu bị vỡ, các tế bào não bắt đầu tổn thương gần như ngay lập tức.
Trong đột quỵ thiếu máu não (dạng phổ biến nhất), mỗi phút không được can thiệp có thể khiến khoảng 2 triệu tế bào thần kinh chết đi, cùng hàng tỷ kết nối thần kinh bị phá hủy. Tổn thương này không diễn ra trong vài giờ mà xảy ra liên tục từng phút. Hậu quả phụ thuộc vào vùng não bị ảnh hưởng. Người bệnh có thể mất khả năng nói, suy giảm trí nhớ, liệt một bên cơ thể hoặc rối loạn nhận thức.
"Cửa sổ vàng" điều trị rất ngắn
Đột quỵ có thời gian can thiệp hiệu quả rất hạn chế, thường được gọi là "cửa sổ vàng". Việc điều trị cần bắt đầu càng sớm càng tốt, lý tưởng là trong vài giờ đầu kể từ khi xuất hiện triệu chứng. Các phương pháp hiện đại như dùng thuốc tiêu sợi huyết hoặc can thiệp lấy huyết khối có thể giúp khôi phục dòng máu lên não. Tuy nhiên, hiệu quả của các phương pháp này giảm nhanh theo thời gian.
Với đột quỵ xuất huyết - khi mạch máu não bị vỡ - tình trạng còn nguy hiểm hơn. Người bệnh có thể cần phẫu thuật khẩn cấp để cầm máu và giảm áp lực lên não.
Tổn thương não không thể phục hồi hoàn toàn
Khác với nhiều cơ quan khác trong cơ thể, tế bào não khi đã chết gần như không thể tái tạo. Vì vậy, mỗi phút chậm trễ đồng nghĩa với mất đi vĩnh viễn một phần chức năng của não.
Trong cấp cứu đột quỵ, thời gian càng kéo dài, tổn thương não càng nghiêm trọng. Người bệnh được đưa đến bệnh viện sớm có cơ hội hồi phục tốt hơn, trong khi người đến muộn dễ đối mặt với di chứng nặng nề như mất khả năng vận động, nói chuyện, thậm chí tử vong.
Phát hiện sớm các dấu hiệu đột quỵ đóng vai trò quyết định. Các triệu chứng thường xuất hiện đột ngột, bao gồm mất thăng bằng, chóng mặt; nhìn mờ hoặc mất thị lực; méo miệng, lệch mặt; yếu hoặc tê một bên tay chân; nói khó hoặc nói ngọng.
Quy tắc BEFAST giúp nhận biết nhanh đột quỵ qua các dấu hiệu: mất thăng bằng (Balance), rối loạn thị lực (Eyes), méo miệng (Face), yếu tay chân (Arms), nói khó (Speech). Chữ "T" (thời gian) nhấn mạnh việc gọi cấp cứu ngay lập tức khi xuất hiện dấu hiệu, bởi mỗi phút trôi qua đều làm tăng nguy cơ tổn thương não.
Chia sẻ về vấn đề này, ThS Trần Thị Thắm, Bệnh viện Bạch Mai, cho hay chất xơ trong rau củ có vai trò quan trọng trong phòng và cải thiện táo bón. Cơ chế của chất xơ là hút nước, trương nở, làm tăng khối lượng và làm mềm phân, từ đó kích thích nhu động ruột và hỗ trợ tiêu hóa dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, nếu cơ thể không được cung cấp đủ nước, chất xơ có thể hút ngược nước từ phân và lòng ruột, khiến phân khô, cứng hơn và tình trạng táo bón trở nên nặng hơn. Đây là lý do nhiều người ăn rất nhiều rau nhưng vẫn khó khăn trong tiêu hóa.
Các chuyên gia dinh dưỡng cho biết chất xơ được chia thành hai nhóm chính:
Chất xơ hòa tan có trong yến mạch, chuối, táo, các loại đậu… Loại chất xơ này tạo dạng gel, giúp làm mềm phân và nuôi lợi khuẩn đường ruột.
Chất xơ không hòa tan có nhiều trong rau lá xanh. Chúng giúp tăng khối lượng phân và hỗ trợ quá trình đào thải phân ra ngoài.
Mỗi loại chất xơ đều có vai trò riêng. Vì vậy, thay vì chỉ ăn thật nhiều một loại rau, cần đa dạng thực phẩm, kết hợp rau xanh, trái cây nguyên miếng, đậu, hạt và ngũ cốc nguyên hạt.
Theo các chuyên gia Bệnh viện Bạch Mai, để cải thiện tình trạng kể trên hiệu quả, cần kết hợp nhiều yếu tố thay vì chỉ tăng lượng rau xanh.
Trước hết, cần uống đủ nước mỗi ngày, ưu tiên nước lọc. Nhu cầu nước phụ thuộc vào cân nặng, thời tiết, mức độ hoạt động và tình trạng bệnh lý. Với người trưởng thành, lượng nước trung bình khoảng 40-50ml/kg/ngày.
Tuy nhiên, người bị suy tim, suy thận, phù hoặc cổ chướng cần tuân theo hướng dẫn của bác sĩ, không tự ý tăng lượng nước uống.
Bên cạnh đó, người trưởng thành cần tối thiểu khoảng 20-22g chất xơ mỗi ngày (tương đương 600-800g rau quả). Để đạt mức này, mỗi bữa nên ăn khoảng một chén rau đã nấu chín, đồng thời bổ sung thêm trái cây, hạt và ngũ cốc nguyên hạt.
Việc tăng chất xơ cần thực hiện từ từ, tránh ăn quá nhiều rau trong một bữa rồi bỏ thiếu ở các bữa còn lại.
Vận động cũng đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ nhu động ruột. Đi bộ, tập luyện nhẹ hoặc duy trì hoạt động thể chất phù hợp giúp cải thiện tình trạng táo bón. Với người bệnh nằm lâu, nên tham khảo nhân viên y tế để có bài tập phù hợp.
Ngoài ra cần tập thói quen đi đại tiện đúng giờ, không nhịn đi ngoài và hạn chế thực phẩm ít chất xơ như đồ ăn nhanh, thực phẩm chế biến sẵn hoặc tinh bột tinh chế. Các thực phẩm chứa lợi khuẩn như sữa chua, thực phẩm lên men cũng có lợi cho hệ tiêu hóa.