Tại BV K, BN được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô vảy (loại ung thư khởi phát từ tế bào bề mặt của lưỡi) ở bờ lưỡi bên phải. Khối sùi loét ở bờ lưỡi phải có kích thước 2 x 2,5 cm; kích thước u 26 x 10 mm. Ung thư chưa di căn hạch, chưa thâm nhiễm các vùng lân cận.
TS Ngô Xuân Quý, Trưởng khoa Ngoại Đầu – cổ (BV K), thông tin: Ở bệnh ung thư lưỡi, các tế bào ung thư ít đáp ứng với xạ trị hay hóa chất, nên phẫu thuật có vai trò lớn trong điều trị. Trường hợp BN nói trên, bên cạnh cắt u và toàn bộ vùng liên quan đến khối u, phẫu thuật viên còn vét hạch cổ phải, nhằm loại bỏ triệt để các hạch bạch huyết xung quanh có nguy cơ bị tế bào ung thư di căn, ngay cả khi trên hình ảnh siêu âm chưa nhìn thấy rõ tổn thương. Ung thư lưỡi giai đoạn bệnh khu trú, nếu được điều trị đúng phác đồ thì tỷ lệ chữa khỏi rất cao: 70 – 80%.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của phẫu thuật ung thư lưỡi là cấu trúc giải phẫu. Lưỡi có hệ thống mạch máu phức tạp và chứa nhiều dây thần kinh quan trọng giúp điều khiển vị giác, cảm giác và vận động. Sau khi cắt bỏ 1/2 lưỡi phải (với trường hợp BN trên), người bệnh đối mặt nguy cơ khuyết hổng lớn ở khoang miệng. Nếu chỉ khâu đóng thông thường, lưỡi sẽ bị co kéo, biến dạng nghiêm trọng, khiến người bệnh gặp khó khăn lớn trong ăn uống, phát âm.
Do đó, các bác sĩ đã áp dụng kỹ thuật tạo hình vi phẫu – kỹ thuật tiên tiến nhất trong tạo hình cho người bệnh sau phẫu thuật. Bác sĩ lấy vạt da cánh tay của BN để tạo hình lưỡi, vạt được thiết kế vừa vặn, đảm bảo tốt chức năng nói, nuốt, không ảnh hưởng đến đường thở, không phải mở khí quản. Dưới kính hiển vi phẫu thuật phóng đại, các phẫu thuật viên có thể quan sát chi tiết, nối từng mạch máu, sợi thần kinh siêu nhỏ của vạt mô đó với mạch máu vùng cổ để nuôi sống phần lưỡi mới tái tạo. 5 ngày sau ca phẫu thuật thành công, BN đã có thể tự ăn uống qua đường miệng, nói chuyện khá tốt với người xung quanh.
Tin Gốc: Thanh Niên




