Ở nhiều vùng nông thôn miền Bắc, cây dâm bụt từ lâu đã quen thuộc với hình ảnh hàng rào xanh mướt, nở hoa rực rỡ quanh năm. Thế nhưng ít ai biết rằng, bên cạnh giá trị làm cảnh, phần lá của loài cây này còn có thể trở thành nguyên liệu cho những món ăn dân dã trong đời sống hằng ngày.
Tại một số nơi người dân từ lâu đã sử dụng lá dâm bụt như một loại rau quen thuộc trong bữa cơm gia đình. Lá thường được chọn ở độ bánh tẻ không quá non cũng không quá già để giữ được độ mềm vừa phải và hạn chế độ nhớt khi chế biến. Khi nấu đúng cách, lá có vị ngọt nhẹ, dễ ăn và khá lạ miệng.
Theo kinh nghiệm dân gian, lá dâm bụt còn được xem là thực phẩm có tính mát, rất phù hợp để sử dụng trong những ngày hè oi bức. Vì vậy, loại rau dân dã này thường xuất hiện trong bữa ăn như một cách giúp cân bằng vị giác và làm dịu cái nóng của thời tiết.
Hoa dâm bụt có nhiều loại, phổ biến nhất là dâm bụt đỏ và trắng, nở quanh năm với cánh hoa mềm, vị chua nhẹ và thanh mát. Chính hương vị đặc trưng này giúp loài hoa dân dã trở thành nguyên liệu thú vị trong nhiều món ăn truyền thống.
Ở các vùng quê, người dân từ lâu đã tận dụng hoa dâm bụt để chế biến món ăn như gỏi, canh hay trà. Mỗi cách chế biến lại mang đến một trải nghiệm vị giác riêng, vừa lạ miệng vừa dễ ăn, đặc biệt phù hợp trong những ngày nắng nóng.
Một trong những món phổ biến nhất là gỏi hoa dâm bụt. Cánh hoa sau khi làm sạch được trộn cùng rau thơm, lạc rang, hành phi và nước mắm chua ngọt, tạo nên món ăn giòn nhẹ, thanh mát.
Ngoài ra, hoa dâm bụt còn được nấu canh với tôm hoặc thịt băm. Khi chín, cánh hoa mềm nhưng không nát, nước canh có vị chua dịu tự nhiên, giúp giải nhiệt rất tốt.
Không dừng lại ở đó, hoa còn được dùng để pha trà. Cánh hoa phơi khô, hãm với nước sôi cho ra thức uống màu đỏ đẹp mắt, vị chua nhẹ, có thể dùng nóng hoặc lạnh tùy thích.
Ngày nay, hoa dâm bụt còn được chế biến thành siro, mứt hoặc thạch. Siro có vị chua ngọt hài hòa, thường dùng để pha nước giải khát; còn mứt hoa dâm bụt dẻo thơm, lạ miệng và bắt mắt.
Tuy nhiên, khi sử dụng làm thực phẩm, cần chọn hoa sạch, không thuốc bảo vệ thực vật, ưu tiên hoa trồng tại vườn nhà và sơ chế kỹ trước khi chế biến.
Hoa dâm bụt chứa nhiều dưỡng chất như vitamin C, beta-caroten, riboflavin, thiamin cùng các hợp chất flavonoid, alcaloid và sterol. Nhờ đó, loài hoa này được nhiều nghiên cứu ghi nhận có tiềm năng hỗ trợ sức khỏe.
Trà hoa dâm bụt được cho là có khả năng chống oxy hóa, hỗ trợ điều hòa huyết áp, bảo vệ tim mạch, hỗ trợ chức năng gan, cải thiện tâm trạng và giúp kiểm soát cân nặng.
Ngoài ra, một số nghiên cứu còn cho thấy chiết xuất từ hoa dâm bụt có đặc tính kháng khuẩn tự nhiên, góp phần hỗ trợ phòng ngừa một số bệnh lý nhiễm khuẩn khi sử dụng hợp lý.
Từ một loài hoa mọc ven hàng rào, hoa dâm bụt nay đã “lên đời” thành nguyên liệu ẩm thực và thức uống được nhiều người quan tâm, vừa dân dã vừa giàu giá trị dinh dưỡng.
TS. Rashmi Aderao, chuyên gia da liễu tại phòng khám Ruby Hall (Ấn Độ), cho biết hoa dâm bụt chứa nhiều axit amin có khả năng hỗ trợ quá trình sản sinh keratin thành phần quan trọng giúp tóc chắc khỏe, bóng mượt và cải thiện cấu trúc sợi tóc tự nhiên.
Theo chuyên gia, loài hoa này còn giúp tăng cường lưu thông máu ở da đầu, từ đó nuôi dưỡng nang tóc tốt hơn và kích thích quá trình mọc tóc. Bên cạnh đó, các flavonoid trong dâm bụt hoạt động như một lớp “lá chắn” tự nhiên, giúp bảo vệ tóc và da đầu trước tác hại của tia UV, đồng thời mang lại cảm giác mát dịu, giảm kích ứng da đầu.
Ngoài ra, nhờ chứa lượng chất nhầy tự nhiên, hoa và lá dâm bụt có kết cấu hơi sệt, giúp cấp ẩm hiệu quả cho da đầu khô. Hàm lượng chất chống oxy hóa dồi dào cũng góp phần hỗ trợ giảm rụng tóc và cải thiện sức khỏe tổng thể của mái tóc.
Mới đây, anh Lợi (sống tại xã Phúc Hòa, tỉnh Bắc Ninh) chia sẻ những hình ảnh về một cây vải cổ thụ cao lớn, tán lá sum suê, quả sai trĩu cành, thu hút nhiều lượt tương tác.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, anh Lợi cho biết, cây vải nằm trên địa bàn thôn Thái Hà, xã Phúc Hòa. Từ khi còn nhỏ, anh cùng bạn bè trong làng đã quen thuộc với hình ảnh cây vải sừng sững giữa khu đất của một hộ dân.
Cây cao khoảng 15m, tán xoè rộng ra xung quanh. Thân xù xì, lớn đến mức phải 3-4 người trưởng thành ôm mới xuể. Mỗi mùa quả chín, những chùm vải đỏ hồng sai lúc lỉu từ gốc đến ngọn.
"Năm nay, nhờ hình ảnh được chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội và các phương tiện truyền thông, nhiều du khách đã tìm đến để tham quan, chụp ảnh", anh Lợi cho hay.
Hiện nay, chủ nhân của cây vải là gia đình anh Dương Đức Chung, sinh sống tại thôn Thái Hà.
Theo anh Chung, mảnh đất nơi cây vải tọa lạc từng thuộc sở hữu của một gia đình giàu có. Ông bà anh mua lại để lập nghiệp rồi truyền cho con cháu đời sau.
Thời điểm vải chín rộ, mỗi ngày, gia đình anh đón khoảng 200-300 lượt khách tới tham quan, chụp ảnh. Trong số đó, không ít người vượt quãng đường hàng trăm ki-lô-mét từ Đồng Tháp, Lâm Đồng...
"Nhìn những chùm vải sai trĩu quả xuất hiện trên mạng xã hội, nhiều người nghĩ đó là hình ảnh được làm bằng trí tuệ nhân tạo. Họ muốn đến tận nơi để tận mắt chứng kiến và lưu lại những khoảnh khắc đáng nhớ”, anh Chung chia sẻ.
Để cây vải hơn một thế kỷ duy trì sức sống bền bỉ, hàng năm gia đình phải dành nhiều thời gian chăm sóc. Công việc tỉa cành, phun thuốc trừ sâu mất vài ngày mới hoàn thành. Chủ nhân phải leo thang lên những tán cây cao cắt bỏ cành già, tạo độ thông thoáng, giúp cây ra hoa, kết trái đều.
"Để thu hoạch quả trên các cành cao nhất, chúng tôi phải thuê máy cẩu vươn cao khoảng 15-20m mới hái được. Quả vải thơm, ngon, ngọt nên được bán hết sau khi hái", anh cho biết.
Cây vải do một cô dâu của làng đem về trồng
Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Bùi Văn Phong (Trưởng thôn Thái Hà), cho biết đến thời điểm hiện tại toàn bộ số quả trên cây vải đã được thu hoạch.
Cây vải có tuổi ước tính hơn 100 năm, thuộc giống u hồng. Trải qua nhiều thế hệ, cây vẫn sinh trưởng tốt, chưa từng mất mùa. Riêng năm nay, cây cho sản lượng khoảng 8 tạ quả.
Theo lời kể của các bậc cao niên, cây vải cổ thụ này gắn với câu chuyện của bà Lý Đông - một người phụ nữ quê Hải Dương (nay thuộc thành phố Hải Phòng) - về làm dâu tại thôn Thái Hà. Khi đó, bà thuê người gánh cây vải giống vượt quãng đường xa mang về trồng trên mảnh đất này.
"Trải qua hơn một thế kỷ, từ một cây giống nhỏ bé, cây vải đã vươn mình cao lớn, tán rộng sum suê, trở thành niềm tự hào của người dân địa phương”, vị trưởng thôn chia sẻ.
Những năm trước, gia chủ tự thu hoạch quả, còn thôn hỗ trợ kinh phí chăm sóc từ 2-3 triệu đồng mỗi năm để gìn giữ cây vải lâu đời.
"Năm nay, địa phương tổ chức đấu giá quyền thu hoạch và một doanh nghiệp ở Bắc Ninh đã trúng đấu giá. Vải trên cây này nổi tiếng ngọt, cùi dày nên được nhiều người ưa chuộng”, ông Phong cho biết.
Trên địa bàn thôn Thái Hà có khoảng 100 hộ trồng vải. Năm nay, do tác động của thời tiết nên sản lượng loại trái cây này của thôn giảm khoảng 60% so với năm ngoái.
"Bây giờ tôi mà quay về thì dang dở", Phương Nhi, 31 tuổi, sống tại bang Illinois, Mỹ nói.
Năm 2004, bà Tô Thị Hồng (mẹ Nhi) ở phường Phú Định, TP HCM được chị ruột bảo lãnh sang Mỹ định cư theo diện F4 (chị em ruột bảo lãnh nhau). Hồ sơ cho phép chồng và các con dưới 21 tuổi độc thân đi kèm. Lúc đó, gia đình có 6 thành viên, gồm vợ chồng bà Hồng và bốn người con, trong đó Phương Nhi là con út.
Sau 15 năm chờ đợi, năm 2019 hồ sơ của bà Hồng được duyệt nhưng ba người con đã quá tuổi đi kèm. Vợ chồng bà và Phương Nhi, 24 tuổi (được tính dưới 21 tuổi nhờ Đạo luật CSPA) đủ điều kiện định cư.
Để đưa ba người con còn lại sang Mỹ, vợ chồng bà Hồng nộp hồ sơ diện F2B (con trên 21 tuổi chưa kết hôn của thường trú nhân). Họ dự kiến chờ 5 năm, nhưng đến nay hồ sơ vẫn chưa hoàn tất.
Tại Mỹ, vợ chồng bà Hồng không biết tiếng Anh để giao tiếp, không nghề nghiệp và thu nhập. Họ phụ thuộc hoàn toàn vào tiền từ Việt Nam gửi sang.
Ban đầu, bà Hồng thích không khí trong lành, yên tĩnh của nước Mỹ, nhưng sự hào hứng dần phai. Hàng ngày, bà đi bộ một vòng công viên rồi về nấu ăn, cuối tuần chờ con chở đi siêu thị châu Á. Chồng bà, ông Minh, nhiều lần học lái xe nhưng đều bỏ dở vì sợ tốc độ cao trên cao tốc. Không có bằng lái, ông ví mình như "người mất chân". Nơi họ sống thưa dân và hiếm người Việt.
Cách đây bốn năm, người chị đứng đơn bảo lãnh qua đời vì ung thư khiến động lực ở lại Mỹ của vợ chồng bà Hồng không còn như trước. Cứ khoảng 6 tháng, họ lại mua vé bay về Việt Nam. Việc rời Mỹ nhiều tháng khiến ông bà bị ngắt quãng chuỗi cư trú liên tục, không đủ điều kiện thi lấy quốc tịch.
Về phần Phương Nhi, sau khi bỏ dở chương trình thạc sĩ tại Việt Nam cô học lại bằng đại học chuyên ngành marketing trong hai năm để tìm việc. Sau giờ làm, cô chỉ xem phim, đọc truyện để lấp đầy khoảng trống.
Ba anh chị của Nhi ở lại Việt Nam hơn 20 năm qua không dám yêu đương, kết hôn vì sợ ảnh hưởng đến việc xét duyệt hồ sơ định cư.
Nhớ Việt Nam, Phương Nhi muốn về nước. Nhưng cuối năm 2022, luật sư thông báo hồ sơ của ba anh chị em đã bước vào giai đoạn xử lý tại Trung tâm Thị thực Quốc gia (NVC). Cô tiếp tục ở lại Mỹ chờ đợi.
Tình cảnh của gia đình Nhi không hiếm gặp trên các hội nhóm của những người chuẩn bị di cư Mỹ. Dữ liệu năm 2025 của Sở Di trú và Nhập tịch Mỹ (USCIS) ghi nhận khoảng 2,4 triệu đơn I-130 (công dân hoặc thường trú nhân Mỹ bảo lãnh người thân sang định cư) đang chờ xét duyệt.
Nghiên cứu của Viện Cato (Mỹ) chỉ ra thời gian chờ trung bình cho các diện bảo lãnh gia đình tăng từ 4 năm 3 tháng (năm 1991) lên 8 năm 1 tháng (năm 2018). Trong đó, diện F4 có thời gian chờ lâu nhất, trung bình 14 năm 7 tháng. Chờ đợi khiến nhiều người bỏ lỡ các cột mốc quan trọng cuộc đời như học hành, kết hôn, sinh con, chăm sóc cha mẹ.
Ông José Latour, Luật sư trưởng của Văn phòng Luật di trú LatourLaw, trụ sở ở TP HCM, cho biết nhóm hồ sơ toàn cầu diện F4 hiện mới giải quyết đến các đơn nộp trước năm 2008.
"Trong nền văn hóa coi trọng gia đình như Việt Nam, sự chậm trễ này tạo ra áp lực lớn", luật sư nói. Trong 33 năm hỗ trợ các gia đình chuẩn bị hồ sơ định cư Mỹ, ông từng chứng kiến nhiều người phải hoãn việc học của con, hoãn nghỉ hưu, đám cưới hay lễ tốt nghiệp. "Họ không biết mình nên chờ đợi cơ hội định cư hay từ bỏ để ổn định cuộc sống tại quê nhà", ông José Latour nói.
Ông dẫn chứng trường hợp một người cha nộp hồ sơ diện F4, luôn giữ tâm thế sẵn sàng lên máy bay nên dừng mọi kế hoạch đầu tư dài hạn tại Việt Nam với hy vọng các con được sang Mỹ học tập. Khi con ông đã tốt nghiệp đại học, đi làm và quá 21 tuổi khi người cha được cấp thị thực và không còn đủ điều kiện đi cùng. Người con này rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan giữa việc chờ khiếu nại để giữ cơ hội định cư Mỹ hay kết hôn ở Việt Nam để ổn định cuộc sống và chấp nhận từ bỏ quyền lợi di trú.
Từ thực tế trên, đại diện LatourLaw khuyên các gia đình nên chủ động chuẩn bị kế hoạch học tập, nghề nghiệp và tài chính theo kịch bản thời gian chờ kéo dài, thay vì phụ thuộc vào mốc xét duyệt của cơ quan di trú.
Ông José Latour tin rằng Mỹ sẽ sớm quay lại truyền thống đón nhận người nhập cư hợp pháp và quy trình xử lý hồ sơ bảo lãnh gia đình sẽ hiệu quả hơn trong vài năm tới.
Giữa tháng 4, khoảng 20 người trẻ ngồi trong phòng họp ở Thượng Hải để tham gia tọa đàm về các ý tưởng khởi nghiệp. Sự kiện do Karen Dai, người sáng lập nền tảng hỗ trợ khởi nghiệp SoloNest, tổ chức.
Mô hình khởi nghiệp "công ty một người" từng thịnh hành ở Thung lũng Silicon, nay lan rộng tại Trung Quốc. Làn sóng này được thúc đẩy khi chính quyền các thành phố cam kết tài trợ hàng triệu USD để tự chủ công nghệ. "Công ty một người là sản phẩm của kỷ nguyên AI", Dai nói.
Theo bà, việc tự điều hành doanh nghiệp trước đây rất khó khăn, nhưng khả năng hỗ trợ của AI hiện nay đã hạ thấp rào cản.
Nhiều năm qua, mạng xã hội Trung Quốc liên tục tranh luận về "lời nguyền tuổi 35", thuật ngữ ám chỉ việc nhân viên của các công ty công nghệ bị đào thải khi bước vào độ tuổi này. "Ở tuổi 35, dường như có một ranh giới vô hình. Công ty sẽ đánh giá lại xem ai phù hợp hơn để ở lại", Dai cho biết.
Để tránh rủi ro, nhiều người chọn cách làm chủ. Wang Tianyi, 26 tuổi, cựu quản lý sản phẩm của một công ty Internet, hiện kiếm 5.800 USD mỗi tháng nhờ làm video quảng cáo bằng AI. "Nhờ công nghệ, các công ty một người có lợi thế lớn về hiệu suất", Wang nói.
Wei Xin, 34 tuổi, ở Thượng Hải sớm nhận ra công việc đánh giá tài liệu tại một công ty tư vấn nước ngoài sẽ bị AI thay thế. Cô học cách dùng Google Gemini, tự tạo phiên bản kỹ thuật số và chuyển sang làm sáng tạo nội dung. "Nếu không tiếp cận và sử dụng AI, tôi sẽ sớm bị đào thải", Wei, người từng du học tại Mỹ cho biết.
Chính quyền các địa phương tại Trung Quốc đang hỗ trợ mô hình kinh doanh này, thường gọi là OPC (One-person company).
Tháng 11/2025, thành phố Tô Châu cam kết đào tạo hơn 10.000 nhân tài OPC vào năm 2028 và rót khoảng 100 triệu USD vào các lĩnh vực robot, chăm sóc sức khỏe. Tháng trước, thành phố Thành Đô cũng thông báo trợ cấp khoảng 2.800 USD cho sinh viên tốt nghiệp thành lập công ty một người sử dụng AI.
Ông Kyle Chan, nghiên cứu viên Viện Brookings, đánh giá các biện pháp này là chất xúc tác giúp doanh nghiệp nhỏ cất cánh. Theo ông, tài trợ cho OPC là giải pháp chi phí thấp nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp, khi 1/6 lao động trẻ Trung Quốc (16 đến 24 tuổi) đang thất nghiệp.
Chủ tịch Alibaba.com Kuo Zhang cho biết khoảng 30-40% khách hàng của nền tảng thương mại điện tử này hiện là "doanh nhân độc lập". Hãng vừa ra mắt Accio Work, một trợ lý AI thiết kế riêng cho các doanh nghiệp nhỏ. Công cụ có 10 triệu người dùng hàng tháng này giúp quản lý dịch vụ khách hàng, tuân thủ thuế, tiếp thị và hậu cần.
Tuy nhiên, bài toán khó nhất của các doanh nghiệp mới vẫn là làm thế nào để bán được sản phẩm và tạo lợi nhuận. Dai nhận định giới trẻ đang đầu tư vào các kế hoạch dự phòng. Họ tự hỏi liệu có thể dùng AI để làm chủ cuộc sống và theo đuổi đam mê thay vì chật vật xin việc tại các tập đoàn.
Thêm vào đó, bức tranh khởi nghiệp không phải lúc nào cũng mang màu hồng. Theo dữ liệu từ Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH), khoảng 70% các nhà sáng lập độc lập thất bại trong hai năm đầu tiên, cao gần gấp đôi so với các dự án có nhóm đồng sáng lập (40%). Sự kiệt quệ tâm lý khi phải tự đưa ra mọi quyết định, cùng với việc khó gọi vốn từ các quỹ đầu tư là những rào cản lớn nhất khiến nhiều 'công ty một người' sớm sụp đổ.
Theo dữ liệu mới nhất cập nhật năm 2026 từ Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS) và LendingTree, trung bình có khoảng 20% - 22% doanh nghiệp nhỏ và công ty siêu nhỏ thất bại ngay trong năm đầu tiên. Tỷ lệ này tăng lên xấp xỉ 50% sau 5 năm và 65,3% sau 10 năm. Riêng với mô hình startup công nghệ nói chung, tỷ lệ thất bại thực tế luôn neo ở mức 90%.