GS.TS Nguyễn Đình Đức – Trường đại học Công nghệ Hà Nội – nhận định phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội hôm 16-5 là chỉ đạo có ý nghĩa chiến lược, không chỉ đối với riêng Đại học Quốc gia Hà Nội, mà còn đối với toàn bộ hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Thông điệp cốt lõi nhất trong bài phát biểu là: Đại học Quốc gia Hà Nội phải ý thức sâu sắc hơn nữa sứ mệnh quốc gia của mình. Hai chữ “quốc gia” không chỉ là danh xưng, mà là trách nhiệm, danh dự và sứ mệnh phụng sự đất nước.
Theo ông Đức, trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia trước hết là cạnh tranh về tri thức, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.
Một quốc gia muốn phát triển nhanh, bền vững và tự chủ thì phải có những đại học mạnh, những trung tâm nghiên cứu mạnh, những nhóm nghiên cứu mạnh và những thế hệ trí thức có khát vọng lớn. Vì vậy, Đại học Quốc gia Hà Nội không thể chỉ dừng lại ở vai trò đào tạo và nghiên cứu theo nghĩa truyền thống, mà phải vươn lên thành một đại học tinh hoa hiện đại, đa ngành, đa lĩnh vực, vận hành theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo và có năng lực dẫn dắt quốc gia.
Muốn hiện thực hóa yêu cầu đó, trước hết cần đột phá về quản trị đại học. Đại học Quốc gia Hà Nội cần được vận hành theo mô hình “one VNU – một mái nhà chung Đại học Quốc gia Hà Nội”, khai thác tối đa các nguồn lực dùng chung, gắn với mục tiêu, chất lượng, kết quả đầu ra và tác động xã hội.
Mỗi trường đại học thành viên, mỗi viện nghiên cứu, mỗi phòng thí nghiệm, mỗi nhóm nghiên cứu mạnh của Đại học Quốc gia Hà Nội cần có nhiệm vụ rõ ràng, chỉ tiêu rõ ràng và trách nhiệm rõ ràng. Không thể chỉ đánh giá đại học bằng số lượng tuyển sinh, số lượng đề tài hay số bài báo công bố.
Những tiêu chí đó là cần thiết, nhưng chưa đủ.
Cần đánh giá bằng chất lượng học thuật, bằng sáng chế, sản phẩm công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp khoa học – công nghệ được hình thành, chính sách được tư vấn, nhân tài được đào tạo và mức độ đóng góp thực chất cho đất nước.
Thứ hai, cần tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực và tự chủ đại học. Đại học Quốc gia Hà Nội cần được trao quyền chủ động cao hơn nữa trong học thuật, trong tuyển dụng, đãi ngộ nhân tài, sử dụng nguồn lực, hợp tác quốc tế, đầu tư phòng thí nghiệm, triển khai các hoạt động khoa học – công nghệ, thành lập doanh nghiệp khoa học – công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Nếu đặt mục tiêu đến năm 2030 Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á, đến năm 2035 thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới và có một số ngành mũi nhọn đứng trong nhóm 100 toàn cầu, thì cơ chế phát triển dành cho Đại học Quốc gia Hà Nội cũng phải tương xứng với mục tiêu đó.
Không thể yêu cầu một đại học cạnh tranh quốc tế nhưng lại vận hành bằng những cơ chế chưa đủ linh hoạt, chưa đủ sức hấp dẫn nhân tài và chưa đủ mạnh về nguồn lực.
Thứ ba, phải đầu tư có trọng điểm cho các lĩnh vực mũi nhọn. Đó là những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, năng lượng mới, công nghệ xanh, khoa học bền vững, khoa học giáo dục, khoa học chính sách, văn hóa và Việt Nam học.
Trong mỗi lĩnh vực, cần hình thành các trung tâm xuất sắc và nhóm nghiên cứu mạnh theo chuẩn quốc tế. Những nhóm này phải có trưởng nhóm đủ uy tín, đội ngũ kế cận mạnh, nghiên cứu sinh giỏi, phòng thí nghiệm hiện đại, hợp tác quốc tế thực chất và ngân sách ổn định dài hạn. Không thể có nghiên cứu đỉnh cao nếu đầu tư ngắn hạn, manh mún, dàn trải và thiếu tính liên tục.
Thứ tư, Đại học Quốc gia Hà Nội cần gắn nghiên cứu khoa học với các bài toán lớn của đất nước. Đây là yêu cầu rất đúng và rất cấp thiết. Đại học không thể chỉ nghiên cứu những gì mình có, mà phải nghiên cứu những gì đất nước đang cần và sẽ cần.
Đặc biệt, Đại học Quốc gia Hà Nội phải trở thành “túi khôn” của quốc gia. Khi Nhà nước cần luận cứ khoa học cho những quyết sách chiến lược, Đại học Quốc gia Hà Nội phải là một địa chỉ tin cậy. Khi doanh nghiệp cần công nghệ, nhân lực chất lượng cao và mô hình đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội phải là một đối tác chiến lược. Khi địa phương cần mô hình phát triển, chuyển đổi số, quản trị đô thị, phát triển nguồn nhân lực, Đại học Quốc gia Hà Nội phải có khả năng đồng hành.
Thứ năm, Khu đô thị Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc cần được phát triển như một thành phố đại học – công nghệ – đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ là một khu giảng đường mới.
Một đại học đổi mới sáng tạo trước hết phải có khoa học cơ bản rất mạnh, có như vậy mới làm chủ được các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, đồng thời phải tạo được dòng chảy liên tục từ đào tạo đến nghiên cứu, từ nghiên cứu đến công nghệ, từ công nghệ đến sản phẩm, từ sản phẩm đến doanh nghiệp, và từ doanh nghiệp quay trở lại nuôi dưỡng đại học.
Thứ sáu, cần đột phá về chính sách nhân tài. Cạnh tranh đại học ngày nay thực chất là cạnh tranh nhân tài. Muốn Đại học Quốc gia Hà Nội vươn lên tầm khu vực và quốc tế, phải có cơ chế đủ mạnh để thu hút giáo sư giỏi, nhà khoa học trẻ xuất sắc, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và học giả quốc tế.
Chính sách nhân tài không thể chỉ dừng ở lời mời gọi, mà phải đi kèm điều kiện làm việc, phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, kinh phí, nhà ở, học bổng nghiên cứu sinh, quyền tự chủ học thuật và môi trường khoa học chuyên nghiệp.
Thứ bảy, Đại học Quốc gia Hà Nội phải đổi mới đào tạo theo hướng khai phóng, liên ngành, hiện đại và gắn với trách nhiệm quốc gia. Đại học phải đào tạo con người có tư duy phản biện, năng lực tự học, năng lực liên ngành, năng lực số, ngoại ngữ, tinh thần sáng tạo và ý thức phụng sự.
Sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội phải có năng lực toàn cầu, nhưng đồng thời phải có căn cốt văn hóa Việt Nam, lòng tự trọng dân tộc và trách nhiệm với đất nước.
Cuối cùng, Đại học Quốc gia Hà Nội cần phát huy mạnh mẽ vai trò ngoại giao học thuật. Đại học Quốc gia Hà Nội phải trở thành địa chỉ tiêu biểu của trí tuệ Việt Nam, triển khai thật tốt đối ngoại nhân dân và ngoại giao nhà nước, nơi các học giả lớn, các đại học hàng đầu, các tập đoàn công nghệ và sinh viên quốc tế tìm đến để hợp tác, trao đổi và hợp tác.
1. Đọc giải thích nghĩa của từ mới bằng tiếng Anh (trừ từ chuyên ngành khó hiểu)
Thay vì dùng từ điển Anh-Việt (dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt), hãy chuyển qua dùng từ điển Anh-Anh (như Dictionary, Oxford, Cambridge,...). Cách khác là dùng cú pháp sau trên Google tìm kiếm: Từ cần tra + meaning, hoặc dùng AI của Google hay ChatGPT.
Việc đọc giải nghĩa của từ bằng tiếng Anh là cách giúp bạn luyện nghĩ bằng chính ngôn ngữ này. Đồng thời, từ điển hay AI đều cho bạn ví dụ dễ hiểu.
Ví dụ, khi đã quen đọc định nghĩa của từ bằng tiếng Anh, bạn sẽ không còn nghĩ từ "upset" là "thất vọng, bực bội, buồn phiền" nữa, thay vào đó bạn nghĩ từ này có nghĩa giống "disappointed, unhappy".
2. Nghĩ đơn giản - tìm cách khác
Để bỏ qua thói quen dịch cố hữu, bạn phải học cách diễn đạt nghĩa của một từ bằng nhiều cách.
Ví dụ, khi định mô tả bộ phim "kịch tính" mà không biết diễn đạt sao, hãy vận dụng toàn bộ vốn từ bạn đang có. Thay vì nghĩ "Kịch tính tiếng Anh nói thế nào?", hãy NGHĨ ĐƠN GIẢN, cố gắng giải thích trong khả năng vốn từ có thể.
Ví dụ: The movie made me feel very nervous. I kept wondering what would happen next (Bộ phim khiến tôi cảm thấy rất hồi hộp. Tôi cứ tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo).
Hoặc đơn giản là dùng từ exciting/interesting trong khả năng có thể: The movie was really exciting/interesting (Bộ phim thực sự rất hấp dẫn/thú vị).
3. Học CỤM TỪ, thay vì học từ lẻ
Ví dụ trong câu: I feel guity about lying to my brother (Tôi cảm thấy có lỗi vì đã nói dối anh trai mình). Thay vì học "guilty" (tội lỗi), hãy học cả cụm "to feel guilty about something/doing something" (cảm thấy áy náy/có lỗi) và đặt câu với cả cụm này.
Như vậy, khi nói, bạn sẽ không nghĩ từ lẻ, mà nghĩ theo cả cụm từ, tránh việc dịch trong đầu.
4. Nói dưới áp lực thời gian
Nếu phải nói về công việc của mình trong 5 phút, bạn dễ ậm ờ, vừa nói vừa nghĩ.
Nhưng nếu phải nói ngắn gọn những gì bạn đang làm để kiếm sống trong đúng 45 giây, và tưởng tượng đây là bài thi, bạn sẽ lập tức thấy não bộ linh hoạt hơn nhiều. Bạn không còn thời gian để nghĩ bằng tiếng Việt nữa.
5. Tập nghĩ bằng tiếng Anh (nghe/đọc bằng tiếng Anh)
Giải pháp này rất thực tế và trực tiếp. Bị bao vây bởi tiếng Anh là cách nhanh gọn nhất để chữa bệnh "dịch" dứt điểm.
Ví dụ, thay vì xem Facebook reels/Youtube shorts bằng tiếng Việt, hãy chuyển qua tiếng Anh. Hỏi ChatGPT bằng tiếng Anh thay vì tiếng Việt.
Việc luyện nghe/đọc bằng tiếng Anh giúp bạn huấn luyện não nghĩ bằng tiếng Anh nhiều hơn.
Cụ thể, Thủ tướng quyết định sáp nhập Trường cao đẳng Luật miền Nam (trực thuộc Bộ Tư pháp) vào Đại học Cần Thơ (Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Đồng thời sáp nhập Trường cao đẳng Luật miền Bắc (trực thuộc Bộ Tư pháp) vào Trường đại học Khoa học trực thuộc Đại học Thái Nguyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp được giao chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện bàn giao, tiếp nhận nguyên trạng theo quy định.
Việc tiếp nhận, bàn giao phải bảo đảm hoạt động bình thường, quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, không để xảy ra tiêu cực trong quá trình sáp nhập.
Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm về việc Đại học Cần Thơ tiếp tục đào tạo, cấp bằng cho người học đang học tại Trường cao đẳng Luật miền Nam; Trường đại học Khoa học trực thuộc Đại học Thái Nguyên tiếp tục đào tạo, cấp bằng cho người học đang học tại Trường cao đẳng Luật miền Bắc theo quy định.
Ngoài ra, Thủ tướng quyết định thành lập Phân hiệu Trường đại học Tài chính - Marketing tại tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở Trường đại học Tài chính - Kế toán.
Thủ tướng giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chỉ đạo Trường đại học Tài chính - Marketing, Trường đại học Tài chính - Kế toán thực hiện bàn giao, tiếp nhận nguyên trạng theo quy định.
Quá trình bàn giao, tiếp nhận phải bảo đảm hoạt động bình thường, quyền, lợi ích của người học, nhà giáo, cán bộ quản lý, nhân viên, các bên liên quan.
Việc rà soát lần này thực hiện theo kế hoạch số 179 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, gồm ba nội dung: khảo sát năng lực tiếng Anh; xác định nhu cầu bồi dưỡng đối với nhà giáo dạy tiếng Anh; tổ chức các hoạt động giáo dục và dạy các môn học, chuyên ngành khác bằng tiếng Anh.
Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM đề nghị UBND phường, xã, đặc khu; thủ trưởng cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, nghề nghiệp công lập và ngoài công lập trực thuộc sở thực hiện hai nhiệm vụ:
Một là tổ chức cho nhà giáo (trừ giáo viên dạy tiếng Anh) tự đánh giá năng lực tiếng Anh theo khung năng lực 6 bậc của Việt Nam; rà soát nhu cầu bồi dưỡng để cơ quan quản lý giáo dục các cấp xây dựng kế hoạch phù hợp, phục vụ việc giảng dạy và tổ chức các hoạt động giáo dục bằng tiếng Anh.
Hai là tổng hợp kết quả tự đánh giá, cập nhật số liệu vào bảng tổng hợp tại các liên kết:
Được biết, vào tháng 5-2025 (trước sáp nhập), Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM cũng đã thực hiện kỳ khảo sát năng lực tiếng Anh với quy mô lớn đối với giáo viên, cán bộ quản lý toàn TP.
Theo kết quả khảo sát, đã có 50.278 giáo viên (tiểu học có 22.284 giáo viên, THCS là 10.088 và THPT là 8.229) tham gia thực hiện bài khảo sát trực tuyến theo dạng trắc nghiệm khách quan, thời lượng 90 phút. Trong số 50.278 giáo viên có 4.721 giáo viên tiếng Anh và 45.557 giáo viên các môn học khác.
Các giáo viên thực hiện bài khảo sát năng lực tiếng Anh do Cambridge Assessment English thiết kế và chuẩn hóa, gồm ba kỹ năng nghe, đọc và viết, đánh giá theo khung tham chiếu châu Âu CEFR (từ A1 đến C2).
Kết quả toàn bộ 50.278 giáo viên: A1 chiếm 9,45%; A2: 11,35%; B1: 35,09%; B2: 13,63%; C1: 3,69%; C2: 0,29%; các trình độ khác: 26,5%.
Tính riêng từng cấp:
Tiểu học (22.284 giáo viên): A1: 9,95%; A2: 11,85%; B1: 34,46%; B2: 13,43%; C1: 1,91%; C2: 0,17%...