Sáng 15.5, Phó viện trưởng Viện KSND tối cao Nguyễn Đức Thái đã có buổi thăm và làm việc tại TAND khu vực 1 (TP.HCM).
Theo ông Nguyễn Đức Thái, qua theo dõi thông tin trên báo, đài, Viện KSND tối cao thành lập đoàn công tác, đến tham quan và học hỏi mô hình tòa án điện tử và phần mềm hỗ trợ tranh tụng, đang được áp dụng tại TAND khu vực 1 (TP.HCM).
Mục đích của buổi thăm và làm việc là hướng tới xây dựng hệ thống công nghệ hiện đại, toàn diện, hỗ trợ tích cực cho công tác của toàn ngành kiểm sát.
Tại buổi làm việc, Chánh án TAND khu vực 1 Nguyễn Quang Huynh báo cáo đơn vị đã xây dựng được một “kho tài nguyên” số đáng kinh ngạc. Xác định dữ liệu là huyết mạch, đơn vị đã số hóa toàn diện 100% bản án từ năm 1976 của quận 1, quận 3 và quận 4 (cũ).
Tính đến tháng 4.2026, sau khi thành lập Phòng Số hóa chuyên trách, kho dữ liệu của đơn vị đã đạt quy mô trên 10 TB với khoảng 32 triệu trang tài liệu. Đáng chú ý, đơn vị đã tự phát triển hệ sinh thái 4 phần mềm lõi tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ thẩm phán tóm tắt văn bản, cảnh báo án quá hạn, và cho phép người dân nộp đơn trực tuyến thông qua xác thực sinh trắc học ngay tại nhà.
Theo thống kê, việc chuyển đổi số tại đây đã giúp giảm hơn 30% thời gian giải quyết án, tiết kiệm 90% chi phí in ấn và 80% không gian lưu trữ hồ sơ.
Sau khi nghe báo cáo và tham quan mô hình tổ chức tòa án điện tử, phòng số hóa, Phó viện trưởng Viện KSND tối cao đánh giá cao sự quyết tâm của TAND khu vực 1 TP.HCM trong quá trình xây dựng mô hình tòa án điện tử, đặc biệt là phần mềm hỗ trợ tranh tụng.
“Sản phẩm này rất hiệu quả, gần như các phòng nghiệp vụ của Viện KSND và TAND tối cao đều hướng tới”, ông Thái nhận xét.
Ông Thái đề nghị Trung tâm Công nghệ thông tin (thuộc Cục 2, Viện KSND tối cao) phối hợp với TAND khu vực 1 để nghiên cứu, thực hiện báo cáo, đề xuất theo hướng xây dựng phần mềm hỗ trợ tranh tụng cho toàn ngành kiểm sát.
Phó viện trưởng Viện KSND tối cao cũng bày tỏ mong muốn TAND khu vực 1 sẽ phối hợp chặt chẽ để hỗ trợ kỹ thuật, hoàn thiện mô hình chuẩn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Xây dựng từ năm 1902, cầu Đuống hiện đã xuống cấp trầm trọng. Mặt cầu chắp vá và đang phải gánh lưu lượng phương tiện vượt quá năng lực khai thác. Tình trạng ùn tắc kéo dài thường xuyên xảy ra khiến dòng xe kẹt cứng, nhiều thời điểm phương tiện ùn ùn tràn xuống các ngõ nhỏ ven bờ sông tìm lối thoát, gây ra cảnh hỗn loạn cục bộ.
Nhằm khơi thông điểm nghẽn giao thông cả đường bộ lẫn đường thủy, Hà Nội dự kiến tháo dỡ cầu cũ vào tháng 9.2026, ngay khi công trình thay thế thông xe. Được triển khai xây dựng song song với cầu hiện hữu, dự án cầu Lệ Chi có tổng mức đầu tư hơn 1.800 tỉ đồng, sở hữu thiết kế tách biệt hoàn toàn đường bộ và đường sắt, đang dần hoàn thiện. Tại công trường, các nhà thầu đang tập trung tối đa nhân lực và thiết bị, khẩn trương thi công nhằm sớm đưa dự án về đích đúng hẹn.
Suốt nhiều năm qua, người dân khu vực đặt nhiều kỳ vọng vào diện mạo hạ tầng mới. Hướng mắt về công trường hối hả, bà Thu Hằng chia sẻ: "Dù thi công có gây ồn ào đôi chút, nhưng thấy tiến độ được đẩy nhanh là chúng tôi mừng. Dân ở đây mong ngóng từng ngày để có cầu mới đi lại an toàn, bớt cảnh ùn tắc khổ sở".
Khi cầu Lệ Chi chính thức đi vào hoạt động cũng là lúc khép lại hành trình hơn 120 năm của cầu Đuống, mở ra không gian kết nối, phát triển bứt phá cho cửa ngõ phía đông bắc thủ đô.
Cụm công trình thay thế mang thiết kế hiện đại. Trong đó, cầu đường bộ dài 382 m, rộng 18,5 m với quy mô 8 làn xe. Cầu đường sắt dài 1000 m đáp ứng cả hai khổ ray tiêu chuẩn 1000 mm và 1435 mm.
ẢNH: TUẤN MINH
Các mũi thi công tất bật hoàn thiện từng nhịp dầm chính, khẩn trương đưa hình hài cây cầu mới sớm nối liền đôi bờ
Tin Gốc: Thanh Niên

Tại khu trưng bày Quy hoạch chung Thủ đô tầm nhìn 100 năm, Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội giới thiệu các mô hình tổ chức không gian mới, hướng đến mục tiêu phát triển đô thị xanh, bền vững và giữ gìn bản sắc văn hóa.
Trong đó, mô hình "làng trong phố, phố trong làng" nhằm dung hòa giữa bảo tồn di sản với phát triển đô thị, bảo đảm sự hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại; duy trì liên tục các hành lang xanh, mặt nước, vùng sinh thái và khu thoát lũ; tích hợp phát triển du lịch, dịch vụ dựa trên lợi thế cảnh quan, văn hóa di sản và làng nghề.
Mô hình "làng trong phố" áp dụng tại các khu đô thị mới, khu mở rộng và khu tái thiết, quy hoạch lấy các di sản như đình, đền, cây cổ thụ làm hạt nhân tổ chức không gian. Các ao hồ, vườn cây hiện hữu được giữ lại để tạo vành đai xanh bao quanh di sản, trong khi các tuyến đường mới được quy hoạch theo hướng mở tầm nhìn về khu vực lõi.
Hệ thống mặt nước được bảo tồn và kết nối thành mạng lưới liên thông, kết hợp phát triển công viên và tuyến đi bộ ven nước nhằm tăng khả năng tiếp cận không gian công cộng.
Để tạo sự chuyển tiếp hài hòa giữa khu đô thị mới và làng cũ, quy hoạch định hướng giảm dần tầng cao và mật độ xây dựng về phía khu dân cư truyền thống, khuyến khích sử dụng kiến trúc và vật liệu bản địa. Cư dân khu vực làng cũ được tạo điều kiện tiếp cận các tiện ích của đô thị mới, còn các tuyến phố đi bộ và thương mại xuyên tâm được kỳ vọng thúc đẩy du lịch, dịch vụ và sinh kế.
Đối với mô hình "phố trong làng", phạm vi áp dụng là các khu đô thị cải tạo, khu vực bảo tồn và các làng xã ngoại thành. Định hướng quy hoạch ưu tiên bảo tồn cấu trúc di sản, khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các đình, chùa, không gian xanh và cảnh quan truyền thống.
Về kiến trúc, Hà Nội khuyến khích duy trì mô hình nhà ở truyền thống, kiểm soát chiều cao công trình phù hợp với cấu trúc làng xóm, đồng thời khuyến khích bố trí sân trong và khoảng lùi để giữ nếp nhà vườn và tăng khả năng thông gió tự nhiên.
Theo phương án minh họa, mô hình này có thể tham khảo tại khu phố cổ Hà Nội, và các làng truyền thống. Triển lãm giới thiệu phương án cải tạo làng cổ Đường Lâm, làng cổ Thiết Bình, làng Cổ Châu cho thấy định hướng bảo tồn cấu trúc làng truyền thống đồng thời bổ sung hạ tầng và không gian công cộng đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, mô hình "làng trong phố, phố trong làng" là tư duy quy hoạch đáng chú ý, bởi không nhìn Hà Nội như một đô thị chỉ cần mở rộng đường, xây thêm nhà cao tầng hay phát triển các khu chức năng hiện đại, mà nhìn Thủ đô như một cơ thể văn hóa - sinh thái sống động, có ký ức, có bản sắc và có chiều sâu lịch sử.
Hà Nội đặc biệt ở chỗ trong lòng đô thị hiện đại vẫn còn rất nhiều lớp trầm tích của làng Việt như đình, chùa, giếng nước, cổng làng, cây đa, nghề truyền thống, lễ hội, hương ước, quan hệ cộng đồng, nếp sống xóm giềng. Vì vậy, "làng trong phố, phố trong làng" không chỉ là khẩu hiệu quy hoạch mà là cách đặt ra câu hỏi là Hà Nội hiện đại như thế nào mà không đánh mất hồn cốt Thăng Long - Kẻ Chợ và phát triển nhanh như thế nào để không làm đứt gãy ký ức cộng đồng.
Ông Sơn cho rằng bảo tồn cấu trúc làng truyền thống và phát triển đô thị hiện đại không mâu thuẫn với nhau. Bảo tồn phù hợp với nhu cầu mới, phát triển đúng nghĩa là tạo điều kiện sống tốt hơn, tức giữ lại những giá trị cốt lõi, đồng thời cho phép đời sống vận động chứ không phải thay thế bản sắc bằng những không gian vô danh.
Hình thành trục xanh xuyên Thủ đô
Mô hình "rừng trong phố, phố trong rừng" được tổ chức thành hệ thống không gian xanh liên tục, đa chức năng dọc trục Bắc - Nam của thành phố. Tuyến xanh dự kiến bắt đầu từ ven sông Hồng tại xã Phúc Lộc, kéo dài đến khu vực ven sông Hồng thuộc Phú Xuyên. Trục xanh đi qua nhiều dạng không gian như khu đô thị hiện hữu, vùng nông thôn, đất trống và các khu vực chuyển tiếp.
Theo định hướng quy hoạch, dải xanh sẽ đóng vai trò như "lá phổi sinh thái tuyến tính", góp phần giảm bụi mịn, tiếng ồn và khí thải từ hoạt động giao thông, đô thị. Đồng thời, đây cũng là vùng đệm chuyển tiếp giữa khu vực đô thị và nông thôn, hạn chế xung đột không gian trong quá trình đô thị hóa; là "bộ điều hòa vi khí hậu" giúp dẫn gió mát, cải thiện chất lượng môi trường không khí.
Theo quy hoạch, trục xanh được tổ chức qua các lớp không gian gồm ven sông Hồng, đô thị hiện hữu, khu vực nông thôn - làng nghề và vùng đất chuyển tiếp.
Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội cho biết định hướng này hướng tới hình thành dải xanh quy mô lớn, vừa đáp ứng nhu cầu môi trường hiện nay, vừa là quỹ không gian dự trữ phục vụ phát triển của Thủ đô trong 50-100 năm tới.
Không gian hai bên các tuyến sông Hồng, Đuống, Đà, Nhuệ, Đáy, Tích, Cà Lồ, sông Thiếp - Đầm Vân Trì... được phát triển thành hành lang xanh và vành đai xanh chiến lược. Trục không gian hai bên sông Hồng là trục xương sống cảnh quan Thủ đô, tập trung các công trình công cộng, công viên văn hóa, dịch vụ du lịch, giải trí và các công trình biểu tượng của thành phố.
Mô hình "thành phố trong rừng" nhằm bảo vệ tuyệt đối diện tích rừng hiện hữu và thực hiện lộ trình phát triển mở rộng diện tích rừng toàn thành phố. Triển khai mô hình "rừng trong thành phố - thành phố trong rừng" với hệ sinh thái rừng làm chủ đạo; xác lập rõ vùng lõi bảo tồn rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và vùng đệm phát triển công viên rừng, du lịch sinh thái mật độ thấp, thân thiện môi trường.
Quy hoạch sẽ rà soát và triển khai các dự án công viên trọng điểm tại khu vực nội đô (Thủ Lệ, Núi Cung, Đống Đa, Đầm Hồng, Hạ Đình...) đảm bảo tính khả thi và phát triển các công viên chuyên đề, công viên sinh thái gắn với hoạt động thể thao, giải trí; hình thành mạng lưới kết nối liên hoàn với hệ thống cây xanh tự nhiên tại các cực Sóc Sơn, Ba Vì, Hương Tích và các lưu vực sông, hồ.
Ông Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đánh giá mô hình "rừng trong phố, phố trong rừng" thể hiện một bước chuyển quan trọng từ tư duy đô thị bêtông sang đô thị sinh thái, đô thị thích ứng, đô thị vì chất lượng sống. Giá trị lớn nhất của tư duy này là đặt con người, thiên nhiên và văn hóa vào trung tâm của quy hoạch.
"Một Thủ đô đáng sống không chỉ cần những đại lộ lớn, công trình lớn, trung tâm mới mà còn cần bóng cây, mặt nước, không gian cộng đồng, làng nghề, di sản, ký ức và cảm giác thuộc về của người dân", ông Sơn nói.
Mô hình "rừng trong phố, phố trong rừng" mang lại nhiều lợi ích cùng lúc. Trước hết là lợi ích môi trường như tăng diện tích cây xanh, giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, cải thiện chất lượng không khí, điều hòa vi khí hậu, giữ nước mưa, giảm ngập úng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ, đô thị nào không có không gian xanh, mặt nước và hành lang sinh thái thì sẽ phải trả giá rất đắt.
Tuy nhiên, ông Sơn cho rằng thách thức khi thực hiện quy hoạch nằm ở năng lực thực thi. Với mô hình "làng trong phố, phố trong làng", thách thức là áp lực đất đai, xây dựng tự phát, thương mại hóa quá mức, mai một nghề truyền thống, đứt gãy cộng đồng cư trú. Cùng với đó là thiếu quỹ đất, lấn chiếm không gian xanh, điều chỉnh quy hoạch tùy tiện, đầu tư công viên chưa đồng bộ, thiếu cơ chế duy tu, vận hành lâu dài.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm đặt ra các giai đoạn phát triển nên phải có cơ chế bảo đảm tính liên tục, không để tư duy nhiệm kỳ làm ngắn lại tầm nhìn chiến lược. Chính quyền cần phân vùng bảo tồn, quy chế quản lý kiến trúc, kiểm soát mật độ xây dựng, chiều cao công trình, vật liệu, không gian công cộng, cảnh quan làng, tuyến đường truyền thống và các thiết chế văn hóa. Khi làm được như vậy, làng cổ không phải là vật cản của đô thị hiện đại mà trở thành bản sắc cạnh tranh của Hà Nội.
Chính quyền địa phương cần công khai quy hoạch, giải thích cho dân hiểu, kiểm soát xây dựng, xử lý nghiêm vi phạm, bảo vệ di tích, bảo vệ cây xanh, mặt nước, không gian công cộng. Chính quyền cơ sở cũng phải kết nối giữa quy hoạch lớn của thành phố với đời sống cụ thể của từng làng, từng khu dân cư, từng tuyến phố.
Tin Gốc: Vnexpress

1. Những con đường nhỏ và lở lói. Những dãy nhà mái tôn tường gỗ, từng là các khu gia binh của quân đội VNCH giờ được sử dụng làm khu tập thể cho cán bộ công nhân viên. Dân thì ở trong những ngôi nhà thưng ván, xung quanh là đất đỏ...
Thời khó khăn, chỗ nào có đất là cuốc lên trồng khoai lang và su su. Là nói mùa mưa, còn mùa khô thì chịu. Nước không có, không cây gì sống nổi. Cả chục năm sau đấy, khi tôi đã có gia đình thì trong cái bếp phía sau của phòng tập thể, chỗ quan trọng nhất là... 2 cái thùng phuy đựng nước. Ông bố vợ làm giám đốc chi nhánh điện huyện Ayun Pa (cũ), cách Pleiku 80 km, thi thoảng chở lên cho gia đình con gái bao gạo kèm cái thùng phuy đựng dầu chạy máy điện. Dùng hắc ín quét kỹ trong ngoài rồi chứa nước. Hồi ấy nhà nào có 2 cái thùng phuy như thế giống như có... ô tô bây giờ. Lại còn khen: thùng phuy quét hắc ín nước trong và ngọt, hơn hẳn thùng phuy quét xi măng...
Dân Pleiku khi ấy, không tính cán bộ công nhân viên, có 2 loại chính, một là buôn bán, mà xịn nhất là mấy cửa hàng vàng, đa phần gốc gác từ làng Kế Môn, Huế, lên từ khoảng những năm 1950, mấy hiệu thuốc tây, mấy quán phở, còn lại là dân lao động.
Tôi nhớ hồi ấy, sau mỗi cái xe đạp lạch xạch thường cột cái cuốc, con dao... là công cụ làm rẫy. Mỗi buổi sáng hàng đoàn xe đạp như thế tiến ra ngoại ô, đa phần là phụ nữ. Nam giới chủ yếu đi dò phế liệu. Cả cái sân bay Cù Hanh to uỳnh thế, bao nhiêu căn cứ chiến tranh từng lừng lững thế, vào tay họ, món nào ra món ấy hết. Những tấm ghi lỗ lát làm đường băng và cả đường cho ô tô chạy, những cây sắt 3 cạnh để làm cọc rào thép gai, và những cuộn thép gai được cuộn rất khéo... là sản phẩm của họ mỗi chiều, là nguồn thu nhập chính của rất nhiều gia đình. Làm ăn lớn hơn, nhiều người rủ nhau vào rừng sâu, lên tận Sa Thầy, Đăk Tô tìm xác máy bay, xe tăng, và thẻ bài của lính Mỹ.
Đấy là phố, còn mươi cây số ra ngoại ô là tới các làng bà con bản địa Tây nguyên, nơi mưa kéo dài cả tháng trời, nước cuồn cuộn đỏ…
Nói Gia Lai có đặc sản cà phê nhưng quả là bà con Jrai, Bahnar hồi ấy không uống cà phê, và cũng rất ít người trồng. Người Ê Đê ở Đắk Lắk trồng nhiều hơn. Cà phê là món của người Kinh, người ở phố. Dưới nông thôn không có, kể cả những ngôi làng nổi tiếng như làng S'tơ, tức làng Kông Hoa trong Đất nước đứng lên, nơi mà ngay sau chiến tranh, nhà nước đầu tư rất lớn để xây dựng một xã kiểu mẫu. Máy cày, máy bơm đưa vào, đưa người Kinh và người Tày phía bắc vào sống cùng.
Ngã ba Phù Đổng - Gia Lai trước đây và hiện nay
ẢNH: HUY TỊNH
Ra khỏi Pleiku 5 km là miên man đất đỏ chói chang, dã quỳ vàng rờm rợp. Vậy nên theo tôi, công trình vĩ đại nhất đối với Tây nguyên khi ấy là các hồ thủy lợi. Bên Đắk Lắk còn đắp đập cái hồ thủy lợi rất lớn bằng chính đất bazan nữa, mà tới giờ, nghe nói vẫn còn tác dụng. Gia Lai thì có hồ Ayun Hạ được thiết kế để tưới cho 13.500 ha, một sự đổi đời không ngờ, một tầm nhìn hết sức đúng đắn.
Và sau đấy là một loạt những hồ thủy lợi khác, đưa văn minh nương rẫy truyền thống hòa nhập với văn minh lúa nước của người Kinh.
2. Sự giao thoa kinh tế kéo theo sự giao thoa văn hóa, tạo nên ở Gia Lai một vùng văn hóa độc đáo. Ấy là nói khi chưa nhập tỉnh, giờ thành tỉnh Gia Lai mới, một sự giao thoa văn hóa hết sức thú vị đang, đã và sẽ diễn ra, trong đó, năm 2026 này là năm du lịch quốc gia do tỉnh Gia Lai đăng cai với slogan "Đại ngàn chạm biển xanh".
Và tới lúc ấy, những cao su, cà phê, tiêu, chanh dây..., các loại cây quả có giá trị kinh tế cao sẽ còn dư địa phát triển mạnh nữa.
Theo thống kê tôi vừa có thì diện tích cà phê năm 2025 của tỉnh Gia Lai đạt khoảng 108.389 ha, sản lượng ước đạt 340.612 tấn. Trong đó, diện tích cà phê sản xuất theo tiêu chuẩn nông nghiệp tốt, nông nghiệp hữu cơ có chứng nhận là 56.691,04 ha. Vùng nguyên liệu cà phê cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho 3 nhà máy chế biến cà phê trên địa bàn tỉnh, với tổng công suất 157.000 tấn/năm.
Diện tích chanh dây năm 2025 đạt khoảng 5.650 ha, sản lượng ước đạt 213.150 tấn. Trong đó, diện tích chanh dây sản xuất theo tiêu chuẩn nông nghiệp tốt, có chứng nhận VietGAP là hơn 1.153 ha. Chanh dây đã được cấp 48 mã số vùng trồng xuất khẩu/1.153 ha và 6 mã số cơ sở đóng gói chanh dây xuất khẩu, với tổng công suất 365 tấn quả tươi/ngày.
Diện tích rầu riêng năm 2025 đạt khoảng 9.262 ha, sản lượng ước đạt 57.725 tấn. Trong đó, diện tích sầu riêng sản xuất theo tiêu chuẩn nông nghiệp tốt, có chứng nhận GlobalGAP hơn 1.081 ha, tiêu chuẩn VietGAP hơn 741 ha...
Dẫu còn điều này điều kia chưa tương xứng, chưa như kỳ vọng, nhưng khi tỉnh xác định lấy du lịch là một trong 5 trụ cột phát triển kinh tế thì yếu tố bản sắc văn hóa dân tộc trở thành điểm nhấn quan trọng. Lâu nay ai cũng bảo phải giữ gìn, tôn trọng rồi khai thác, nhưng làm như thế nào thì vẫn mỗi nơi mỗi phách, mỗi người mỗi kiểu. Nên có lúc phát triển nóng quá, cái khối băng bản sắc có nguy cơ bị vỡ, cần có sự can thiệp kịp thời của nhà nước. Sự kiện tỉnh Gia Lai quyết định phá bỏ cái công trình bê tông gần chục tỉ đồng án ngữ mặt chính của núi lửa Chư Đang Ya, trả lại mặt bằng, giữ nguyên hiện trạng ngay trước tết năm rồi là một ví dụ.
3. Tôi rất quý cô bé Uyên Nie, người Ê Đê (Đắk Lắk), học Trường ĐH Văn hóa Nghệ thuật quân đội, lấy một anh bác sĩ người Jrai ở làng Kép, Ia Mơ Nông, Chư Păh cũ. Thay vì bắt chồng phải về nhà vợ theo phong tục, thì Uyên về quê chồng, và trở thành thủ lĩnh du lịch của làng, biến làng Kép thành một mô hình du lịch cộng đồng.
Đây là một sự đổi đời rất lớn, vì chúng ta biết người Tây nguyên bản địa chủ yếu đang sống với phương thức tự cung tự cấp, không có chợ, cần gì thì trao đổi hàng lấy hàng trong làng. Thế mà giờ, biến ngay ngôi làng mình, lối sống thường ngày của mình, công việc hằng ngày của mình... thành sản phẩm để thu hút du khách.
Trở lại chuyện cà phê trên đất này. Quả là tôi đã từng rất ngạc nhiên khi hồi mới lên Tây nguyên mà chả thấy cây cà phê đâu, hay chính xác là rất ít. Các quán cà phê cũng không nhiều như từng hình dung. Nhớ quán chúng tôi hay "ngồi đồng" mỗi sáng chủ nhật hồi ấy là cà phê Kim Liên của ông Giáp, một người đàn ông lịch thiệp di cư. Giờ mới đây nhất, trong hội nghị kêu gọi đầu tư do tỉnh Gia Lai tổ chức, ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp, Gia Lai - một trong những doanh nghiệp dẫn đầu về xuất khẩu cà phê, thuộc Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam - đã trình bày hệ sinh thái chiến lược cho ngành cà phê thông qua 5 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư hơn 710 triệu USD, tương đương khoảng 18.000 tỉ đồng.
Từ một cơ sở gia đình, Vĩnh Hiệp đã trở thành nhà xuất khẩu cà phê hàng đầu Việt Nam, hiện diện tại hơn 60 thị trường, đóng góp hơn 769 triệu USD trong niên vụ 2024 - 2025, chiếm 9,3% kim ngạch xuất khẩu cà phê của cả nước.
Ông Hiệp là người đưa ra thông điệp: "Việt Nam không chỉ xuất khẩu cà phê; chúng tôi muốn chia sẻ giá trị, bản sắc và tinh thần sáng tạo của người nông dân Việt Nam với thế giới".
Và tôi, người có tròn 45 năm ở đất này, được coi là người Pleiku, trở thành một phần ký ức ở đây, nhiều khi đi lại những con đường cũ đã ngỡ ngàng trước những đổi thay...
Tin Gốc: Thanh Niên

