UBND TP Hà Nội vừa phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Đây là bản quy hoạch dài hạn nhất từ trước đến nay của thành phố, xác lập chiến lược phát triển đến năm 2085 và xa hơn, đồng thời định hình lại toàn bộ cấu trúc không gian, mô hình tăng trưởng, giao thông, dân cư, môi trường và kinh tế của Thủ đô trong nhiều thế hệ tới.
Quy hoạch được lập trên toàn bộ địa giới hành chính Hà Nội với diện tích hơn 3.359 km2, gồm 51 phường và 75 xã. Thành phố đồng thời mở rộng không gian nghiên cứu liên kết với Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình cùng vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du miền núi phía Bắc và các hành lang kinh tế quốc gia, quốc tế để hình thành cấu trúc “chùm đô thị hướng tâm”, trong đó Hà Nội đóng vai trò hạt nhân dẫn dắt toàn vùng.
Xây dựng Thủ đô “Văn hiến – Văn minh – Hiện đại – Hạnh phúc”
Quan điểm xuyên suốt của quy hoạch là lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực phát triển. Hà Nội xác định văn hóa là nền tảng cốt lõi của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, với hệ giá trị “Văn hiến – Bản sắc – Sáng tạo”.
Thành phố đặt mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững, gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quy hoạch không chỉ tập trung mở rộng đô thị, mà hướng tới tái cấu trúc toàn bộ mô hình phát triển của Hà Nội theo hướng hiện đại, thông minh và cân bằng hơn.
Theo lộ trình đặt ra, đến năm 2035 Hà Nội sẽ là đô thị xanh, thông minh, hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực. Đến năm 2045, Thủ đô trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của châu Á – Thái Bình Dương. Đến năm 2065, Hà Nội hướng tới vị thế thành phố toàn cầu với chất lượng sống cao, thuộc nhóm các thủ đô hạnh phúc hàng đầu thế giới. Sau năm 2085, thành phố được định vị là siêu đô thị “Thịnh vượng – Hài hòa – Văn hiến – Bản sắc”, kết nối toàn cầu trên nền tảng giá trị nghìn năm.
Dân số tối đa không quá 20 triệu người
Quy hoạch dự báo dân số Hà Nội đạt khoảng 14-15 triệu người vào năm 2035, khoảng 15-16 triệu người năm 2045 và khoảng 17-19 triệu người năm 2065. Giai đoạn dài hạn sau đó, thành phố giữ ổn định quy mô dân số, khống chế tối đa không quá 20 triệu người.
Đi cùng dân số là mục tiêu tăng mạnh quy mô kinh tế. Hà Nội đặt mục tiêu GRDP giai đoạn 2026-2035 tăng trên 11%/năm, quy mô nền kinh tế đạt khoảng 200 tỷ USD vào năm 2035, GRDP bình quân đầu người đạt tối thiểu 18.800 USD. Đến năm 2045, GRDP dự kiến đạt khoảng 640 tỷ USD, GRDP đầu người tối thiểu 42.000 USD. Đến năm 2065, quy mô kinh tế hướng tới khoảng 1.920 tỷ USD, GRDP đầu người tối thiểu 95.000 USD. Sau năm 2085, GRDP đầu người được định hướng đạt tối thiểu 200.000 USD.
Bên cạnh các chỉ tiêu kinh tế, quy hoạch còn đưa ra mục tiêu xã hội rất cụ thể như tuổi thọ trung bình khoảng 79-80 tuổi, số năm sống khỏe từ 70-72 năm, chỉ số hạnh phúc đạt 9,2-9,5/10 và thuộc nhóm các thủ đô hạnh phúc nhất thế giới vào năm 2065.
Đô thị đa tầng – đa lớp
Điểm đột phá lớn nhất của quy hoạch là mô hình đô thị “đa tầng – đa lớp”. Thay vì chỉ mở rộng theo chiều ngang, Hà Nội chuyển sang khai thác không gian theo chiều đứng và tích hợp nhiều giá trị trong cùng một không gian đô thị. Không gian đô thị được chia thành ba lớp lớn gồm ngầm, mặt đất và trên cao.
Dưới lòng đất, thành phố quy hoạch các tầng không gian riêng biệt. Tầng nông từ mặt đất đến độ sâu 15 m ưu tiên cho thương mại, hành lang đi bộ ngầm, bãi đỗ xe và hạ tầng kỹ thuật. Tầng trung từ 15-30 m bố trí đường sắt đô thị, kho bãi ngầm, hào kỹ thuật và công trình phòng tránh thiên tai. Tầng cận sâu từ 30-50 m dành cho hạ tầng chiến lược, hệ thống trữ nước ngầm và công trình quốc phòng, an ninh. Tầng sâu dưới 50 m được bảo vệ nghiêm ngặt làm không gian dự trữ lâu dài.
Hà Nội đặt mục tiêu tỷ lệ xây dựng không gian ngầm khu vực trung tâm đạt trên 20% vào năm 2045 và khoảng 40% vào năm 2065. Điều này cho thấy đô thị tương lai không chỉ phát triển trên mặt đất mà sẽ mở rộng mạnh xuống lòng đất, tương tự các siêu đô thị lớn trên thế giới.
Trên mặt đất, quy hoạch ưu tiên không gian cho con người, cây xanh, mặt nước và bảo tồn di sản. Trong khi đó, không gian trên cao hướng tới phát triển các tổ hợp cao tầng gắn với giao thông công cộng, cầu đi bộ trên cao và “kinh tế tầm thấp” như taxi bay, drone, logistics trên không, giám sát đô thị thông minh.
Trong cấu trúc “đa lớp”, Hà Nội xác định 4 lớp giá trị cùng tồn tại gồm di sản – văn hóa, sinh thái – tự nhiên, xã hội – cộng đồng và kinh tế – hạ tầng số. Nghĩa là mỗi không gian đô thị phải đồng thời phục vụ bảo tồn lịch sử, nâng chất lượng sống, phát triển kinh tế và vận hành bằng công nghệ số.
Một trong những thay đổi lớn nhất của quy hoạch là đưa sông Hồng trở thành trục không gian xanh trung tâm và động lực phát triển mới của Hà Nội.
Nhiều thập kỷ qua, Hà Nội chưa chú trọng các dòng sông. Trong quy hoạch mới, sông Hồng được xác định là trục cảnh quan sinh thái – văn hóa chủ đạo, đồng thời là trung tâm tài chính, thương mại, du lịch và dịch vụ trong tương lai.
Thành phố dự kiến phát triển trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, kết nối hàng loạt cực tăng trưởng hai bên bờ sông, mở rộng không gian đô thị về phía Đông và phía Bắc. Các không gian ven sông sẽ được tổ chức lại theo hướng tăng công viên, quảng trường, dịch vụ văn hóa, du lịch và giao thông dọc sông.
Không chỉ với sông Hồng, quy hoạch còn đặt mục tiêu hồi sinh hàng loạt dòng sông nội đô như Tô Lịch, Nhuệ, Đáy, Tích, Cầu Bây. Thành phố sẽ xây hồ điều hòa, bể ngầm trữ nước, hệ thống xử lý nước thải, công trình tiêu thoát nước và nghiên cứu đập dâng để giải quyết ô nhiễm và úng ngập.
6 vùng đô thị và 9 cực tăng trưởng
Quy hoạch xác lập mô hình “chùm đô thị hướng tâm”, trong đó Hà Nội là đô thị trung tâm hạt nhân, còn các tỉnh xung quanh là hệ thống đô thị vệ tinh và đối trọng để chia sẻ áp lực dân số, hạ tầng và dịch vụ.
Phía Bắc gắn với Thái Nguyên, Sông Công, Phổ Yên, phát triển y tế, giáo dục và công nghiệp công nghệ cao. Phía Đông Bắc gồm Bắc Ninh, Từ Sơn, Thuận Thành phát triển công nghiệp – dịch vụ và logistics. Phía Đông Nam với Văn Giang, Hưng Yên hình thành chuỗi đô thị sinh thái, dịch vụ cao cấp. Phía Nam với Duy Tiên, Phủ Lý trở thành trung tâm y tế và giáo dục cửa ngõ phía Nam. Phía Tây gồm Vĩnh Yên, Phúc Yên, Việt Trì phát triển nghỉ dưỡng, công nghiệp sạch và du lịch văn hóa. Phía Đông kết nối Hải Dương, Chí Linh để mở hành lang ra biển.
Cực trung tâm giữ vai trò văn hóa, lịch sử, chính trị, tài chính và hành chính cốt lõi. Cực phía Bắc gắn với Nội Bài, logistics và khu thương mại tự do. Cực phía Đông phát triển logistics và dịch vụ theo hành lang Hà Nội – Hải Phòng. Cực phía Nam gắn với công nghiệp, logistics, sân bay thứ hai và đường sắt tốc độ cao. Cực Hòa Lạc trở thành trung tâm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Cực Sơn Tây – Ba Vì phát triển du lịch nghỉ dưỡng, văn hóa và sinh thái. Đặc biệt, cực sông Hồng được xác định là không gian cảnh quan đặc biệt và động lực phát triển mới của Thủ đô.
Giao thông và hạ tầng mở rộng không gian đô thị
Quy hoạch xác định giao thông là công cụ dẫn dắt phát triển đô thị. Hà Nội đặt mục tiêu cơ bản xử lý dứt điểm các điểm ùn tắc kéo dài trước năm 2030; phát triển giao thông công cộng khối lượng lớn, mở rộng các tuyến dọc sông và kết nối liên vùng.
Các tuyến vành đai 4, 4.5, 5 được định hướng trở thành trục phát triển kinh tế và đô thị mới. Hệ thống đường sắt đô thị và đường sắt liên vùng sẽ trở thành khung vận tải chính để mở rộng không gian đô thị và giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân.
Hà Nội cũng quy hoạch sân bay thứ hai phía Nam bên cạnh Nội Bài, đồng thời phát triển mô hình đô thị sân bay, trung tâm logistics, cảng cạn và khu thương mại tự do.
Kinh tế số, taxi bay và kinh tế bạc
Bên cạnh các ngành truyền thống, Hà Nội định hướng phát triển mạnh các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế bạc và kinh tế không gian tầm thấp.
Kinh tế không gian tầm thấp khai thác khoảng không dưới 3.000 m cho taxi bay, drone, vận chuyển y tế, logistics và giám sát hạ tầng. Thành phố hướng tới trở thành trung tâm nghiên cứu và sản xuất công nghệ không gian tầm thấp của cả nước, lấy Khu Công nghệ cao Hòa Lạc làm hạt nhân.
Trong khi đó, kinh tế bạc tập trung phát triển dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, du lịch và dịch vụ cộng đồng cho người cao tuổi, đón đầu xu hướng già hóa dân số trong tương lai.
Cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn dài 88km, trong đó đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi dài hơn 60km, phần còn lại đi qua tỉnh Gia Lai. Trên tuyến có 3 hầm xuyên núi, 77 cầu, 586 cống, 81 hầm chui dân sinh.
Trong đó, hầm Bình Đê dài 3,2km - dài nhất trên tuyến cao tốc Bắc - Nam và lớn thứ 3 cả nước sau hầm Hải Vân, hầm Đèo Cả. Dự án do Ban quản lý dự án 2 (Bộ Xây dựng) làm chủ đầu tư.
Dự án được khánh thành, thông xe kỹ thuật từ ngày 19/12/2025. Tuy nhiên đến ngày 25/4, đoạn cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn vẫn chưa thông xe.
Đại diện đơn vị vận hành cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn thông tin nhân sự, phương tiện phục vụ vận hành cao tốc đã được chuẩn bị sẵn sàng. Đặc biệt là việc vận hành hầm Bình Đê được chuẩn bị rất kỹ càng. Hiện đơn vị này vẫn chờ quyết định đưa cao tốc đi vào hoạt động chính thức từ chủ đầu tư dự án.
Phóng viên Dân trí đã nhiều lần liên hệ với đại diện chủ đầu tư dự án để tìm hiểu thông tin về việc đưa cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn đi vào vận hành nhưng chưa nhận được phản hồi.
Cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn đấu nối với cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi tại km1050+400 (xã Nghĩa Giang, Quảng Ngãi). Do cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn chưa thể thông xe, nên tài xế đi trên cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi hướng Bắc - Nam phải theo lối ra cuối tuyến rồi đi thêm 10km để vào quốc lộ 1A.
Trong khi đó, ở hướng Nam - Bắc, do một số dự án thành phần của cao tốc Bắc - Nam cũng chưa thông xe nên tài xế phải di chuyển hàng trăm km mới có thể vào cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi.
Trước đó, cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn đã nhiều lần “lỡ hẹn” với người tham gia giao thông. Đầu tháng 2, chủ đầu tư dự án phát thông báo về việc đưa cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn vào khai thác để giảm tải cho quốc lộ 1A trong dịp Tết. Theo kế hoạch, cao tốc này được đưa vào khai thác lúc 11h ngày 12/2. Sau đó, chủ đầu tư lại quyết định tạm dừng khai thác cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn.
Thời điểm đó, chủ đầu tư cho rằng qua kiểm tra thực tế và đánh giá năng lực vận hành, đơn vị quản lý nhận thấy xuất hiện các tình huống chưa đảm bảo an toàn tuyệt đối, đặc biệt là công tác xử lý sự cố phát sinh trên cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn. Do đó, đơn vị này quyết định tạm dừng khai thác cao tốc đến khi giải quyết dứt điểm các vấn đề phát sinh.
Đầu tháng 3, Thủ tướng đã yêu cầu Bộ Xây dựng chỉ đạo chủ đầu tư và cơ quan liên quan huy động tối đa nguồn lực, khẩn trương hoàn thiện các thủ tục nghiệm thu để đưa dự án vào khai thác trước ngày 10/3.
Thông tin được nêu trong quyết định công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025 do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành ngày 31/3. Theo đó, tổng diện tích rừng cả nước đạt hơn 14,91 triệu ha, gồm khoảng 10 triệu ha rừng tự nhiên.
Trong 34 tỉnh, thành, Lâm Đồng đứng đầu với hơn 1,12 triệu ha rừng, gồm hơn 930.100 ha rừng tự nhiên và gần 199.000 ha rừng trồng, tỷ lệ che phủ đạt hơn 45,9%.
Hai địa phương khác có diện tích rừng trên 1 triệu ha là Nghệ An (hơn 1,06 triệu ha) và Gia Lai (hơn 1,03 triệu ha), với tỷ lệ che phủ lần lượt hơn 59,4% và hơn 45,9%.
Xét về độ che phủ, Lạng Sơn dẫn đầu cả nước với hơn 64,3%, cao hơn đáng kể so với mức trung bình. Các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lào Cai và Quảng Trị cũng có tỷ lệ che phủ trên 60%.
Rừng tập trung chủ yếu tại khu vực Bắc Trung Bộ, Trung du và miền núi phía Bắc - nơi có địa hình đồi núi, mật độ dân cư thấp và hệ sinh thái đa dạng. Ngược lại, các vùng đồng bằng và khu vực đô thị hóa cao có tỷ lệ che phủ rừng thấp hơn.
Sau khi công bố, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm được giao xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu theo dõi diễn biến rừng trên phạm vi toàn quốc. Tại địa phương, chính quyền cấp tỉnh sẽ giao cấp xã quản lý, cập nhật số liệu phục vụ công tác điều hành và phát triển kinh tế - xã hội.
Các địa phương có diện tích rừng tự nhiên giảm trong năm 2025 phải rà soát, xác định nguyên nhân và xử lý trách nhiệm liên quan.
Sinh ra trong một gia đình Khmer giàu truyền thống cách mạng ở xã Thạnh Lộc, tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang), tuổi thơ của đại đức Danh Út trải qua nhiều vất vả. Khi chưa tròn 1 tuổi, ông mất cha, người mẹ một mình gồng gánh nuôi 8 anh em trong nghèo khó. Tuổi thơ cơ cực đã hun đúc trong ông ý chí vượt lên nghịch cảnh để sống tốt, có ích vì cộng đồng.
Năm 12 tuổi, ông được gia đình xin vào chùa Thôn Dôn để có chỗ nương thân và học hành. Môi trường tu học trong chùa, với sự dìu dắt của các vị sư và tinh thần hiếu học nơi đây đã mở ra cho ông một hướng đi khác. "Ngày xưa nhà nghèo, không có điều kiện học hành đầy đủ. Khi vào chùa, được tạo điều kiện đến trường, tôi mới nhận ra rằng chỉ có học mới giúp được cho đạo và cho đời", đại đức Danh Út tâm sự.
Trong 15 năm miệt mài, ông lần lượt hoàn thành cử nhân xã hội học (năm 2010), cử nhân Việt Nam học (năm 2012), rồi tiếp tục học thạc sĩ chuyên ngành văn hóa Khmer Nam bộ. Năm 2022, ở tuổi 40, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành văn hóa học tại Trường Ngôn ngữ - Văn hóa - Nghệ thuật Khmer Nam bộ và Nhân văn (ĐH Trà Vinh). Cột mốc ấy không chỉ là niềm tự hào của riêng ông, mà còn là biểu tượng cho tinh thần hiếu học, khát vọng vươn lên của đồng bào Khmer trong thời kỳ hội nhập.
Đại đức Danh Út xem việc học là "chìa khóa" để thay đổi cộng đồng. Vì vậy, tại chùa Thôn Dôn, phong trào học tập được duy trì với nhiều lớp từ chương trình phổ thông, cho đến lớp song ngữ Việt - Khmer, lớp Pali, Vini, dạy chữ Khmer và nhạc ngũ âm truyền thống. Ở các lớp học này, không chỉ có sư sãi mà cả con em phật tử trong vùng cũng được khuyến khích đến học. Những lớp học giản dị ở cửa chùa trở thành nơi ươm mầm tri thức cho nhiều thế hệ. "Muốn giúp đồng bào Khmer phát triển kinh tế thì trước hết phải thay đổi nhận thức. Muốn thay đổi nhận thức thì phải bắt đầu từ giáo dục", đại đức Danh Út chia sẻ.
Ngoài việc giảng dạy, ông còn trực tiếp vận động từng gia đình cho con em đến trường, học nghề, tiếp cận kiến thức mới. Nhiều gia đình trước đây còn e dè chuyện học hành, nay đã chủ động cho con theo học dài hạn. Nhiều đệ tử của đại đức Danh Út và con em đồng bào dân tộc Khmer đã có bằng cao đẳng, đại học.
Nếu con đường học vấn giúp đại đức Danh Út lan tỏa tri thức, thì những cây cầu giao thông nông thôn là minh chứng rõ nét nhất cho tấm lòng vì cộng đồng của ông.
Thấu hiểu cảnh đi lại khó khăn của bà con nông thôn, nơi những chuyến đò ngang tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt vào mùa mưa, đại đức Danh Út cùng Hội Từ thiện chùa Thôn Dôn vận động nhà hảo tâm xây dựng, sửa chữa nhiều cây cầu, con đường bê tông. Điểm đặc biệt là các cây cầu này không chỉ phục vụ giao thông mà trên mỗi cầu đều được trang trí các biểu tượng như rắn thần Naga, pháp luân hay hình ảnh chư thiên khá tinh xảo, đẹp mắt - những họa tiết gắn liền với Phật giáo Nam tông Khmer và bản sắc văn hóa đồng bào Khmer. Ông đã biến mỗi công trình dân sinh thành một "tác phẩm văn hóa", vừa tiện ích, vừa góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc.
Không hiếm những buổi sáng sớm hay chiều muộn, người dân thấy trụ trì Danh Út cùng các vị sư trẻ và phật tử trực tiếp tham gia thi công, từ trộn hồ đến đổ khuôn, chạm khắc hoa văn. Hình ảnh ấy tạo nên sự gần gũi, lan tỏa tinh thần gắn kết cộng đồng.
Tại xã Thạnh Lộc, đại đức Danh Út và Hội Từ thiện chùa Thôn Dôn đã giúp xây dựng gần 10 cây cầu nông thôn tải trọng lớn, như các cầu Tà Ben (450 triệu đồng), Cựa Gà (350 triệu đồng), Kinh 5 (350 triệu đồng) hoặc cầu số 9 (450 triệu đồng)... góp phần giúp người dân đi lại thuận tiện và thay đổi diện mạo nông thôn rõ rệt.
Đại đức Danh Út chia sẻ mỗi cây cầu được hoàn thành sẽ nối thêm niềm vui ở đôi bờ, mở ra cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân. Cho nên khi phật tử hoặc chính quyền địa phương thông tin là ông đi đến nơi có cầu xuống cấp, hoặc chưa có cầu kiên cố để khảo sát và gặp chính quyền trao đổi, thống nhất phương án thực hiện. Nhờ có uy tín và luôn công khai minh bạch kinh phí nên nhà hảo tâm sẵn sàng đóng góp chi phí xây cây cầu ở nhiều nơi. Tính đến nay, ông đã góp sức xây dựng hơn 100 cây cầu nông thôn, góp phần thay đổi diện mạo sông nước miền Tây.
"Tuổi thơ gắn liền với những chuyến đi xuồng, lội bộ hàng cây số mới tới trường nên tôi luôn tâm nguyện làm sao để con em quê hương không còn phải đối mặt với khó khăn tương tự. Mỗi cây cầu xây dựng không chỉ nối liền những con đường mà còn mở ra cơ hội đến trường an toàn cho học sinh và góp phần giúp địa phương xây dựng nông thôn mới. Tôi mong muốn làm càng nhiều cầu bê tông càng tốt", đại đức Danh Út nói.
Không dừng lại ở việc xây cầu, đại đức Danh Út còn tích cực thực hiện các hoạt động mang lại lợi ích cho cộng đồng. Ông đã vận động xây hàng chục căn nhà cho người nghèo khó khăn về nhà ở; trùng tu nhiều chùa Khmer trong khu vực và tặng nhiều hệ thống lọc nước phục vụ nước sạch cho bà con các khu vực vùng sâu vùng xa, biên giới. Ngoài ra, ông và Hội Từ thiện chùa Thôn Dôn xây dựng phòng khám bệnh y học cổ truyền phục vụ miễn phí cho người dân; xây dựng lò hỏa táng từ thiện tại chùa và cấp quan tài miễn phí cho người dân khó khăn qua đời.
Từ một cậu bé mồ côi đến khi thành tiến sĩ, hành trình vượt khó của đại đức Danh Út đã tạo động lực mạnh mẽ cho cộng đồng. Tại chùa Thôn Dôn, ông lặng lẽ làm một "nhịp cầu" nối giữa đạo và đời, giữa tri thức và lòng nhân ái để mang lại những giá trị tốt đẹp cho xã hội.
"Mỗi khi thấy cây cầu mới hoàn thành hoặc trường hợp khó khăn nào đó được mình giúp bớt khó khăn trong cuộc sống, cảm giác trong lòng rất vui. Đó là động lực để tôi tiếp tục hành trình làm việc ý nghĩa cho xã hội, giúp đồng bào dân tộc Khmer và mọi người có thêm điều kiện sống tốt hơn, có điều kiện vươn lên", đại đức Danh Út cho biết.