Ngày 19.5.2026, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại trong một thời điểm có ý nghĩa đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rực rỡ, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội; cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 đã mở ra một chương mới với yêu cầu rất cao về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực quản trị và năng lực phục vụ nhân dân. Hệ thống chính trị đang từng bước vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, thông suốt hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, gắn bó mật thiết hơn với nhân dân và đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.
Trong bước chuyển lớn ấy, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tinh thần, ngọn đuốc soi đường, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Nếu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định con đường phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ánh sáng soi đường để chúng ta đi trên con đường ấy với bản lĩnh vững vàng, mục tiêu đúng đắn, phương pháp khoa học và niềm tin sâu sắc vào nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà còn là người đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng.
Đó là chiều sâu nhân văn, là giá trị bền vững và cũng là sức sống thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng ấy không chỉ soi sáng con đường giành độc lập, thống nhất đất nước trong thế kỷ 20, mà còn tiếp tục soi sáng công cuộc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, đổi mới, cải cách, phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ 21. Trong kỷ nguyên mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu vươn lên mạnh mẽ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, bắt kịp các xu thế phát triển của thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở thành điểm tựa tinh thần, nền tảng tư duy và phương hướng hành động có ý nghĩa quyết định.
Đại hội XIV của Đảng là dấu mốc rất quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đại hội không chỉ tổng kết chặng đường phát triển, nhìn lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới, mà còn xác lập phương pháp luận, tầm nhìn và những quyết sách chiến lược cho giai đoạn phát triển trong tương lai. Đó là con đường phát triển nhanh và bền vững ; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển văn hóa, con người Việt Nam trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh.
Nhìn sâu xa, những định hướng chiến lược ấy chính là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là những mệnh đề bất biến, khép kín, mà là một hệ thống quan điểm sống động, luôn gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn làm điểm xuất phát, lấy lợi ích của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất, lấy tự chủ, dân chủ, đổi mới, sáng tạo và hành động làm phương thức để hiện thực hóa lý tưởng cách mạng.
Trước hết, tư tưởng “dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng của Người, nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với nhân dân.
Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của nhân dân làm thước đo đánh giá. Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Phân cấp, phân quyền để rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Chuyển đổi số là nhằm hiện đại hóa phương tiện quản lý, tạo ra nền quản trị minh bạch hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn, chu đáo hơn và nhanh chóng hơn.
Thứ hai, tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng con đường phát triển đất nước trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, chuyển dịch chuỗi cung ứng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động sâu sắc của thế giới. Sinh thời, Người luôn nhấn mạnh độc lập dân tộc phải gắn với tự lực, tự cường; phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ, hợp tác quốc tế; phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Ngày nay, tư tưởng ấy được phát triển trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế, chủ động hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; làm chủ những lĩnh vực công nghệ chiến lược; hình thành lực lượng sản xuất mới và phương thức sản xuất mới. Khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gắm cho các thế hệ Việt Nam hôm nay đã trở thành yêu cầu phát triển thực tiễn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, hành động quyết liệt, vượt qua tâm lý tự bằng lòng, vượt qua nguy cơ tụt hậu, nhất là tụt hậu về công nghệ, năng suất và chất lượng phát triển.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng tiếp tục là nền tảng đặc biệt quan trọng cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đảng ta là Đảng cầm quyền; mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải giữ gìn Đảng thật trong sạch; phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Người coi đạo đức là gốc của người cách mạng, coi sự gắn bó máu thịt với nhân dân là nguồn sức mạnh và là điều kiện tồn tại, phát triển của Đảng.
Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa sống còn. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững phải có một Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức, uy tín và năng lực lãnh đạo. Một hệ thống chính trị tinh gọn muốn vận hành hiệu quả phải có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Một nền quản trị hiện đại muốn thành công phải được đặt trên nền tảng kỷ luật, kỷ cương, liêm chính, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Vì vậy, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu không chỉ là nhiệm vụ xây dựng Đảng, mà còn là nhiệm vụ phát triển. Chống tham nhũng là để làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân, bảo vệ nguồn lực quốc gia, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển. Chống lãng phí là để khơi thông nguồn lực, sử dụng hiệu quả tài sản công, thời gian công, cơ hội phát triển của đất nước. Chống tiêu cực là giữ gìn kỷ cương, ngăn chặn tha hóa quyền lực, tạo nền tảng công bằng, văn minh cho phát triển đất nước bền vững; Chống quan liêu là để bộ máy không xa dân, chính sách không xa thực tiễn, cán bộ không vô cảm trước đời sống nhân dân.
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục là nguồn sức mạnh chiến lược trong kỷ nguyên mới. Người khẳng định đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài-đó là phương thức tập hợp lực lượng và cũng là nghệ thuật xây dựng sức mạnh quốc gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Trong giai đoạn hiện nay, đại đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là nguồn lực phát triển. Đất nước muốn vươn mình phải khơi dậy và phát huy cao nhất trí tuệ, bản lĩnh, khát vọng, sức sáng tạo và tinh thần cống hiến của mọi người Việt Nam. Công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài đều là những lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dựa vào nguồn lực nhà nước, mà phải huy động, giải phóng và kết nối mọi nguồn lực xã hội, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân.
Thứ năm, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người tiếp tục soi sáng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước. Với Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị, kinh tế, xã hội, mà phải soi đường cho quốc dân đi. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà là nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân cách, xây dựng đạo đức, phát triển văn hóa, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Trong kỷ nguyên mới, phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; đổi mới công nghệ phải đi đôi với phát triển con người; hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Một quốc gia chỉ thật sự hùng cường khi có nền kinh tế mạnh, thể chế hiện đại, quốc phòng- an ninh vững chắc, văn hóa giàu bản sắc, con người phát triển toàn diện và xã hội nhân văn, nghĩa tình, kỷ cương, sáng tạo.
Từ đó có thể thấy, các quyết sách đổi mới trong thời gian gần đây, từ tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đổi mới thể chế, hoàn thiện pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; phát triển văn hóa, con người, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội; đến chủ động hội nhập quốc tế, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đều cần được soi chiếu bằng tư tưởng Hồ Chí Minh. Soi chiếu để giữ đúng mục tiêu. Soi chiếu để lựa chọn đúng phương pháp. Soi chiếu để mọi đổi mới không xa rời nhân dân, mọi phát triển không đánh mất bản sắc, mọi cải cách không tách khỏi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Vì vậy, kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đây còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự soi lại mình trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; củng cố niềm tin vào con đường đã lựa chọn; nâng cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước nhân dân; biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động cách mạng cụ thể trong từng cơ quan, từng địa phương, từng cán bộ, đảng viên và từng người dân.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống. Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo công việc của mình.
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: kiên định mục tiêu, sáng tạo phương pháp, thực tiễn trong hành động, nhân văn trong mục đích, lấy dân làm gốc và lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng.
Càng trong bước chuyển lớn của lịch sử, chúng ta càng phải giữ vững tư tưởng Hồ Chí Minh. Càng tiến bước trên con đường hiện đại hóa, chúng ta càng phải trở về sâu sắc hơn với những giá trị nền tảng mà Người để lại: độc lập, tự do; dân là gốc; đoàn kết; tự lực, tự cường; cần, kiệm, liêm, chính; Đảng trong sạch; Nhà nước phục vụ nhân dân; phát triển vì con người và vì hạnh phúc của nhân dân.
Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn.
Dự Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XIV sáng nay 4.6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu lớn về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong hành trình đó, giai cấp công nhân và người lao động giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, không thể xây dựng một nền công nghiệp hiện đại nếu thiếu đội ngũ công nhân hiện đại; không thể nâng cao năng suất lao động nếu người lao động không được đào tạo, chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng. Đồng thời, phát triển bền vững cũng không thể đạt được nếu đời sống của công nhân còn nhiều khó khăn và tiếng nói của họ chưa được lắng nghe đầy đủ.
Từ yêu cầu đó, đại hội không chỉ là sự kiện chính trị quan trọng của tổ chức công đoàn mà còn là dịp để xác định con đường đổi mới nhằm đưa Công đoàn Việt Nam thực sự trở thành cầu nối vững chắc giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp công nhân và người lao động.
Không né tránh những hạn chế
Ghi nhận những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đánh giá các cấp công đoàn đã có nhiều nỗ lực trong việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật; chăm lo việc làm, thu nhập, phúc lợi, nhà ở và điều kiện lao động cho đoàn viên, người lao động.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại cần sớm khắc phục.
Theo đó, một số hoạt động công đoàn vẫn còn nặng tính hành chính, phong trào, chưa thật sự đi sâu vào những vấn đề người lao động cần nhất. Năng lực đại diện, đối thoại và bảo vệ quyền lợi người lao động ở một số nơi còn hạn chế. Không ít công đoàn cơ sở chưa đủ mạnh để nắm bắt, phản ánh và giải quyết kịp thời những bức xúc phát sinh trong quan hệ lao động.
Đáng chú ý, đời sống của một bộ phận công nhân, nhất là lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, lao động di cư, lao động phi chính thức vẫn gặp nhiều khó khăn về thu nhập, nhà ở, trường học cho con, y tế và các điều kiện an sinh xã hội.
"Công đoàn phải đổi mới nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn. Công đoàn không thể mạnh nếu xa công nhân. Công đoàn không thể hấp dẫn nếu người lao động không thấy quyền lợi của mình được bảo vệ tốt hơn. Công đoàn không thể hiện đại nếu vẫn chủ yếu hoạt động bằng giấy tờ, hội họp và khẩu hiệu", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Một trong những yêu cầu quan trọng được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra cho nhiệm kỳ tới là Công đoàn phải đổi mới để thật sự là chỗ dựa tin cậy của người lao động, là cầu nối bền chặt giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp công nhân. Mọi hoạt động công đoàn phải lấy đoàn viên và người lao động làm trung tâm.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Công đoàn được thành lập để đại diện, chăm lo và bảo vệ người lao động. Vì vậy, mọi chương trình, kế hoạch hay phong trào đều phải trả lời được câu hỏi: người lao động được hưởng lợi gì, quyền lợi nào được bảo vệ, khó khăn nào được tháo gỡ và tiếng nói nào được lắng nghe.
"Hiệu quả của Công đoàn không nên được đo bằng số cuộc họp, số văn bản hay số lượng phong trào, mà phải đo bằng niềm tin của đoàn viên, sự hài lòng của người lao động, mức độ cải thiện đời sống tại cơ sở", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ.
Lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước yêu cầu ở đâu có người lao động thì ở đó phải có công đoàn. Khi quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động bị ảnh hưởng, Công đoàn phải lên tiếng, chủ động đối thoại, hòa giải và bảo vệ cái đúng.
Đặc biệt, Công đoàn cần nâng cao năng lực phòng ngừa tranh chấp lao động từ sớm, từ cơ sở. Những phản ánh, kiến nghị của công nhân phải được lắng nghe trước khi trở thành bức xúc; những mâu thuẫn nhỏ cần được giải quyết kịp thời trước khi phát triển thành điểm nóng.
Nhấn mạnh vai trò của Công đoàn cơ sở, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng đây là địa bàn quyết định sức sống của toàn bộ hệ thống Công đoàn.
Theo đó, Công đoàn cấp trên phải hướng mạnh về cơ sở, hỗ trợ về pháp lý, kỹ năng thương lượng, đối thoại, xử lý tranh chấp và các phương pháp vận động người lao động.
Đối với cán bộ Công đoàn cơ sở, yêu cầu đặt ra là phải thực sự gần công nhân, hiểu công nhân, lắng nghe được tâm tư của công nhân và dám bảo vệ công nhân bằng pháp luật cũng như trách nhiệm của mình.
"Không thể để công đoàn cơ sở chỉ là nơi tổ chức phong trào, thu đoàn phí hay phát quà dịp lễ, tết. Công đoàn cơ sở phải là nơi người lao động tìm đến", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Trước yêu cầu của thời đại số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị xây dựng Công đoàn Việt Nam theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và có đủ năng lực đại diện trong tình hình mới.
Công đoàn số không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng phần mềm quản lý đoàn viên mà còn phải giúp tổ chức Công đoàn nắm chắc tình hình lao động, dự báo sớm nguy cơ tranh chấp để có giải pháp xử lý kịp thời.
"Đất nước đang cần một giai cấp công nhân hiện đại hơn, bản lĩnh hơn, sáng tạo hơn. Người lao động đang cần một tổ chức Công đoàn gần gũi hơn, thiết thực hơn, mạnh mẽ hơn", Tổng Bí thư nhấn mạnh.
Sáng 17.6, tại Hà Nội, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Cựu chiến binh Việt Nam lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã khai mạc với sự tham dự của 456 đại biểu chính thức, đại diện cho hơn 3 triệu hội viên cựu chiến binh cả nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo đại hội. Cùng dự có nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch nước Lương Cường; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; Chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài; đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, cùng các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bậc lão thành cách mạng, mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; anh hùng lao động thời kỳ đổi mới...
Tại đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, đã có công lao to lớn, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.
Phát biểu chỉ đạo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, nhiệm kỳ qua, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã nỗ lực vượt qua khó khăn, tiếp tục khẳng định vị trí là tổ chức chính trị - xã hội có uy tín, là thành viên tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước thẳng thắn nhìn nhận một số hạn chế, bất cập như: hoạt động của một số tổ chức hội chưa thật đồng đều; mô hình tổ chức, cơ chế phối hợp và đội ngũ cán bộ ở một số nơi còn lúng túng; công tác nắm bắt tư tưởng, dư luận xã hội có lúc chưa kịp thời; chất lượng giám sát, phản biện xã hội chưa đồng đều; chuyển đổi số còn chậm; việc thu hút, tập hợp cựu quân nhân, nhất là lực lượng trẻ, cần phương thức mới, thiết thực hơn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, đại hội cần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, để bước vào nhiệm kỳ mới với tư duy mới, cách làm mới và hiệu quả mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với khát vọng lớn, mục tiêu cao và yêu cầu rất khẩn trương. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với Hội Cựu chiến binh Việt Nam không chỉ là làm tốt nhiệm vụ truyền thống, mà phải đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động; nâng cao chất lượng tổ chức hội; thích ứng với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, sự sắp xếp của MTTQ và các đoàn thể; đáp ứng yêu cầu quản trị xã hội hiện đại, chuyển đổi số và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ cơ sở.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, các cấp hội phải kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, giữ vững bản chất “Bộ đội Cụ Hồ”, phát huy truyền thống “trung thành - đoàn kết - gương mẫu - đổi mới”; xây dựng tổ chức hội tinh gọn, thống nhất, thông suốt, hoạt động thực chất, hiệu quả, nhất là ở cơ sở.
Mỗi cán bộ, hội viên phải là tấm gương về lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân; nói đi đôi với làm, sống mẫu mực, nghĩa tình, kỷ luật; tăng cường phối hợp thực chất giữa Hội Cựu chiến binh Việt Nam và Hội Cựu công an nhân dân trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội từ cơ sở, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của cựu chiến binh trong xây dựng Đảng, chính quyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững ổn định chính trị - xã hội từ cơ sở.
Hội cần tham gia sâu hơn, thực chất hơn vào xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; góp ý xây dựng chủ trương, chính sách; giám sát cán bộ, đảng viên; đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thực hiện dân chủ ở cơ sở...
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của cựu chiến binh, cựu quân nhân; đồng thời phát huy cựu chiến binh như một nguồn lực phát triển của đất nước.
Cạnh đó, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của hội, lấy cơ sở làm địa bàn trọng tâm, lấy chuyển đổi số làm khâu đột phá. Các cấp hội cần giảm hành chính hóa, giảm hình thức, giảm hội họp không cần thiết; tăng đối thoại, tăng nắm bắt tình hình, tăng giải quyết việc cụ thể, tăng hiệu quả thực chất.
Làm tốt hơn nữa công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ; đổi mới phương thức tập hợp cựu quân nhân, nhất là lực lượng trẻ; phát huy đối ngoại nhân dân của cựu chiến binh trong củng cố hòa bình, hữu nghị, hợp tác, giải quyết hậu quả chiến tranh; chủ động tham gia tổng kết thực tiễn, hoàn thiện chính sách đối với cựu chiến binh, cựu quân nhân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, MTTQ và các ban, bộ, ngành tiếp tục chỉ đạo, phối hợp, tạo điều kiện để Hội Cựu chiến binh hoạt động đúng tính chất chính trị - xã hội đặc thù, hiệu quả, thiết thực; hoàn thiện chính sách, pháp luật, nghiên cứu xây dựng luật Cựu chiến binh phù hợp yêu cầu mới; giải quyết kịp thời chế độ, chính sách, đời sống và quyền lợi chính đáng của cựu chiến binh, cựu quân nhân.
Chiều 14.7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với các cơ quan về phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.
Phát biểu tại buổi làm việc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải đặt công nghiệp hàng hải quốc gia đúng vị trí trong chiến lược xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt không phát triển từng nhà máy, từng địa phương hoặc từng loại sản phẩm biệt lập, chính sách phải tạo được liên kết chuỗi, thị trường ổn định, phân công hợp lý và hiệu quả tổng thể.
Nhà nước kiến tạo phát triển, định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, tổ chức thị trường và bảo đảm những năng lực thiết yếu, đồng thời không bao cấp trở lại, không làm thay doanh nghiệp.
Doanh nghiệp trực tiếp đầu tư, sản xuất, đổi mới, cạnh tranh và chịu trách nhiệm về hiệu quả. Bên cạnh đó cần phân vai đúng, phát huy thế mạnh của từng khu vực kinh tế, bảo đảm cạnh tranh minh bạch và không dùng chính sách để che lấp yếu kém quản trị.
Mọi lựa chọn phải căn cứ vào hiệu quả dài hạn, khả năng làm chủ hoặc tiếp nhận công nghệ, năng lực quản trị, thị trường và phần giá trị giữ lại trong nước; không chạy theo quy mô, thứ hạng hình thức; không đầu tư dàn trải, trùng lặp; không đánh đổi chất lượng, an toàn, môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Về nhiệm vụ trước mắt, cần tập trung mở khóa thị trường, khai thác hiệu quả năng lực hiện có và xử lý các điểm nghẽn.
Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo Chính phủ khẩn trương xây dựng Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hàng hải và cơ khí biển đến năm 2035, tầm nhìn 2050. Chương trình phải xác định rõ mục tiêu, trọng tâm, lộ trình, nguồn lực, cơ chế tổ chức thực hiện; gắn kết với chiến lược đội tàu, vận tải thủy, cảng, logistics, năng lượng biển và quốc phòng - an ninh; khắc phục tình trạng chính sách phân tán, thiếu công cụ và thiếu sản phẩm đầu ra.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gợi mở nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng, bảo lãnh và bảo hiểm phù hợp với đặc thù hợp đồng lớn, chu kỳ dài, rủi ro cao của ngành đóng tàu.
Cơ chế hỗ trợ phải có điều kiện, đúng đối tượng, gắn với đơn hàng, năng lực doanh nghiệp, phương án tài chính khả thi và quản trị minh bạch; không cấp vốn để bù lỗ, không tạo nợ xấu mới, không hợp thức hóa sai phạm cũ. Chính phủ cụ thể hóa các công cụ và quy trình kiểm soát theo thẩm quyền.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý về việc tổ chức lại thị trường trong nước, gắn nhu cầu phát triển đội tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu công vụ, dịch vụ ngoài khơi và quốc phòng - an ninh với năng lực công nghiệp trong nước trên nguyên tắc cạnh tranh, chất lượng và hiệu quả.
Cùng đó, cần có chính sách phù hợp để khuyến khích sản phẩm trong nước đáp ứng tiêu chuẩn, giá thành, tiến độ và chi phí vòng đời. Trước mắt cần coi sửa chữa, hoán cải, nâng cấp xanh, bảo trì và dịch vụ vòng đời là hướng quan trọng để khai thác năng lực hiện có, tạo dòng tiền và giữ lao động kỹ thuật có tay nghề cao.
Cần xử lý các tồn tại theo pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, chủ nợ, người lao động và các bên liên quan; bảo đảm kỷ luật, minh bạch, không thất thoát tài sản nhà nước; không xử lý cơ học làm mất hạ tầng, công nghệ, dữ liệu, quan hệ khách hàng và đội ngũ lao động kỹ thuật khó tái tạo.
Về nhiệm vụ lâu dài, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ phải chuyển từ duy trì năng lực sản xuất sang xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hàng hải và đường thủy hiện đại, xanh, số, có khả năng tự chủ và cạnh tranh quốc tế.
Tinh thần chung là phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia bằng tư duy hệ sinh thái, lựa chọn có trọng tâm và kỷ luật thực thi; phát huy đúng vai trò của Nhà nước, các khu vực doanh nghiệp và hợp tác quốc tế; không cứu trợ dàn trải, không bao cấp trở lại, không đầu tư theo phong trào nhưng cũng không buông lỏng để mất năng lực công nghiệp chiến lược.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo phải xử lý dứt điểm tồn tại, bảo toàn cái còn giá trị và tổ chức lại nhu cầu của đất nước thành thị trường có kỷ luật cho những doanh nghiệp thực sự có năng lực, có khả năng phát triển tốt.