Con số này rất lớn vì cả nước chỉ có 1,1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Ngành thuế đang phát động chiến dịch “Làm sạch mã số thuế” nhằm đưa số liệu doanh nghiệp đang hoạt động về con số thực.
Thuế cơ sở 8 tỉnh Phú Thọ vừa thông báo sẽ tạm hoãn xuất cảnh với người đại diện pháp luật của Công ty TNHH Vương Duy do doanh nghiệp còn nợ 600 đồng tiền thuế tính đến ngày 6-4. Sau 30 ngày kể từ ngày thông báo (tức ngày 6-5), nếu chưa nộp đủ số nợ thuế này, người đại diện pháp luật doanh nghiệp có thể bị tạm hoãn xuất cảnh.
Tương tự, theo thông báo của Thuế cơ sở 5 tỉnh Quảng Ninh, Công ty TNHH xây dựng và thương mại Đông Á 75 còn nợ 82.800 đồng tiền thuế đã quá hạn 90 ngày, tính đến ngày 29-4. Nếu sau 30 ngày, doanh nghiệp không nộp đủ số tiền nói trên, giám đốc công ty là ông Lê Đức Nghiệp sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh.
Tại Cần Thơ, Thuế cơ sở 2 cũng thông báo sẽ tạm hoãn xuất cảnh với người đại diện pháp luật của Công ty TNHH thương mại dịch vụ Giàu Hưng Thịnh do doanh nghiệp nợ thuế 43.757 đồng đã quá hạn 90 ngày tính đến ngày 15-4.
Trên cổng thông tin của cơ quan thuế các địa phương, danh sách người nộp thuế bị thông báo tạm hoãn xuất cảnh kéo dài với nhiều trường hợp nợ từ vài trăm đồng đến hàng chục tỉ đồng. Điểm chung là hầu hết các khoản nợ đã quá hạn và người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, một công chức thuế phụ trách doanh nghiệp tại một tỉnh phía Bắc cho biết phần lớn chủ hộ kinh doanh, người đại diện pháp luật của doanh nghiệp bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh là do doanh nghiệp, hộ kinh doanh nợ thuế và không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký.
Theo quy định, trường hợp người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, có khoản nợ thuế quá hạn 90 ngày và sau 30 ngày kể từ khi được thông báo vẫn chưa khắc phục có thể bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh.
Trước khi áp dụng biện pháp này, cơ quan thuế gửi giấy mời doanh nghiệp lên làm việc, thông báo số nợ, thậm chí phối hợp với chính quyền địa phương xác minh doanh nghiệp và người đại diện pháp luật theo thông tin đăng ký kinh doanh.
“Có nhiều khoản nợ thuế nhưng kéo dài nhiều năm. Cơ quan thuế gửi thông báo nhưng không nhận được phản hồi. Chi phí in ấn, xác minh, gửi thông báo tốn rất nhiều thời gian và công sức mà vẫn không thu hồi được nợ do doanh nghiệp “biến mất” khỏi địa chỉ đăng ký”, vị này nói.
Theo Bộ Tài chính, cả nước có gần 1 triệu trường hợp nợ thuế nhưng không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, trong đó khoảng 496.000 trường hợp có số nợ dưới 1 triệu đồng. Do đó, tại dự thảo nghị định hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, Bộ Tài chính đề xuất chỉ áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh với trường hợp nợ thuế từ 1 triệu đồng trở lên.
Theo Cục Thuế, thời gian qua nhiều ý kiến cho rằng ngưỡng 1 triệu đồng là quá thấp, song đây thực chất là bước “nới lỏng” so với quy định hiện hành. “Việc bổ sung ngưỡng từ 1 triệu đồng nhằm loại trừ các khoản nợ rất nhỏ phát sinh do sai sót kỹ thuật, chậm cập nhật dữ liệu hoặc nguyên nhân khách quan”, Cục Thuế nêu.
Cơ quan này cũng cho rằng nếu tiếp tục áp dụng cơ chế không có ngưỡng như hiện nay, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh có thể ảnh hưởng tới số lượng lớn người nộp thuế vì các khoản nợ rất nhỏ, trong khi hiệu quả thu hồi ngân sách không tương xứng.
Tuy nhiên, điều khiến nhiều người nộp thuế lo ngại là tình trạng dữ liệu cập nhật chậm. Thực tế đã có trường hợp người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ, được cơ quan thuế ra thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh nhưng khi ra sân bay vẫn chưa thể xuất cảnh do dữ liệu chưa kịp cập nhật.
Cục Thuế cho biết biện pháp tạm hoãn xuất cảnh không được áp dụng ngay khi phát sinh nợ thuế. Người nộp thuế phải thuộc diện không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký, đã được cơ quan thuế gửi thông báo và quá 30 ngày vẫn chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế thì mới bị xem xét áp dụng.
Thông báo sẽ được gửi qua tài khoản giao dịch thuế điện tử của người nộp thuế hoặc cá nhân liên quan, đồng thời công khai trên cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế. Quy định này nhằm giúp người nộp thuế chủ động khắc phục trước khi có kế hoạch xuất cảnh, tránh tình trạng đến cửa khẩu hoặc sân bay mới biết mình bị tạm hoãn xuất cảnh do nợ thuế.
“Khoảng thời gian 30 ngày là hợp lý để người nộp thuế kiểm tra, đối chiếu số nợ, nộp tiền thuế hoặc liên hệ cơ quan thuế xử lý sai sót dữ liệu nếu có”, Cục Thuế nhận định và cho biết đã có khoảng 7.100 người nộp thuế chủ động hoàn thành nghĩa vụ để được hủy bỏ biện pháp tạm hoãn xuất cảnh.
Tuy nhiên, một công chức thuế phụ trách doanh nghiệp cho biết mỗi cán bộ hiện quản lý hàng trăm đơn vị nên việc cập nhật đôi khi chưa thể thực hiện ngay lập tức. “Khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ, cơ quan thuế nắm được sẽ lập tức gửi thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh lên hệ thống điện tử của Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an)”, vị này nói.
Ngành thuế vừa phát động chiến dịch làm sạch dữ liệu nhằm loại bỏ số doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã “chết nhưng chưa được chôn”, doanh nghiệp “ma”, doanh nghiệp bỏ trốn. Theo thống kê, có gần 1 triệu doanh nghiệp, hộ kinh doanh nằm trong danh sách này. Trong đó, nhiều doanh nghiệp đang có nợ thuế, với món nợ chỉ vài đồng.
Theo một lãnh đạo Cục Thuế, việc làm sạch dữ liệu này nhằm chuẩn hóa và giảm thiểu số lượng người nộp thuế ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc bỏ địa chỉ đã đăng ký kinh doanh.
Những năm qua, số lượng lũy kế doanh nghiệp, tổ chức, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế tiếp tục gia tăng. Chưa kể tình trạng người nộp thuế bỏ địa chỉ kinh doanh để trốn tránh nghĩa vụ thuế diễn ra ở nhiều địa bàn, ngành nghề kinh doanh.
“Đây là một trong những điểm nghẽn lớn trong công tác quản lý thuế, làm gia tăng hồ sơ tồn đọng, kéo dài thời gian xử lý thủ tục hành chính, đồng thời gây lãng phí nguồn lực xã hội và ảnh hưởng đến tính minh bạch của môi trường kinh doanh”, vị này nói.
Bên cạnh đó, việc tồn tại danh sách này còn tác động trực tiếp đến người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật và tiềm ẩn rủi ro thất thu ngân sách nhà nước, làm phát sinh nhiều rủi ro pháp lý đối với chủ doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật, chủ hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh khi không thực hiện hoặc chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế theo quy định.
“Thực tiễn quản lý cho thấy một bộ phận đối tượng đã lợi dụng sự thông thoáng của thủ tục thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh để thành lập pháp nhân không phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thực chất. Lợi dụng sử dụng hóa đơn không hợp pháp để hợp thức hóa chi phí, trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, kỷ cương quản lý nhà nước, môi trường đầu tư, kinh doanh và hiệu lực quản lý thuế”, vị này nhấn mạnh.
Do vậy, theo Cục Thuế, việc triển khai “Chiến dịch làm sạch mã số thuế – Tháo gỡ điếm nghẽn trong kinh doanh” trong toàn ngành thuế là cần thiết, cấp bách, nhằm xử lý thực chất hồ sơ tồn đọng, tháo gỡ khó khăn cho người nộp thế có thiện chí tuân thủ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ, kiểm soát rủi ro ngay từ đầu vào.
“Chiến dịch này cũng đồng thời tạo chuyển biến rõ nét trong quản trị dữ liệu, quản lý rủi ro và phối hợp liên ngành trong công tác quản lý thuế hiện đại”, Cục Thuế khẳng định.
Kết thúc tuần giao dịch từ ngày 29/6 đến hết ngày 4/7, giá vàng miếng SJC được niêm yết ở mức 148,4-151,4 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Trước đó, giá vàng mở cửa tuần được niêm yết ở mức 145-148 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).
Sau đó, chỉ trong 3 phiên đầu tuần này, giá vàng miếng đã liên tục lao dốc và mất hơn 2 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, nhờ 2 phiên phục hồi mạnh cuối tuần, giá vàng miếng đã lấy lại toàn bộ mức giảm kể từ đầu tuần. Mặc dù vậy, do các doanh nghiệp vẫn duy trì chênh lệch giá mua - bán ở mức 3 triệu đồng/lượng, người mua vàng từ đầu tuần đến nay chỉ lãi 400.000 đồng/lượng.
Trong khi đó, giá vàng thế giới kết thúc tuần này ở mức 4.171 USD/ounce. Tổng cộng cả tuần, giá tăng hơn 2%. Đây là lần đầu tiên kim loại quý ghi nhận tuần tăng sau 4 tuần giảm giá liên tục. Tuần này cũng chứng kiến cú đảo chiều ngoạn mục của giá vàng khi giá mặt hàng này đã phục hồi mạnh từ vùng 3.960 USD/ounce, cũng là mức thấp nhất kể từ tháng 11 năm ngoái lên mức giá hiện tại.
Ông Han Tan, Trưởng bộ phận phân tích thị trường tại Bybit, nhận định đà tăng của giá vàng được thúc đẩy bởi sự suy giảm mạnh số lượng việc làm mới tại Mỹ tháng trước. Theo ông, phản ứng tăng giá ngay lập tức của vàng là hợp lý trong bối cảnh thị trường tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hạ lãi suất vào tháng 9.
Ngoài ra, đồng USD cũng đang hướng tới tuần giảm mạnh nhất kể từ tháng 4 sau báo cáo việc làm, qua đó giúp vàng - được định giá bằng đồng bạc xanh - trở nên rẻ hơn đối với những người nắm giữ các đồng tiền khác.
Ông Han Tan cho rằng trong dài hạn, các ngân hàng trung ương vẫn sẽ là một trụ cột quan trọng đối với nhu cầu vàng giao ngay, mặc dù gần đây một số ngân hàng đã bán bớt lượng vàng nắm giữ nhằm hỗ trợ đồng nội tệ.
Theo Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), các ngân hàng trung ương đã nối lại hoạt động mua vàng trong tháng 5, với lượng mua ròng đạt 41 tấn. Trên thị trường vật chất, sức mua vàng tại Ấn Độ suy yếu khi giá tăng lên, trong khi nhu cầu ở Trung Quốc có dấu hiệu cải thiện.
Ole Hansen, Trưởng bộ phận Chiến lược hàng hóa tại Saxo Bank, nhận định giá vàng nhiều khả năng sẽ tiếp tục dao động trong biên độ hẹp trong ngắn hạn, song vùng đáy của đợt điều chỉnh có thể đã được thiết lập.
Theo ông, dù xu hướng đã tích cực hơn, thị trường vẫn đang trong giai đoạn tích lũy khi một bộ phận nhà đầu tư tranh thủ các nhịp hồi phục để chốt lời. Chuyên gia này cho rằng sự suy yếu của đồng USD, lợi suất trái phiếu giảm, giá năng lượng hạ nhiệt cùng kỳ vọng lạm phát dịu bớt là những yếu tố giúp vàng tiến gần hơn tới việc hình thành đáy.
Alex Kuptsikevich, chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại FxPro, dự báo giá vàng có thể tăng trong tuần tới. Ông đánh giá quý II vừa qua là giai đoạn kém tích cực nhất của vàng kể từ năm 2013, khi kim loại quý chịu áp lực từ giá dầu leo thang do căng thẳng tại Trung Đông và lo ngại lạm phát kéo dài, khiến thị trường kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn.
Theo ông, lập trường chính sách cứng rắn của Fed dưới thời Chủ tịch Kevin Warsh cũng từng khiến giá vàng có thời điểm lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce.
Chia sẻ tại tọa đàm kết quả điều tra hộ kinh doanh ngày 23/4, ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhấn mạnh "tâm lý phòng thủ" của hộ kinh doanh trước sức ép thị trường và khó khăn pháp lý.
Kết quả khảo sát hơn 1.000 hộ kinh doanh trong 3 tháng qua của VCCI cho thấy chỉ 1,8% dự định mở rộng hoạt động, hơn 60% duy trì quy mô hiện tại và 33% thu hẹp. Thậm chí, một số hộ dự tính giải thể trong hai năm tới.
Xu hướng kém lạc quan này một phần do hoạt động kinh doanh yếu trong năm qua. Hơn 81% hộ cho biết doanh thu giảm, dẫn tới ba phần tư hộ vận hành ở ngưỡng lợi nhuận rất mỏng. "Mức này đủ để tồn tại, nhưng khó tích lũy hay chống chịu trước bất kỳ cú sốc nào tiếp theo", ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, nhận định.
Với các hộ kinh doanh, khó khăn về pháp lý là yếu tố áp lực nhất với họ (73%), ảnh hưởng lớn hơn vấn đề nguyên liệu đầu vào trước biến động trong nước và xung đột Trung Đông (59%).
Về nghĩa vụ thuế, hơn 36% hộ không biết hoặc ở mức "có nghe nói" tới hóa đơn điện tử. Một phần ba hộ thiếu thiết bị, hạ tầng Internet. Nhiều hộ không biết sửa hoặc xử lý lỗi kỹ thuật trong quá trình áp dụng hóa đơn điện tử.
Cũng theo khảo sát của VCCI, hơn 80% hộ "né" chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp vì lo ngại thủ tục, chi phí bảo hiểm xã hội cao và bị thanh, kiểm tra nhiều hơn. Ông Phạm Ngọc Thạch cho biết tính theo doanh thu, nhóm có quy mô từ 500 triệu đến 3 tỷ đồng có xu hướng không muốn lên doanh nghiệp.
Chỉ 16% hộ có ý định chuyển đổi thành doanh nghiệp trong hai năm tới. Động lực chuyển đổi đến từ nhu cầu phát triển thực chất, như muốn có pháp nhân khi giao kết hợp đồng, mở rộng quy mô, vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, VCCI cho rằng rào cản chuyển đổi đang lớn hơn nhiều so với động lực, khi hơn 90% hộ lo ngại thủ tục thuế và kế toán phức tạp hơn.
Ông Tuấn nhận định điều này khiến ý định đầu tư, mở rộng của hộ kinh doanh giảm đáng kể. "Môi trường thể chế có thể vô tình khiến hộ kinh doanh duy trì quy mô nhỏ, phòng thủ và né tránh tăng trưởng", ông nói.
Phó tổng thư ký VCCI cho rằng các quy định về thuế, kế toán và hóa đơn điện tử cần được đơn giản hóa cho phù hợp với năng lực thực tế của hộ kinh doanh. Điều này đặc biệt cấp thiết với những hộ siêu nhỏ, chủ hộ lớn tuổi hoặc ở nông thôn
Hiện Bộ Tài chính đề xuất ngưỡng doanh thu chịu thuế lên 1 tỷ đồng, nhưng bà Lê Thị Duyên Hải, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Tư vấn thuế Việt Nam, cho rằng đây chưa phải là giải pháp cốt lõi. Theo bà, hộ kinh doanh không phải không muốn đóng thuế, điều họ cần là giải pháp tuân thủ dễ dàng, minh bạch, đặc biệt về giới hạn xử phạt. Họ cần được hỗ trợ để kinh doanh chuẩn, quản trị tốt, từ đó "lớn hơn".
"Họ sợ ranh giới xử phạt mong manh, bước qua một đồng là thành vi phạm", bà nói.
Ở khía cạnh này, ông Phạm Ngọc Thạch đồng tình chính sách hiệu quả không chỉ là quản lý chặt hơn, cần giúp hộ kinh doanh đủ tự tin để tồn tại, phục hồi và trưởng thành.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund, IMF) vừa công bố dự báo về quy mô kinh tế của 6 nước lớn ở Đông Nam Á giai đoạn 2026 - 2031, bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Đáng chú ý, tính theo GDP sức mua tương đương (PPP), Việt Nam đang là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất so với các quốc gia trên.
Cụ thể, riêng năm 2026, GDP PPP của Việt Nam đạt 2.025 tỉ USD, vượt Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore, chỉ đứng sau Indonesia với 5.230 tỉ USD. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất ngoài Indonesia vượt mốc 2.000 tỉ USD.
Khoảng cách giữa Việt Nam và Thái Lan tiếp tục nới rộng. Đến năm 2031, dự báo GDP PPP Việt Nam đã cao hơn Thái Lan hơn 500 tỉ USD, bỏ xa Malaysia và Philippines, qua đó củng cố vị thế nền kinh tế lớn thứ hai ASEAN.
Dù vẫn còn khoảng cách với Indonesia, Việt Nam lại là nước thu hẹp nhanh nhất với nền kinh tế lớn nhất khu vực. Từ mức tương đương khoảng 39% quy mô của Indonesia năm 2026, đến năm 2031, Việt Nam được dự báo đạt gần 46%.
Đáng chú ý, Việt Nam ngày càng vượt xa Singapore về quy mô kinh tế, nhưng "đảo quốc sư tử" vẫn dẫn đầu tuyệt đối về thu nhập bình quân đầu người. Đến năm 2031, GDP PPP của nước ta được dự báo gấp hơn 2,2 lần Singapore, phản ánh lợi thế về quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng.
TS Nguyễn Anh Vũ - Trưởng khoa tài chính Trường đại học Ngân hàng - cho biết cần phân biệt giữa GDP danh nghĩa và GDP theo sức mua tương đương (PPP), bởi hai chỉ số phản ánh những khía cạnh khác nhau của nền kinh tế.
GDP danh nghĩa thể hiện tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ một quốc gia tạo ra, quy đổi theo tỉ giá hiện hành sang USD. Trong khi đó, GDP PPP phản ánh sức mua thực tế, tức cùng một số tiền có thể mua được bao nhiêu hàng hóa và dịch vụ ở mỗi quốc gia sau khi đã điều chỉnh theo mặt bằng giá.
Ví dụ, theo dữ liệu của World Bank, GDP danh nghĩa của Việt Nam năm 2024 đạt hơn 476 tỉ USD, còn GDP PPP đạt 1.650 tỉ USD, gấp khoảng 4 lần. Trong khi đó, hai chỉ số này trong năm 2024 của Mỹ lần lượt là 28.750 tỉ USD và hơn 29.180 tỉ USD, gần như tương đương.
Theo dự báo của IMF, năm 2026, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vượt mốc 500 tỉ USD theo GDP danh nghĩa và đạt hơn 2.000 tỉ USD theo GDP PPP.
Thước đo GDP PPP xuất phát từ Chương trình so sánh quốc tế (International Comparison Program) của World Bank. Mức giá toàn cầu là cơ sở để so sánh chi phí sinh hoạt giữa các quốc gia khác nhau. Chỉ số này được đo bằng sức mua tương đương (PPP), qua đó cho thấy cần bao nhiêu tiền để mua cùng một mặt hàng ở những nơi khác nhau.
TS Nguyễn Anh Vũ lấy ví dụ, nếu một chiếc hamburger ở Mỹ có giá khoảng 6 USD, trong khi một chiếc tương tự ở Việt Nam chỉ khoảng 40.000 đồng, tương đương khoảng 1,5 USD. Vì vậy, với cùng 1 USD, người dân ở Việt Nam có thể mua được lượng hàng hóa, dịch vụ tương đương khoảng 3 - 4 USD ở Mỹ.
Đây là lý do quy mô kinh tế của Việt Nam khi tính theo sức mua cao hơn nhiều so với GDP danh nghĩa quy đổi theo tỉ giá.
Năm 2006, GDP danh nghĩa của Thái Lan là hơn 220 tỉ USD, trong khi Việt Nam chỉ ở mức hơn 66 tỉ USD. Đến năm 2024, hai chỉ số trên của Thái Lan lần lượt gần 530 tỉ USD và 1.770 tỉ USD, còn của Việt Nam gần 480 tỉ USD và 1.650 tỉ USD.
Với dự báo mới công bố của IMF vào tháng 4-2026, TS Nguyễn Anh Vũ cho rằng: "Việc Việt Nam vượt Thái Lan theo chỉ tiêu GDP PPP, sau đó có thể cả GDP danh nghĩa là hợp lý. Bởi Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn Thái Lan trong thời gian dài, nếu tiếp tục giữ đà thì khoảng cách sẽ còn nới rộng".
Tuy vậy, ông nhấn mạnh điều này không có nghĩa Việt Nam đã vượt Thái Lan về kinh tế. Khi so sánh mức sống người dân, GDP bình quân đầu người danh nghĩa hay GDP bình quân đầu người theo PPP là chỉ tiêu chính xác hơn. Theo cách tính này, Việt Nam hiện vẫn thấp hơn Thái Lan đáng kể.
Chẳng hạn, GDP bình quân đầu người danh nghĩa của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là gần 7.350 USD và gần 4.720 USD vào năm 2024. Còn GDP bình quân đầu người theo PPP của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là hơn 24.710 USD và 16.385 USD.
Diễn biến trên xuất phát từ việc quy mô nền kinh tế của hai nước đã tương đương, nhưng Việt Nam có hơn 100 triệu dân, trong khi Thái Lan chỉ khoảng 70 triệu người.
TS Nguyễn Anh Vũ ví dụ: "Hai gia đình đều có tổng thu nhập 10 triệu đồng mỗi tháng. Nhưng nếu một gia đình có 10 người, còn gia đình kia chỉ có 7 người, thì mức sống của gia đình ít người sẽ cao hơn".
Do đó, để đánh giá đời sống người dân, cần nhìn vào GDP bình quân đầu người thay vì tổng quy mô nền kinh tế. Việt Nam vẫn cần thêm một giai đoạn tăng trưởng cao để thu hẹp khoảng cách về mức sống với Thái Lan.
Dù vậy, TS Nguyễn Anh Vũ nhấn mạnh: "Việc quy mô nền kinh tế của Việt Nam tính theo GDP danh nghĩa và GDP PPP đã gần bằng, thậm chí vượt Thái Lan, để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai khu vực là một cột mốc quan trọng. Đây là kết quả của nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng cao, khẳng định vị thế của Việt Nam trong khu vực và tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo".