Công văn 3175/BGDĐT-GDTrH năm 2022 hướng dẫn: “Trong đánh giá kết quả học tập cuối học kỳ, cuối năm học, cuối cấp học, tránh dùng lại các văn bản đã học trong sách giáo khoa làm ngữ liệu xây dựng các đề kiểm tra đọc hiểu và viết để đánh giá chính xác năng lực học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép nội dung tài liệu có sẵn”. Thế nhưng, văn mẫu vẫn tồn tại do nhiều nguyên nhân.
Giữa hướng dẫn và thực tế vẫn còn khoảng cách
Công văn 3715 khuyến khích việc xây dựng và sử dụng các đề mở trong kiểm tra, đánh giá để phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của học sinh. Xây dựng bộ công cụ đánh giá để hạn chế tính chủ quan, cảm tính của người chấm. Khi nhận xét, đánh giá các sản phẩm của học sinh, cần tôn trọng và khuyến khích cách nghĩ, cách cảm riêng của học sinh trên nguyên tắc không vi phạm những chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật.
Tuy nhiên, cách dạy, cách ra đề kiểm tra, đề thi hiện nay vẫn chưa thực sự hướng đến phát huy phẩm chất, năng lực của người học. Phần nhiều kiến thức trong đề kiểm tra, đề thi môn ngữ văn vẫn thiên về tái hiện kiến thức như chương trình cũ.
Các hướng dẫn chấm bài kiểm tra, bài thi vẫn nặng nề theo đáp án. Nghĩa là học sinh làm khác đáp án của thầy cô khó đạt được điểm cao. Những lệnh đề, như: “theo em”; “em hãy trình bày suy nghĩ của mình” nhưng đáp án chấm lại cứ bám sát “theo thầy”.
Công văn 3175 yêu cầu: “tránh dùng lại các văn bản đã học trong sách giáo khoa làm ngữ liệu xây dựng các đề kiểm tra đọc hiểu và viết” nhưng giáo viên ở nhiều trường học hiện nay vừa làm theo hướng dẫn nhưng vừa sợ. Mặc dù tuân thủ không lấy ngữ liệu trong sách giáo khoa để ra đề nhưng lại giới hạn một vài tác phẩm, một vài đề cụ thể trước khi kiểm tra thường xuyên, định kỳ để học sinh chuẩn bị trước.
Trước khi kiểm tra, một số thầy cô dạy chính khóa sẽ “ôn” khá kỹ cho học trò từ những tác phẩm văn học, hoặc các dạng đề đã được giới hạn. Ngoài ra, các em còn “chuẩn bị” bằng hình thức nhờ ChatGPT; Gemini; Roboki…hoặc thầy cô dạy thêm làm hộ. Vì thế, nhiều học sinh học thuộc bài mẫu, khi kiểm tra chỉ “tái hiện” lại những gì đã được ôn, hoặc đã chuẩn bị.
Vì thế, khi chấm bài định kỳ, mặc dù là nhà trường xếp học sinh ngồi theo thứ tự A, B, C, cắt phách bài kiểm tra nhưng đa phần các bài văn na ná như nhau. Gần với đáp án/hướng dẫn chấm của thầy cô.
Cho dù chương trình mới khuyến khích sáng tạo nhưng việc kiểm tra hiện nay vẫn nặng tính khuôn mẫu. Không ít đề kiểm tra, đề thi ngữ văn vẫn thiên về “đúng ý”, “đủ ý”. Điều này khiến học sinh tin rằng càng giống đáp án càng dễ đạt điểm cao. Khi đó, văn mẫu trở thành con đường ngắn nhất để lấy điểm.
Ngoài ra, hiện nay giáo viên chịu áp lực về tỷ lệ học lực của học sinh do nhà trường, tổ chuyên môn giao ở đầu năm học. Bên cạnh đó, kết quả thi tuyển sinh, thi tốt nghiệp cũng là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại giáo viên.
Nếu không đạt chỉ tiêu, chất lượng giảng dạy không “bằng hoặc cao hơn năm trước” thì về cơ bản giáo viên không được xét thi đua các danh hiệu từ Chiến sĩ thi đua cơ sở trở lên; không đủ điều kiện để xét viên chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong khi, những danh hiệu, xếp loại viên chức hằng năm gắn liền với quyền lợi, danh dự của giáo viên.
Vì vậy, nhiều thầy cô buộc phải cho học sinh luyện theo “khung”, “dàn ý chuẩn”, thậm chí cung cấp bài mẫu để học sinh dễ đạt điểm hơn.
Chưa kể, một bộ phận học sinh ngày nay rất ít đọc sách, báo, vốn từ khá ít ỏi. Một số em thiếu vốn từ, thiếu trải nghiệm sống và khả năng diễn đạt nên thường chọn cách học thuộc bài mẫu để “an toàn”. Với những em học lực bình thường thì văn mẫu trở thành chiếc “phao cứu sinh” để hướng đến điểm trung bình (đạt).
Hiện nay, chỉ cần tìm kiếm vài giây là có hàng trăm bài văn mẫu trên các website học tập khiến việc sao chép trở nên quá dễ dàng. Bên cạnh đó, AI (trí tuệ nhân tạo) sử dụng khá phổ biên, chỉ cần câu lệnh là có bài văn hoàn chỉnh. Một khi nguồn cung lớn thì nhu cầu sử dụng cũng tăng theo.
Giải pháp để hạn chế văn mẫu
Chúng ta đều biết, một khi văn mẫu thành “văn chép” cũng đồng nghĩa học sinh mất khả năng suy nghĩ độc lập, bài viết thiếu cảm xúc thật và ngày càng ngại sáng tạo.
Muốn văn mẫu bớt “đất sống” thì việc đầu tiên hội đồng cốt cán môn ngữ văn ở các địa phương, các thầy cô giáo cần phải đổi mới cách ra đề và chấm điểm. Thầy cô cần tôn trọng sự khác biệt trong bài viết, khuyến khích trải nghiệm cá nhân, dạy học sinh cách viết từ suy nghĩ thật của mình thay vì học thuộc.
Bên cạnh đó, thầy cô dạy ngữ văn cần hướng cho học sinh trau dồi vốn từ, thường xuyên đọc sách, khuyến khích những em viết hay, viết có cảm xúc.
Đặc biệt, các tiêu chí xét thi đua, đánh giá viên chức cuối năm cũng cần được nghiên cứu thấu đáo, tránh tình trạng chất lượng giáo dục cuối năm phải “bằng hoặc cao hơn năm trước” mới được xét danh hiệu cá nhân, tập thể. Xét thi đua, đánh giá, xếp loại viên chức cần hướng đến tính minh bạch, sự nỗ lực của từng giáo viên chứ không nhất thiết phải ràng buộc chất lượng giáo dục.
Ranh giới giữa chất lượng thật và thành tích rất mỏng manh. Một bộ phận giáo viên làm thật thì không được xét thi đua, bị nhắc nhở, phê bình. Từ đó, có tình trạng giáo viên phải tìm cách để “nâng” chất lượng giảng dạy của mình.
Chính phủ tuần trước ban hành nghị định 176 về chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Theo đó, sinh viên 15 ngành có thể nhận hỗ trợ 37-55 triệu đồng một năm. Thạc sĩ, nghiên cứu sinh nhận 55-84 triệu đồng.
Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan tham mưu chính sách, cho biết đây là bước cụ thể hóa chủ trương phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ trọng điểm.
Đại diện nhiều trường đại học nhìn nhậnchính sách học bổng mới là "lực hút" lớn với người học.
Theo PGS. TS Trần Đình Phong, Phó hiệu trưởng trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH), nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, ảnh hưởng tới sức hấp dẫn của đất nước với các tập đoàn công nghệ lớn của thế giới. Nó cũng tác động tới khả năng làm chủ công nghệ, xây dựng sức cạnh tranh và phát triển đất nước bền vững trong tương lai xa hơn.
Tuy nhiên, thời gian qua nhóm ngành này chưa thật sự hấp dẫn người học. Nhiều học sinh có năng lực, gồm cả những em học chuyên tự nhiên ở phổ thông, vẫn rẽ hướng sang lĩnh vực khác khi lên đại học.
"Tôi kỳ vọng chính sách học bổng này giúp thay đổi xu hướng đó, khuyến khích học sinh có năng lực, giàu tiềm năng phát triển lựa chọn theo học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược của quốc gia", ông Phong nói.
TS Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng Đào tạo, trường Đại học Công nghiệp TP HCM, đồng tình.
Hai chuyên gia cho rằng có ba điểm nổi trội từ chính sách mới. Một là mức học bổng tương đối hấp dẫn trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay.
Ông Nhân cho rằng với 37-55 triệu đồng/năm, sinh viên đẫ đủ để trang trải toàn bộ học phí tại đa số trường công lập. Nếu giành thêm học bổng khuyến khích của trường hoặc doanh nghiệp, họ hoàn toàn không phải lo về chi phí sinh hoạt suốt khóa học.
Ở bậc sau đại học, nghiên cứu sinh có thể nhận tối đa 8,4 triệu đồng/tháng -tương đương thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của Việt Nam năm 2025.
Để so sánh, ông Phong cho biết tại Pháp, mức hỗ trợ nghiên cứu sinh khoảng 1.200 - 2.000 Euro, trong khi thu nhập bình quân đạt gần 4.000 Euro.
"Mức học bổng thể hiện quyết tâm đầu tư cho đào tạo nhân lực rất lớn của Chính phủ", ông Phong nói. "Nếu được các nhóm nghiên cứu hỗ trợ thêm, nghiên cứu sinh có thể yên tâm tập trung nghiên cứu để đạt kết quả tốt nhất".
Điểm đáng chú ý thứ hai là học bổng cấp xuyên suốt từ bậc cử nhân, thạc sĩ đến tiến sĩ.
PGS Phong đánh giá việc tiếp sức cho bậc sau đại học là bước đi kịp thời, cần thiết để thu hút cử nhân có năng lực tiếp tục theo học lên cao, được đào tạo chuyên sâu hơn để có thể tham gia trực tiếp vào R&D (nghiên cứu và phát triển) hoặc quản trị sản xuất.
Đồng thời, đây cũng là nguồn đầu tư gián tiếp cho các trường đại học, bởi học viên cao học và nghiên cứu sinh tham gia trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu.
Cuối cùng, chính sách mới cho thấy tư duy mở và cơ chế tạo động lực.
Việc đưa ra điều kiện duy trì học bổng được TS Nguyễn Quang Khởi, khoa Vật lý - Vật lý kỹ thuật, trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM, đánh giá là cần thiết để tạo động lực học tập cho sinh viên.
Ông Nhân cũng thấy đây là khác biệt so với chính sách hỗ trợ dành cho sinh viên sư phạm, rất cần thiết để tuyển những em giỏi và quyết tâm. Như với hệ cử nhân, yêu cầu sinh viên đạt loại khá trở lên mỗi năm - gần với điều kiện xét học bổng khuyến khích của trường có thể thúc đẩy các em hơn.
Đặc biệt, học bổng không ràng buộc người học phải làm việc trong nước sau tốt nghiệp. TS Nguyễn Trung Nhân đánh giá đây là một "tư duy mở" rất đáng ghi nhận.
Vì thế, PGS Trần Đình Phong cho rằng chính sách học bổng sẽ tác động tích cực tới công tác tuyển sinh ở các trường đào tạo khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ.
Như với nhóm ngành về vi mạch bán dẫn, TS Khởi thấy đang có độ hút nhất định với thí sinh. Nhiều học sinh trường chuyên, đạt giải thưởng cấp tỉnh, quốc gia đăng ký khiến điểm chuẩn ngành Công nghệ bán dẫn và các ngành gần cũng tăng rõ rệt. Ông cho rằng thêm chính sách học bổng Chính phủ, các ngành này sẽ ngày càng "hot".
Lấy ví dụ chính sách học bổng giúp ngành Sư phạm khởi sắc rõ rệt, TS Nguyễn Trung Nhân cũng nhận định các trường khối công nghệ, kỹ thuật sẽ thu hút được nhiều thí sinh hơn, từ đó chọn lọc được nhiều bạn giỏi.
"5-10 năm sau Việt Nam sẽ có nguồn nhân lực mạnh trong các ngành này", TS Nhân nói.
Tuy nhiên, ông Nhân lưu ý học sinh xác định rõ năng lực và đam mê, tránh chạy theo trào lưu hay lợi ích tài chính từ học bổng. Bởi chương trình đào tạo các ngành công nghệ, kỹ thuật tương đối khó, nặng hơn những ngành khác.
Song song học bổng, để thu hút người giỏi, PGS Phong cho rằng các trường đại học cần liên tục nâng cao chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất, thúc đẩy hội nhập quốc tế để mang lại cơ hội tốt nhất cho người học.
Ông cũng mong các doanh nghiệp công nghệ nhanh chóng phát triển; hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ngày càng hoàn thiện để đủ sức hấp thu nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao sau đào tạo, tránh những "khoảng hẫng" giữa cung và cầu.
Nội dung trên nằm trong nghị định 91 của Chính phủ, quy định chi tiết và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học.
Cụ thể, để được công nhận là "đại học", tỷ lệ giảng viên quốc tế (bao gồm cả giảng viên người Việt ở nước ngoài) tham gia giảng dạy trong 12 tháng ở các trường chiếm tối thiểu 5% tổng số giảng viên cơ hữu. Số có trình độ tiến sĩ đạt tối thiểu 60%.
Về quy mô, các đại học phải có ít nhất 3 trường thành viên, 25 ngành ở mỗi trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Quy mô đào tạo đạt từ 15.000 người trở lên. Trong đó, tối thiểu 20% người học các chương trình sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). Tỷ lệ sinh viên quốc tế đạt 3% trở lên.
So với quy định cũ, hầu hết yêu cầu chặt chẽ hơn. Trước đó, Chính phủ không yêu cầu cụ thể tỷ lệ về đội ngũ giảng viên hay sinh viên quốc tế, người học sau đại học như trên.
Ngoài ra, nghị định còn đưa ra điều kiện về nghiên cứu khoa học. Trong đó, tỷ lệ sản phẩm bình quân của một giảng viên cơ hữu trong một năm ít nhất là một bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản, bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích. Tỷ trọng thu từ các hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt tối thiểu 20% tổng nguồn thu sự nghiệp của trường.
Các "trường đại học" phải duy trì liên tục điều này trong ít nhất 3 năm mới được lên "đại học".
Tiêu chí thành lập trường trực thuộc cũng khó hơn trước, khi phải có ít nhất 5 ngành đào tạo cùng lĩnh vực ở mỗi trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Quy mô người học từ 3.000 trở lên, thay vì 2.000 như cũ.
Ngoài ra, trường phải có nhóm nghiên cứu mạnh, bình quân mỗi giảng viên phải có một bài báo khoa học, tương tự điều kiện đối với đại học.
Chi tiết các tiêu chí để trường đại học chuyển thành đại học như sau:
Tiêu chí
Quy định hiện nay (ban hành năm 2019)
Quy định mới
Số trường trực thuộc
Ít nhất 3 trường
Ít nhất 3 trường
Quy mô người học
15.000
15.000
Ngành đào tạo tiến sĩ
10 ngành
25 ngành
Giảng viên trình độ tiến sĩ
Không quy định cụ thể
Ít nhất 60%
Giảng viên quốc tế
Không quy định cụ thể
Ít nhất 5%
Người học sau đại học
Không quy định cụ thể
Ít nhất 20%
Số sinh viên quốc tế
Không quy định cụ thể
Ít nhất 3%
Bình quân số bài báo khoa học/sách xuất bản/bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích của một giảng viên trong một năm
Không quy định cụ thể
Ít nhất 1
Tỷ lệ thu từ hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo so với tổng thu
Không quy định cụ thể
Ít nhất 20%
Theo Luật Giáo dục đại học, trường đại học và đại học là hai khái niệm khác nhau. Trường đại học, học viện là cơ sở đào tạo và nghiên cứu nhiều ngành. Còn đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều lĩnh vực, gồm các trường đại học, khoa thành viên.
Cả nước hiện có 13 đại học, trong đó có 11 cơ sở công lập gồm: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP HCM, Đại học Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, Bách khoa Hà Nội, Kinh tế TP HCM, Kinh tế Quốc dân, Công nghiệp Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Trà Vinh. Hai đại học tư thục là Duy Tân và Phenikaa.
Theo quy định mới, nhiều trường không đạt. Ví dụ, ở tiêu chí tỷ lệ giảng viên là tiến sĩ, Đại học Công nghiệp Hà Nội hay Kinh tế TP HCM mới chỉ đạt 35-45%, theo báo cáo thường niên của trường, trong khi Bộ yêu cầu tối thiểu là 60%.
Về tỷ trọng nguồn thu từ khoa học công nghệ, hầu hết thấp hơn nhiều so với mức 20%. Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, nguồn thu này chỉ chiếm hơn 6,7% tổng thu (năm 2024), Kinh tế Quốc dân là hơn 3% (năm 2023).
Chính phủ yêu cầu các đại học hiện nay phải có kế hoạch, lộ trình đáp ứng các điều kiện mới trong thời hạn 5 năm, kể từ nay.
Trường học cần làm gì để bảo vệ năng lực suy nghĩ độc lập của con người trước sức mạnh của AI?
Giảng dạy đại học, tôi thấy một số sinh viên không thể tự tin trả lời những vấn đề khá đơn giản bởi thói quen xử lý tất cả các dạng bài tập hay câu hỏi của giảng viên bằng AI.
Như khi tôi trình chiếu một đoạn quảng cáo nổi tiếng và hỏi về cảm nhận cá nhân, ngay lập tức một số em thao tác trên máy nhờ các "trợ lý AI" phân tích những tầng ý nghĩa của quảng cáo. Dù cảm nhận, cảm xúc cá nhân là dạng câu hỏi vốn không phân định đúng - sai và rất cần góc nhìn đa chiều từ người học.
Khi sinh viên có thể nhận được câu trả lời trọn vẹn chỉ sau vài giây nhờ công cụ AI hỗ trợ, quá trình vật lộn với vấn đề, tìm kiếm dữ liệu, suy đoán hay phản biện..., vốn là cốt lõi của tư duy, đã bị rút ngắn, thậm chí bị bỏ qua.
Và không chỉ có sinh viên. Gần đây tại hội thảo có chủ đề "Khi sinh viên dùng AI: Phát hiện, đánh giá và xử lý ra sao", một học giả đã chia sẻ câu chuyện về học viên cao học lập bảng hỏi nghiên cứu trông có vẻ rất chỉn chu, mạch lạc. Tuy nhiên khi được hỏi, học viên này lại không thể lý giải vì sao mình chọn cách tiếp cận đó, cũng không đủ khả năng phản biện những câu hỏi mở rộng từ chính đề tài của mình.
Đây là hậu quả của quá trình sử dụng AI tạo ra sản phẩm nghiên cứu một cách thụ động. Một giáo sư nói vui rằng sinh viên bây giờ đã có thể nộp bài luận dựa trên nền tảng học thuật "cao siêu" nào đó... mà chính ông nghiên cứu mấy chục năm cũng chưa từng nghe qua. Nhưng khi kiểm chứng lại phát hiện các lý thuyết trên hoàn toàn không có thật, tài liệu tham khảo bị AI ngụy tạo.
Không thể phủ nhận được sức mạnh của AI với câu trả lời có cấu trúc rõ ràng, trình bày hợp logic, thậm chí mang dáng dấp của những công trình học thuật được nghiên cứu kỹ lưỡng. Và chính điều này khiến người học mất cảnh giác, tin rằng cỗ máy AI biết tư duy, biết suy nghĩ nghiêm túc dựa trên bộ dữ liệu khổng lồ do con người cung cấp.
Tuy nhiên trên thực tế, nội dung do AI tạo ra có khả năng che giấu các sai lệch rất tinh vi. Hiện tượng đó được các nhà khoa học gọi là "AI hallucination" (tạm dịch: ảo giác AI) - hệ thống tạo ra thông tin sai lệch, không có thật nhưng được diễn giải rất hợp lý và thuyết phục.
Tuy vậy, theo tôi, hiện tượng ảo giác AI không hẳn là tín hiệu đáng sợ, mà ngược lại nó phơi bày một giới hạn quan trọng: AI vẫn chưa thay thế được năng lực tư duy phản biện của con người.
Khi người học đối diện với các "sai lệch tinh vi" từ AI, họ buộc phải quay lại với chính năng lực tư duy của mình để kiểm chứng câu trả lời, đọc sâu và tìm ra đáp án. Ở góc nhìn này, AI có thể trở thành loại công cụ buộc con người phải tỉnh táo hơn khi tiếp cận tri thức.
Việc cấm sử dụng AI trong môi trường giáo dục có thể là bất khả thi. Do đó, để tránh khỏi hiện tượng lười tư duy, bị ảo giác AI dẫn dắt hoặc đánh mất khả năng phân biệt giữa tri thức thật và tri thức AI ngụy tạo, rất cần các cơ chế chính sách đồng bộ từ trường đại học.
Thay vì đánh giá sản phẩm cuối cùng, thứ AI có thể dễ dàng hỗ trợ tạo ra, cần chuyển sang đánh giá quá trình, yêu cầu người học giải thích lập luận, bảo vệ quan điểm. Như trường Nanyang Technological University tại Singapore ra thông báo không khuyến khích phụ thuộc vào các công cụ phát hiện AI, bởi độ chính xác còn nhiều hạn chế. Trường này nhấn mạnh việc đào tạo sinh viên sử dụng AI một cách có trách nhiệm và hiểu rõ giới hạn của nó.
Ngay cả những đại học hàng đầu thế giới như University of Sydney (Úc) cũng phải điều chỉnh cách đánh giá theo mô hình "tiếp cận 2 chiều". Một mặt cho phép sinh viên sử dụng AI trong các bài tập mở, mặt khác vẫn duy trì các hình thức đánh giá trực tiếp, có kiểm soát như thi tại lớp hoặc kiểm tra vấn đáp, không dùng công cụ hỗ trợ, để đảm bảo năng lực thật của người học.
Cách tiếp cận này phản ánh quan điểm rõ ràng: AI có thể hỗ trợ quá trình học, nhưng không thể thay thế việc kiểm chứng năng lực cá nhân.