Thiếu niên 15 tuổi thách thức lệnh cấm mạng xã hội
Kể từ cuối năm 2025, Australia trở thành quốc gia tiên phong khi cấm người dưới 16 tuổi sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến.
“Các hạn chế nhằm bảo vệ thanh thiếu niên khỏi áp lực và rủi ro, những vấn đề có thể xảy ra khi họ đăng nhập mạng xã hội”, bà Julie Inman Grant, Ủy viên An toàn điện tử của Australia chia sẻ.
Dẫu vậy, trường hợp của Noah Jones, thiếu niên 15 tuổi tại Australia gây chú ý khi khẳng định trải nghiệm trực tiếp của mình “gần như không thay đổi”.
“Tôi chỉ gặp một chút bất tiện trên Instagram nhưng sau đó đã vượt qua được”, Noah nói.
Cậu cho biết bản thân chưa bị xóa tài khoản khỏi bất kỳ nền tảng mạng xã hội nào kể từ khi chính sách có hiệu lực vào cuối năm ngoái.
Đáng chú ý, Noah là một trong hai thiếu niên tham gia vào vụ kiện lên Tòa án Tối cao vào cuối năm nay nhằm phản đối lệnh cấm.
Thiếu niên này thừa nhận mạng xã hội có những mặt trái như bắt nạt trực tuyến hay nội dung nhạy cảm. Nhưng cậu khẳng định rằng với thế hệ trẻ hiện nay, mạng xã hội là nguồn tiếp nhận thông tin chính thay vì qua truyền hình, báo chí.
Mẹ của Noah nêu quan điểm: “Việc nuôi dạy con cái sử dụng không gian mạng như thế nào là quyền của tôi”. Thay vì cấm đoán con, bà chọn cách đặt ra những nguyên tắc nghiêm ngặt trong việc sử dụng thiết bị điện tử, chẳng hạn như cất điện thoại vào ban đêm hay kiểm soát mật khẩu thiết bị.
Không chỉ trường hợp của Noah, báo cáo của cơ quan An toàn Điện tử Australia vào tháng 3/2026 cho thấy dù hơn 5 triệu tài khoản đã bị vô hiệu hóa sau khi lệnh cấm có hiệu lực, hơn hai phần ba thanh thiếu niên dưới 16 tuổi vẫn tiếp tục sử dụng các nền tảng mạng xã hội như TikTok, Instagram hay Snapchat bằng nhiều cách lách xác minh độ tuổi.
Muôn kiểu lách luật
Ghi nhận của Đài CNN chỉ ra rằng chỉ chưa đầy 24 giờ sau khi lệnh cấm tại Australia có hiệu lực vào tháng 12 năm ngoái, nhiều thiếu niên đã quay trở lại TikTok, Instagram hay Snapchat bằng tài khoản mới.
Một số dùng ảnh AI giả gương mặt người lớn để vượt hệ thống xác minh tuổi. Thậm chí, một số khác dùng chính gương mặt của bố mẹ hoặc người lớn tuổi hơn để vượt qua bộ lọc kiểm tra. Trên Reddit, một số người dùng còn gợi ý mua mặt nạ lưới in 3D để đánh lừa công cụ nhận diện khuôn mặt.
Vào đầu tháng 5 vừa qua, nghiên cứu của các nhà khoa học tại Đại học Melbourne và Lund mang đến những kết quả bất ngờ.
Nhóm tác giả đã tiến hành phỏng vấn 15 trẻ em từ 12-16 tuổi sau khi lệnh cấm có hiệu lực và phát hiện phần lớn các em đều cho rằng quy định thiếu hiệu quả, đồng thời dễ dàng tìm ra nhiều cách để vượt qua hệ thống xác minh độ tuổi. Cụ thể, nhiều em chia sẻ rằng thường khai báo ngày sinh giả hoặc mượn tài khoản, giấy tờ của người lớn tuổi hơn như bố mẹ, anh chị.
Khi bị khóa tài khoản, các em lại tiếp tục tạo tài khoản mới. Tinh vi hơn, để đánh lừa AI nhận diện khuôn mặt, một số trẻ nhờ người lớn quét khuôn mặt hộ, dùng video khuôn mặt trên YouTube để xác minh hoặc trang điểm, dùng ánh sáng tối, đeo râu giả để trông bản thân già hơn.
Từ thực tế này, khái niệm “sneaking” hình thành. Đây là thuật ngữ được nhóm nghiên cứu sử dụng để mô tả việc trẻ em âm thầm thử nghiệm, khai thác lỗ hổng và tìm cách lách các cơ chế kiểm soát kỹ thuật số.
Tương tự, một nghiên cứu khác của các nhà khoa học tại các trường đại học khác nhau vừa công bố hồi cuối tháng 4 đã khảo sát hơn 700 thiếu niên Australia sau 4 tháng nước này áp dụng lệnh cấm mạng xã hội.
Kết quả chỉ ra rằng phần lớn trẻ em vẫn dễ dàng lách luật bằng cách dùng ngày sinh giả, tài khoản của người lớn tuổi hơn hoặc dùng VPN để tiếp tục truy cập. Đặc biệt, có tới 75% người tham gia khảo sát khẳng định việc vượt qua lệnh cấm là dễ.
Ngoài những cách thức trên, nhiều thiếu niên bắt đầu chuyển sang các ứng dụng khác như Lemon8, Yope, Coverstar hay WhatsApp. Trong đó, Lemon8, một ứng dụng thuộc Tập đoàn công nghệ ByteDance (Trung Quốc) từng có thời điểm vươn lên dẫn đầu về lượt tải xuống trên App Store tại Australia.
Một số ý kiến cho rằng các dịch vụ nhắn tin, nền tảng trò chơi, ứng dụng không phổ biến sẽ chứng kiến mức tăng trưởng đột biến khi trẻ em bị đẩy khỏi các nền tảng thuộc danh sách cấm.
Mặc dù vậy, bà Ellese Ferdinands, giảng viên Trường Đại học Sydney nhận định: “Sự trỗi dậy của các ứng dụng ít phổ biến đã phản ánh những lỗ hổng trong lệnh cấm của Chính phủ Australia”.
Vị giảng viên này đặt vấn đề rằng những nền tảng như TikTok hay Instagram đang chịu giám sát chặt chẽ từ cơ quan quản lý, trong khi các nền tảng kém phổ biến hơn lại không có sự giám sát tương tự.
Trên thực tế, nguyên nhân khiến trẻ em tự tin lách luật bởi đây là đối tượng hoàn toàn không cảm thấy rủi ro cá nhân vì luật chủ yếu tập trung xử phạt các nền tảng nhiều hơn. Thêm vào đó, nỗi sợ bị bỏ lỡ các tương tác xã hội đã tạo động lực thúc đẩy các em tìm cách để lách luật nhằm theo kịp bạn bè.
Chia sẻ trên tờ The Guardian, Samantha Floreani, một nhà hoạt động về quyền kỹ thuật số tại Australia cho hay: “Nếu các nhà hoạch định chính sách thực sự muốn giảm thiểu tác hại đối với trẻ em trên môi trường mạng, họ nên tập trung kiểm soát những mô hình vận hành dựa trên quảng cáo hành vi, thu thập dữ liệu người dùng và thuật toán đề xuất nội dung”.
Cùng quan điểm với Samantha, OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) cho rằng các biện pháp kiểm soát truy cập mạng xã hội đối với trẻ em không thể giải quyết triệt để các rủi ro trên môi trường số nếu chỉ dừng ở việc giới hạn độ tuổi hay cấm truy cập.
Theo tổ chức này, điều quan trọng không kém là xây dựng các nền tảng an toàn ngay từ khâu thiết kế, kiểm soát cách vận hành của thuật toán, cơ chế đề xuất nội dung và tính năng tương tác.
Ở một góc nhìn khác đến từ nghiên cứu vào đầu năm 2026 của nhóm tác giả từ Đại học Manchester, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận mối quan hệ giữa thanh thiếu niên và mạng xã hội được định hình bởi nhiều yếu tố khác nhau.
Trong đó, nhóm nghiên cứu đề xuất những chính sách trao thêm quyền kiểm soát cho phụ huynh thông qua công cụ giám sát hoặc kiểm soát nội dung sẽ phù hợp với thực tế hơn bởi cha mẹ thường là những người hiểu rõ nhất mức độ trưởng thành, nhu cầu và khả năng tự quản lý của con mình.
Một số chuyên gia khác cũng đề xuất thay vì cấm đoán hoàn toàn, các quốc gia nên tập trung phát triển năng lực số, tăng minh bạch thuật toán, yêu cầu nền tảng thiết kế an toàn hơn cho trẻ và áp dụng các giới hạn phù hợp theo từng mức tuổi.
Tính đến tháng 4/2026, đã có tới 25 quốc gia trên thế giới đưa ra các đề xuất hoặc chính sách liên quan đến việc hạn chế trẻ em sử dụng mạng xã hội. Tuy nhiên, chỉ ba quốc gia gồm Australia, Brazil và Indonesia chính thức ban hành luật, trong khi phần lớn vẫn đang ở giai đoạn tham vấn hoặc xem xét chính sách.
Đáng chú ý nhất là trường hợp của Chính phủ Anh khi quốc gia này triển khai các thử nghiệm thực tế với thanh thiếu niên nhằm đánh giá tác động của việc hạn chế mạng xã hội thay vì lập tức áp dụng lệnh cấm trên diện rộng.
Các thử nghiệm bao gồm nhiều kịch bản như cấm hoàn toàn mạng xã hội, giới hạn thời gian sử dụng mỗi ngày hoặc áp dụng “giới nghiêm kỹ thuật số” vào ban đêm để theo dõi ảnh hưởng tới giấc ngủ, sức khỏe tinh thần và hành vi của trẻ.
Ngày 13-5, tại lễ công bố quyết định về công tác tổ chức, cán bộ Tổng công ty GTEL, lãnh đạo Cục Tổ chức cán bộ (Bộ Công an) đã công bố quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an chuyển nguyên trạng Tổng công ty GTEL thuộc Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05) về trực thuộc Bộ Công an.
Đồng thời Bộ trưởng Bộ Công an cũng quyết định thành lập Đảng bộ Tổng công ty GTEL trực thuộc Đảng ủy Công an Trung ương.
Quyết định điều động, bổ nhiệm đại tá Lương Đức Minh, Phó cục trưởng Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, giữ chức Chủ tịch Tổng công ty GTEL.
Tổng công ty GTEL được thành lập năm 2007 trực thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật, Bộ Công an. Năm 2017 được chuyển giao nguyên trạng về Cục An ninh mạng (nay là Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao).
Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Lương Tam Quang đề nghị Tổng công ty GTEL khẩn trương ổn định tổ chức bộ máy; xây dựng và thực hiện bằng được chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; phấn đấu sớm trở thành hạt nhân Tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, doanh nghiệp đầu tàu phát triển công nghiệp an ninh...
Phát biểu nhận nhiệm vụ, thay mặt cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, người lao động Tổng công ty GTEL, đại tá Lương Đức Minh, Chủ tịch Tổng công ty GTEL, khẳng định tập thể lãnh đạo và cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, người lao động của Tổng công ty GTEL quyết tâm xây dựng tổng công ty ngày một vững mạnh, hoàn thành và vượt mức các nhiệm vụ được Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương giao.
Vào tháng 3, Liu Liehong, người đứng đầu Cơ quan Quản lý Dữ liệu Quốc gia Trung Quốc (NDA) công bố thuật ngữ Ciyuan cho token AI tại họp báo của Hội đồng Nhà nước Trung Quốc, đánh dấu lần đầu một quốc gia đặt tên "tiền tệ" riêng cho AI. Ông nhấn mạnh Ciyuan là "đơn vị thanh toán liên kết nguồn cung công nghệ với nhu cầu thương mại".
Token là đơn vị dữ liệu đầu vào cơ bản, gồm từ, một phần của từ, ký tự hoặc dấu câu mà mô hình AI xử lý để tạo ra đầu ra. Theo National Business Daily, lượng tiêu thụ token đang trở thành chỉ số quan trọng trong việc triển khai thực tế, đo lường tần suất mô hình AI được đưa vào ứng dụng.
Theo thống kê của NDA, tính đến tháng 4, Trung Quốc xử lý 140.000 tỷ token mỗi ngày, tăng từ 100 tỷ đầu năm 2024. AI của Trung Quốc vượt các mô hình của Mỹ trên OpenRouter, một thị trường phổ biến dành cho AI, cả về hiệu suất và mức độ ưa chuộng.
Giới đầu tư Trung Quốc hiện đổ xô vào cơn sốt AI. Riêng tại Hong Kong, số lượng doanh nghiệp ở lĩnh vực này thực hiện IPO cao nhất 5 năm qua, chủ yếu nhờ dòng chảy ổn định của các công ty khởi nghiệp như MiniMax và Zhipu AI, hay nhà thiết kế chip Biren.
"Chúng tôi tin Trung Quốc đang thắng lớn trong cuộc chiến công nghệ vì một số lý do: định giá, ứng dụng rộng rãi AI cùng lợi thế trong sản xuất điện năng", Mohit Kumar, chiến lược gia của ngân hàng đầu tư đa quốc gia Jefferies, nói với Fortune.
Giới quan sát đánh giá, mục tiêu Trung Quốc đang hướng đến là xây dựng một "nền kinh tế token" với sự hỗ trợ của AI nguồn mở phổ biến và đẩy mạnh ứng dụng AI trong thực tế. Dù vậy, họ cần vượt qua loạt yếu tố về chi phí nghiên cứu đắt đỏ, nguồn vốn lớn và cả những biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Mỹ.
Sự đón nhận
Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo được đánh giá đã "giải cứu" nhiều ông lớn công nghệ Trung Quốc khỏi loạt quy định kìm hãm phát triển trước đây. Chẳng hạn, Alibaba với mô hình Qwen nguồn mở được đầu tư nhiều năm đang trở thành lựa chọn hấp dẫn đối với những ai không có vốn hoặc không muốn chi nhiều tiền cho các sản phẩm độc quyền từ OpenAI và Anthropic. Không chỉ trong nước, Qwen đã chinh phục nhiều thị trường từ Đông Nam Á đến Trung Đông, thậm chí cả phương Tây khi mô hình mới nhất của Meta là Muse Spark cũng đào tạo một phần dựa trên Qwen.
Khác với Alibaba, ByteDance phần lớn giữ bí mật AI của mình. Theo SCMP, công ty tận dụng thế mạnh về thiết kế sản phẩm và trải nghiệm người dùng để thu hút khách hàng, trong đó chatbot Doubao là AI được sử dụng nhiều nhất ở Trung Quốc, với 100 triệu người dùng hoạt động hàng ngày tính đến tháng 2.
Tencent cũng giới thiệu ứng dụng nhắn tin tự động ClawBot vào tháng 3 và tích hợp sâu vào WeChat, cho phép hơn một tỷ người dùng hoạt động hàng tháng trên nền tảng này kết nối trực tiếp với OpenClaw và thực hiện các tác vụ thông qua giao diện nhắn tin. Ngoài ra, Xiaomi hay Meituan cũng có sản phẩm riêng và được đón nhận.
Các công ty khởi nghiệp AI Trung Quốc cũng bắt đầu tung ra sản phẩm ấn tượng. Giữa tháng 3, công ty Mỹ Anysphere ra Cursor Composer 2 với khả năng lập trình tiên tiến. Dù không giới thiệu, một số người sau đó phát hiện mô hình được xây dựng trên Kimi K2.5 mã nguồn mở từ Moonshot AI có trụ sở tại Bắc Kinh. Trên X, đồng sáng lập Cursor Lee Robinson sau đó thừa nhận "thiếu sót" khi không đề cập đến Kimi ngay từ đầu.
Knowledge Atlas (hay Zhipu AI, Z.ai) và MiniMax cũng mang đến cái nhìn hiếm hoi về các phòng thí nghiệm AI tiên phong Trung Quốc. MiniMax đạt doanh thu 79 triệu USD năm 2025, tăng 159% so với năm trước, trong đó 70% đến từ thị trường nước ngoài - tín hiệu cho thấy nhu cầu toàn cầu đối với các mô hình nền tảng của Trung Quốc. Zhipu đạt doanh thu 724 triệu nhân dân tệ (104,8 triệu USD) năm 2025, cao hơn 132% so với năm 2024. Dù những công ty như Knowledge Atlas hay MiniMax vẫn thua lỗ, giới đầu tư Trung Quốc không mấy bận tâm. Cổ phiếu của Zhipu tăng hơn 570% so với giá IPO, còn MiniMax đã tăng hơn 470%, thậm chí có lúc vượt cả giá trị vốn hóa thị trường của Baidu.
Có sẵn các mô hình AI, Trung Quốc cũng tận dụng hệ sinh thái công ty robot hình người để mang chúng ra môi trường vật lý. Unitree Robotics, Agibot hay UBTech đều tích hợp mô hình riêng tự phát triển, hoặc ứng dụng sản phẩm sẵn có do trong nước sản xuất.
Theo khảo sát hồi tháng 10 của Edelman, công ty tư vấn tiếp thị và quan hệ công chúng đa quốc gia lớn nhất thế giới, người dùng Trung Quốc cảm thấy thoải mái hơn nhiều với AI so với người dùng phương Tây, khi có tới 87% tin tưởng công nghệ này, cao hơn nhiều so với 32% ở Mỹ.
Ngành công nghiệp phim ngắn Trung Quốc là một ví dụ về sự thoải mái của người dùng với AI. Các nền tảng video nước này đã ra mắt khoảng 470 phim ngắn mới mỗi ngày trong tháng 1. Nhờ các công cụ AI, mỗi bộ phim chỉ tốn khoảng 100.000 nhân dân tệ (14.600 USD), bằng khoảng 10% chi phí truyền thống, trong khi thời gian sản xuất rút ngắn từ 15-30 ngày xuống còn dưới 5 ngày.
Người Trung Quốc cũng đón nhận trợ lý ảo AI nhiều hơn những quốc gia khác. Mới nhất, OpenClaw lập tức tạo cơn sốt, dù sau đó bị tuýt còi vì liên quan đến các nguy cơ bảo mật. Chính quyền nhiều địa phương đang đẩy mạnh thúc đẩy áp dụng AI, trong đó khuyến khích và cung cấp trợ cấp cho "công ty một người". Theo giới quan sát, cách tiếp cận này vừa mang tính thận trọng, thúc đẩy AI như một ưu tiên chiến lược, vừa chủ động ngăn ngừa một số rủi ro tiềm tàng.
Tuy nhiên, lợi thế chính sách quan trọng nhất liên quan đến năng lượng. Trung Quốc đã mở rộng mạnh mẽ năng lực sản xuất và truyền tải điện trong những năm gần đây. Goldman Sachs ước tính, Trung Quốc sẽ có khoảng 400 gigawatt công suất điện dự phòng đến năm 2030, gấp khoảng ba lần nhu cầu cho trung tâm dữ liệu toàn cầu.
Áp lực lợi nhuận
Các công ty AI của Trung Quốc được đánh giá vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là khi so sánh với những hãng phát triển trí tuệ nhân tạo hàng đầu của Mỹ. Các vấn đề chủ yếu liên quan đến tiếp cận chip AI tiên tiến do bị Mỹ cấm vận, cũng như hệ sinh thái vốn đầu tư mạo hiểm "mỏng" hơn so với Thung lũng Silicon.
Tuy nhiên, với hầu hết công ty AI trên toàn cầu, câu hỏi lớn nhất được đặt ra, là làm thế nào để biến các token thành lợi nhuận, hay theo cách gọi mới tại Trung Quốc là Ciyuan. Doanh nghiệp trí tuệ nhân tạo nước này cũng không ngoại lệ.
Alibaba đã chi 123 tỷ nhân dân tệ (17 tỷ USD) cho chi phí đầu tư vốn trong năm 2025, khiến lợi nhuận ròng giảm 66%, hay Tencent chi với 79 tỷ nhân dân tệ (11,6 tỷ USD). Một số doanh nghiệp như ByteDance ít chịu áp lực từ các cổ đông về lợi nhuận do là công ty tư nhân, nhưng cũng đã chi 23 tỷ USD cho cơ sở hạ tầng AI năm ngoái, theo FT.
Con số này vẫn nhỏ hơn nhiều so với các ông lớn Mỹ. Chẳng hạn, Alphabet (công ty mẹ của Google) chi 94 tỷ USD, hay Meta chi 75 tỷ USD năm ngoái, đồng thời dự định mạnh tay hơn nữa trong năm nay.
Theo giới quan sát, áp lực kiếm tiền có thể đang khiến một số công ty công nghệ Trung Quốc phải xem xét lại chiến lược của mình. Cả Alibaba và Zhipu đều đã phát hành một số mô hình mới nhất của họ dưới dạng đóng, ít nhất là ban đầu. Tháng trước, Alibaba đã tái cấu trúc toàn bộ hoạt động AI, hợp nhất năm đơn vị riêng biệt và đặt tên "Alibaba Token Hub" (ATH).
"Sứ mệnh duy nhất của ATH là tạo ra, phân phối và ứng dụng token", CEO Alibaba Eddie Wu cho biết trong họp báo công bố tháng trước.
Tại phiên khai mạc sự kiện Vietnam - Asia DX Summit 2026 diễn ra ngày 28/5, câu chuyện về AI đã dịch chuyển sang một khái niệm lớn hơn: “Agentic Enterprise”, tức doanh nghiệp tự vận hành với sự phối hợp giữa con người và tác nhân AI.
Trong phiên tham luận thuộc diễn đàn do Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA) tổ chức, ông Lê Hồng Quang, Tổng Giám đốc Tập đoàn MISA, cho rằng sự phát triển nhanh chóng của tác nhân AI đang mở ra cách vận hành doanh nghiệp hoàn toàn khác trước đây.
Nếu ở mô hình truyền thống, phần lớn hoạt động phụ thuộc vào thời gian và năng lực xử lý của con người thì trong mô hình mới, AI có thể tham gia trực tiếp vào nhiều khâu công việc như lập kế hoạch, xử lý tác vụ, phân tích dữ liệu hay phối hợp liên phòng ban.
“Doanh nghiệp không ngủ” là cách mà ông Quang mô tả về mô hình này, khi AI có thể xử lý công việc liên tục 24/7, không bị giới hạn bởi giờ hành chính, cuối tuần hay ngày nghỉ.
Theo ông Quang, khi kết hợp mô hình “Người + Máy”, năng lực của mỗi nhân sự có thể tăng lên đáng kể. Ông cho rằng một doanh nghiệp quy mô nhỏ nhưng ứng dụng AI sâu có thể đạt hiệu quả tương đương doanh nghiệp lớn vận hành theo cách truyền thống.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10% mỗi năm và nâng tỷ trọng kinh tế số lên khoảng 30% GDP vào năm 2030, AI được xem là một trong những công nghệ có thể tạo ra thay đổi lớn về năng suất lao động.
“Nếu mô hình Agentic Enterprise được áp dụng rộng rãi, Việt Nam có thể hình thành một lực lượng lao động mới với năng suất cao hơn nhiều lần. Từ đó, tạo ra lượng giá trị và của cải vật chất vượt trội, mở ra khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số”, ông Lê Hồng Quang nhận định.
Thời điểm hiện tại, nhiều doanh nghiệp trong nước đã bắt đầu thử nghiệm tác nhân AI vào vận hành thực tế.
Theo số liệu từ MISA, trong một số khâu phát triển sản phẩm, AI có thể hỗ trợ từ 70-100% khối lượng công việc như phân tích yêu cầu, lập trình hay kiểm thử. Nhờ đó, thời gian phát triển sản phẩm mới được rút ngắn từ vài tháng xuống còn khoảng 1-2 tháng.
Ở mảng chăm sóc khách hàng, tác nhân AI hiện xử lý khoảng 70% yêu cầu hỗ trợ, giúp số lượng yêu cầu được xử lý mỗi ngày tăng từ khoảng 6.000 lên hơn 18.000.
Trong các nghiệp vụ vận hành nội bộ, thời gian xử lý hồ sơ nhân sự được rút ngắn từ khoảng một giờ xuống còn vài phút, trong khi việc xử lý hóa đơn kế toán giảm từ nhiều giờ xuống còn khoảng 30 phút.
Tại sự kiện, vị Tổng Giám đốc MISA cũng kêu gọi các doanh nghiệp chủ động ứng dụng AI vào các nghiệp vụ cụ thể và bắt đầu từ những bài toán thực tế trong vận hành hằng ngày, hướng tới nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.