UBND TP Hà Nội đang lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Nghị quyết của HĐND thành phố quy định cơ chế, chính sách về đầu tư, phát triển và hỗ trợ nhà ở; ưu đãi, hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở phục vụ tái định cư, nhà lưu trú và các loại hình nhà ở khác; việc sử dụng ngân sách thành phố để đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội thiết yếu phục vụ các dự án nhà ở theo quy hoạch.
Dự thảo nghị quyết có 1 chương quy định về chính sách hỗ trợ nhà ở.
Về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội, dự thảo nghị quyết quy định ngoài các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở, thành phố xem xét hỗ trợ đối với một số trường hợp khi có nhu cầu về nhà ở trên địa bàn thành phố.
Một là nhân lực khoa học và công nghệ, nhân lực công nghệ cao, chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực số, người lao động làm việc trong các lĩnh vực ưu tiên phát triển của thành phố theo định hướng kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học và các ngành, lĩnh vực trọng điểm khác do UBND thành phố quy định.
Hai là cá nhân trực tiếp tham gia thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án trọng điểm, công trình trọng điểm, dự án chiến lược, dự án đầu tư quy mô lớn có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội của thành phố theo danh mục do cấp có thẩm quyền xác định.
Ba là các đối tượng khác có đóng góp đặc biệt cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số hoặc phát triển kinh tế – xã hội của thành phố theo quyết định của UBND thành phố.
Trường hợp người được hỗ trợ không còn đáp ứng điều kiện, chấm dứt làm việc tại thành phố, vi phạm cam kết hoặc sử dụng nhà ở không đúng mục đích thì bị xem xét thu hồi theo quy định, theo dự thảo nghị quyết.
Về chính sách hỗ trợ nhà ở nhân lực chất lượng cao, dự thảo nghị quyết quy định điều kiện được hỗ trợ là phải có hợp đồng làm việc, quyết định tuyển dụng hoặc văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc tham gia chương trình, dự án thuộc diện thu hút, phát triển nhân lực chất lượng cao của thành phố.
Cùng với đó, nhân lực chất lượng cao phải cam kết làm việc, cống hiến cho thành phố trong thời gian tối thiểu 5 năm theo quy định.
Đồng thời, các trường hợp này chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở khác của Nhà nước trên địa bàn thành phố, trường hợp đã có nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp nhưng không bảo đảm điều kiện phục vụ công tác do khoảng cách xa nơi làm việc thì được xem xét bố trí thuê nhà ở theo quy định của UBND thành phố.
Các trường hợp này phải đáp ứng tiêu chí chuyên môn, trình độ, thành tích, đóng góp theo quy định cụ thể của UBND TP Hà Nội.
Dự thảo nghị quyết quy định nhân lực chất lượng cao đủ điều kiện có thể được hỗ trợ cho thuê nhà ở trong thời gian công tác, làm việc tại thành phố. Trường hợp cam kết làm việc, cống hiến cho thành phố từ 5 năm đến dưới 10 năm thì được tặng nhà ở chung cư hoặc giảm tối đa 50% tiền mua nhà ở biệt thự, nhà ở liền kề.
Bên cạnh đó, trường hợp cam kết làm việc, cống hiến cho thành phố tối thiểu 10 năm trở lên thì được tặng nhà ở như biệt thự, liền kề hoặc chung cư, theo dự thảo nghị quyết.
UBND TP Hà Nội sẽ quy định chi tiết tiêu chí, điều kiện được hỗ trợ nhà ở cho nhân lực công nghệ cao, việc quản lý, thu hồi và các nội dung cần thiết khác để tổ chức thực hiện.
Tin Gốc: Dân Trí

Sáng 30/6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Báo Dân trí trân trọng giới thiệu Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị.
Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương,
Thưa toàn thể các đồng chí đảng viên, cán bộ lão thành, nhân dân cả nước và cộng đồng doanh nghiệp tham dự Hội nghị,
Chúng ta đã nghe đồng chí Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ giới thiệu những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 10 và các ý kiến tham luận. Tôi đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của các cơ quan trong quá trình xây dựng Nghị quyết; ghi nhận những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm tại Hội nghị hôm nay và sự quan tâm theo dõi Hội nghị của đông đảo cán bộ, đảng viên, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và Nhân dân.
Nghị quyết số 10 ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Bộ Chính trị ban hành trên cơ sở tổng kết gần 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng. Đây là nghị quyết thể hiện sự thay đổi trong tư duy phát triển, không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn mà đã chủ động lựa chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tôi lắng nghe ý kiến góp ý của các địa phương, các ngành và các bạn quốc tế, càng nhận thấy rõ, vốn rất quan trọng, nhưng không phải chỉ có vốn mà rất cần công nghệ nước ngoài, điều này cũng đã được thể hiện trong nội dung Nghị quyết.
Từ Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, qua nhiều lần sửa đổi, hợp nhất và hoàn thiện Luật đầu tư, Việt Nam từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập, xây dựng môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, minh bạch và ổn định hơn. Quá trình đó đã đưa Việt Nam từ một nền kinh tế khép kín, thiếu vốn và phụ thuộc nhiều vào viện trợ quốc tế trở thành nền kinh tế có độ mở cao, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Từ chỗ thương mại quốc tế chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ vào cuối những năm 1980, đến nay Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm hơn 180% GDP, trong đó FDI chiếm khoảng 75%). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng, xuất khẩu, công nghiệp hóa, tạo việc làm, tiếp nhận công nghệ và phương thức quản trị hiện đại.
Ngày nay, Việt Nam đã ở một vị thế khác. Chúng ta không còn đặt câu hỏi làm thế nào để có thêm vốn nước ngoài nữa, thay vào đó chúng ta phải trả lời câu hỏi hóc búa hơn: làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế.
Chúng ta cần nhìn thẳng vào những hạn chế trong hoạt động thu hút FDI:
- Tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển và đào tạo nhân lực chất lượng cao chưa đạt như kỳ vọng.
- Nhiều dự án đầu tư nước ngoài vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, sử dụng nhiều đất đai, lao động phổ thông, năng lượng giá rẻ, tiêu chuẩn môi trường thấp, hoặc dựa nhiều vào ưu đãi, chưa tạo được năng lực mới cho nền kinh tế.
- Một số địa phương còn cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng dự án, dựa trên ưu đãi đất đai, thuế, phí mà chưa chú trọng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm năng lượng, đóng góp ngân sách, chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp trong nước và bảo đảm môi trường, an ninh kinh tế. Nhiều khu vực vẫn còn là vùng trũng trong thu hút đầu tư nước ngoài (như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc).
Để khắc phục những hạn chế này, Nghị quyết 10 đặt ra những mục tiêu và yêu cầu cao hơn nhiều: phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đến năm 2030: Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Đồng thời, đặt ra nhiều chỉ tiêu cụ thể khác.
Để đạt được những mục tiêu cao này đòi hỏi chúng ta phải nhận thức sâu sắc toàn bộ nội dung Nghị quyết để hành động quyết liệt hơn, nhanh hơn và thực chất hơn trong tư duy về đầu tư nước ngoài. Đó là:
- Phải chủ động tiếp cận, lựa chọn, dẫn dắt và sử dụng hiệu quả các dòng vốn quốc tế để bồi đắp năng lực quốc gia.
- Phải tính toàn hiệu quả thu hút bằng năng suất và chất lượng của vốn, trình độ công nghệ sử dụng, số việc làm chất lượng cao, đào tạo kỹ sư, nhà quản trị Việt Nam, kết nối doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng, tạo thêm giá trị gia tăng, tham gia các hoạt động đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
- Chúng ta không chỉ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính mà phải tổ chức theo liên kết cụm ngành, chuỗi giá trị, hệ sinh thái công nghiệp, đổi mới sáng tạo và không gian liên vùng.
- Chúng ta không cạnh tranh bằng cách hạ thấp tiêu chuẩn hay đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh và an ninh kinh tế lấy tăng trưởng trước mắt mà phải cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, hạ tầng hiện đại, nhân lực chất lượng cao, chi phí tuân thủ thấp, dịch vụ công chuyên nghiệp và môi trường kinh doanh ổn định, có thể dự báo.
- Một điều cần phải lưu ý là triển khai Nghị quyết 10 gắn chặt với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ chính trị, nhất là Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79 về phát triển kinh tế nhà nước. Mục tiêu của thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là phải biến các nguồn lực đó thành năng lực của nền kinh tế Việt Nam. Muốn vậy, doanh nghiệp tư nhân trong nước phải có điều kiện tham gia, học hỏi và từng bước vươn lên trong chuỗi giá trị. Kinh tế nhà nước phải đầu tư và dẫn dắt ở những lĩnh vực nền tảng, chiến lược, tạo hạ tầng và dư địa phát triển cho các khu vực khác. Cả 3 khu vực kinh tế trên không phát triển rời rạc mà phải hợp tác và cùng cộng hưởng trong một chiến lược chung.
Chính sách thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) không còn cho phép các nước hào phóng với ưu đãi thuế nữa, nhất là khi chúng ta muốn thu hút các tập đoàn đa quốc gia toàn cầu. Một số nước trong khu vực ASEAN đẩy mạnh thu hút dự án về bán dẫn, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, điện tử, năng lượng sạch, tài chính quốc tế và đang rất thành công như Singapore, Indonesia, Malaysia, Thái Lan.
Việt Nam cần đầu tư thật tốt cho hạ tầng, năng lượng sạch, nâng cấp chất lượng thể chế, kiến tạo độ tin cậy của chính sách, đào tạo kỹ năng lao động, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường vốn, cải thiện chất lượng hệ sinh thái nhà cung ứng, v.v…
Trên tinh thần đó, tôi đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 08 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác. Chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết lâu dài đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam. Đồng thời, phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ, ngành phải rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh và thị trường. Kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương. Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp. Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và phục vụ doanh nghiệp. Không chỉ giải quyết thủ tục nhanh hơn, mà phải giúp nhà đầu tư dự báo được chính sách, nhìn rõ triển vọng và yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng. Ngược lại, dự án chậm triển khai, sử dụng đất lãng phí, gây ô nhiễm, chuyển giá, vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng cam kết phải bị xử lý nghiêm. Tùy theo mức độ vi phạm, nếu cần thiết thì thu hồi ưu đãi, thu hồi đất hoặc chấm dứt dự án.
Thứ tư, phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết. Các bộ, ngành, địa phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà cung ứng, tăng cường kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và cơ hội hợp tác. Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Không có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, kỹ thuật viên và nhà quản trị giỏi thì không thể thu hút, giữ chân các dự án công nghệ cao, cũng không thể chuyển từ gia công, lắp ráp sang thiết kế, nghiên cứu, sản xuất sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Các địa phương có Khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao phải chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, cụm liên kết và các dự án chiến lược. Phải tạo điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia, người lao động. Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển Khu công nghiệp manh mún, dàn trải, thiếu kết nối, thiếu nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. (Xác định rõ đối tác cần mời, ngành cần thu hút, địa điểm dự án và các điều kiện cần chuẩn bị về đất đai, điện, hạ tầng, nhân lực, chính sách và nhà cung ứng). Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện, khuyến khích để nhà đầu tư mở rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước.
Cần cơ cấu lại và nâng cao năng lực cơ quan xúc tiến đầu tư ở cả Trung ương và địa phương.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Nghị quyết 10 không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho khu vực. Quá trình này phải gắn với an ninh tài chính, an toàn hệ thống, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro về dòng vốn, rửa tiền, đầu cơ, thao túng thị trường.
Thưa các đồng chí và các bạn,
Nghị quyết 10 chỉ đi vào cuộc sống khi được tổ chức thực hiện quyết liệt, thực chất, lấy kết quả làm thước đo. Mỗi bộ, ngành phải có chương trình hành động cụ thể, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm. Mỗi địa phương phải xây dựng chiến lược thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, lợi thế, điều kiện phát triển và khả năng liên kết vùng. Không thể để địa phương nào cũng chạy theo cùng một loại dự án, nơi nào cũng muốn làm cảng biển, sân bay, trung tâm dữ liệu hay khu công nghệ cao mà không dựa trên quy hoạch, nguồn lực, hạ tầng và lợi thế so sánh.
Phải quy hoạch tổng thể, phải phân công, phân cấp rõ ràng, gắn với điều phối hiệu quả. Trung ương định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, điều phối liên vùng, sàng lọc dự án lớn và giám sát thực hiện. Địa phương phải chủ động, sáng tạo, nhưng không được cạnh tranh bằng cách phá vỡ quy hoạch, hạ thấp tiêu chuẩn hoặc đánh đổi lợi ích lâu dài. Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo từng ngành, địa phương; Cần chú trọng thống kê dự án đầu tư nước ngoài về: trình độ công nghệ, giá trị gia tăng, liên kết với doanh nghiệp nội địa, tình trạng sử dụng đất, đóng góp ngân sách, đào tạo nhân lực, môi trường, v.v… Việc đánh giá cán bộ, cơ quan, địa phương trong thu hút đầu tư cũng phải dựa trên các tiêu chí đó.
Thưa các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,
Cảm ơn các bạn đã chọn Việt Nam chúng tôi là quê hương thứ hai, đã sống và làm việc tại Việt Nam, đã đầu tư tại Việt Nam. Các bạn đã hưởng ứng rất tích cực Nghị quyết 10 của chúng tôi mặc dù nghị quyết này mới ban hành ngày 8/6/2026, đến nay mới được 22 ngày và chính thức triển khai ngày hôm nay. Tôi nghe những phát biểu và đặc biệt là cũng còn rất nhiều các nhà đầu tư khác chưa phát biểu ở đây. Nhưng tôi đã cảm nhận được Nghị quyết này cũng đã đáp ứng được các nhu cầu, cũng như giải quyết được một số những kiến nghị của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay. Cảm ơn các bạn về những đề xuất rất thực tế để triển khai. Tôi đề nghị Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên, Bộ Khoa học và Công nghệ và các địa phương có chương trình để phối hợp, triển khai nghiên cứu những đề xuất, kiến nghị của các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng tôi rất hoan nghênh các bạn tiếp tục đầu tư tại Việt Nam, hợp tác cùng phát triển, lợi ích cùng chia sẻ hài hòa. Chúng tôi đảm bảo môi trường thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh, làm việc và sống an toàn, thành công nhất ở Việt Nam.
Thưa các đồng chí và các bạn,
Chúng ta bước vào giai đoạn phát triển thế hệ mới với một tâm thế mới. Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra giá trị mới. Chúng ta hoan nghênh các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam làm ăn lâu dài, tuân thủ pháp luật, tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động, cộng đồng và đất nước, cùng chia sẻ công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tinh thần của Nghị quyết 10 rất rõ: thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Tôi đề nghị toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong, ngoài nước phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, biến chủ trương đúng đắn thành những dự án tốt, doanh nghiệp mạnh, chuỗi giá trị mới, việc làm chất lượng cao và năng lực mới cho đất nước.
Đó là cách thiết thực nhất để tiếp tục viết nên một chương mới của công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển; đưa Việt Nam tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tin Gốc: Dân Trí

Một buổi sáng ngày đầu tháng 7, cơn mưa bất chợt dội xối xả khắp các tuyến phố ở Hà Nội. Dòng xe vốn chen chúc trên đường càng trở nên chật vật dưới màn mưa lớn. Người tham gia giao thông cố nhích từng chút trong vội vã, người ướt sũng chôn chân tại các điểm ngập.
Đối lập hoàn toàn với bức tranh ngột ngạt đó, phía trên cao tại ga metro Cầu Giấy, không gian lại sạch sẽ, mát mẻ và yên tĩnh. Tại đây, chúng tôi gặp Lại Xuân Trà (19 tuổi, sinh viên năm nhất Trường đại học Sư phạm Hà Nội), đang thong dong xuống ga sau một chuyến đi êm ái.
Suốt thời gian theo học tại Hà Nội, Trà không đi xe máy. Trước mắt, cậu sinh viên cũng chưa có ý định mua xe vì nhu cầu đi lại chưa cao. Với Trà, việc phải đi trên đường phố Hà Nội bằng xe máy là một nỗi ám ảnh vì tình trạng tắc đường, chen lấn, khói bụi và nguy cơ mất an toàn giao thông.
"Do còn đang đi học chưa phải đi lại nhiều nên mọi di chuyển của em đều bằng tàu điện kết hợp với xe buýt và đi bộ. Các chuyến tàu có thể đi xa, nhiều nhà ga để lên xuống, quan trọng là sạch sẽ và giá vé hợp túi tiền sinh viên", Trà tâm sự.
Trà cho biết cũng đã tìm hiểu về mạng lưới 18 tuyến đường sắt đô thị vừa được Hà Nội công bố và coi đây là một niềm vui lớn khi tương lai có thể di chuyển khắp Hà Nội cũng như các vùng ngoại thành xa bằng tàu điện.
"Sau này, khi có người yêu, em sẽ dẫn bạn gái đi chơi bằng tàu điện. Trong thời gian tàu chạy, em sẽ có nhiều thời gian để trò chuyện với bạn gái, không phải căng thẳng nhìn đường như đi xe máy", Trà cười nói.
Bên cạnh những thuận lợi hiện tại, Trà cũng trăn trở về tương lai xa khi đi làm, cần đi nhiều nơi hơn, mong rằng các tuyến metro trong quy hoạch sẽ sớm được hoàn thiện để người dân được thuận tiện hơn.
Kết thúc ngày làm việc trong buổi chiều nắng nóng gay gắt, anh Nguyễn Văn Nam, nhân viên văn phòng, chậm rãi lên metro để trở về nhà. Bước ra ga Vành Đai 3, nơi có nút giao Khuất Duy Tiến với "đặc sản" ùn tắc ngay bên dưới, anh Nam vẫn luyến tiếc khoang tàu mát lạnh và bản nhạc chưa kịp nghe xong.
Nơi làm việc cách nhà 7 km, thay vì phải chen lấn, di chuyển mệt mỏi bằng xe máy, hơn nửa năm nay anh Nam chọn đi tàu điện đến nơi làm việc chỉ trong hơn 10 phút. Dù tiện lợi, nhưng anh Nam cho rằng, các tuyến metro vẫn cần cải thiện thêm. Cần có đầy đủ điểm gửi xe cho người dân đi từ xa đến. Giá vé cũng cần tính toán hợp lý hơn cho từng chặng để những người thu nhập thấp được hưởng lợi nhiều hơn.
"Người dân có thể đi bộ từ 1 km trở lại để đến ga tàu, còn những người đi xa hơn cần chỗ gửi xe để lên tàu. Tại nhiều điểm vẫn chưa có chỗ gửi xe nên hơi bất tiện, nếu khắc phục được thêm điều này sẽ thu hút người dân đi tàu nhiều hơn", anh Nam chia sẻ.
Không chỉ thu hút giới trẻ, tàu điện đang dần trở nên thân thuộc với những bậc cao niên. Ông Nguyễn Gia Cung (62 tuổi) cho biết hơn một năm nay đã sử dụng tàu điện nhiều hơn. Ông thường đưa đón cháu đi học về bằng phương tiện này, hai vợ chồng ông cũng sử dụng metro kết hợp xe buýt, đi chơi một số điểm tại Hà Nội.
"Nhà tôi có hai vợ chồng ở với nhau, các con đã lớn và ra ở riêng. Hôm nào buồn buồn, hai ông bà lại lên tàu điện đi ngắm phố phường, tâm sự. Khi xuống tàu, chúng tôi chuyển qua đi xe buýt di chuyển tới điểm đến. Do còn ít tuyến metro nên vẫn còn hạn chế điểm đến, sau này nhiều tuyến có lẽ sẽ thuận tiện hơn", ông Cung chia sẻ.
Theo ông Cung, các tuyến tàu thuận tiện nhưng còn khá ít lựa chọn điểm đến. Trước các thông tin quy hoạch thủ đô, ông Cung kỳ vọng: "Tôi mong chính quyền sớm hoàn thiện các tuyến tàu đi xa hơn, phủ khắp Hà Nội để những người già, người trẻ đều được hưởng lợi".
Lời gửi gắm của ông Gia Cung cũng chính là bài toán mà TS Nguyễn Xuân Thủy (chuyên gia giao thông, nguyên Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản GTVT) đã trăn trở suốt hàng chục năm qua.
Với gần 40 năm kinh nghiệm nghiên cứu, tâm huyết về lĩnh vực giao thông, ông Thủy cho rằng hệ thống metro chính là "yết hầu" của giao thông Hà Nội nhờ năng lực vận chuyển cực đại có thể lên tới 60.000 hành khách/giờ, gấp 10 lần xe buýt cỡ lớn. Đây là chìa khóa duy nhất để giải tỏa áp lực giờ cao điểm và xóa sổ ùn tắc.
Tuy nhiên, đứng trước mạng lưới 18 tuyến của quy hoạch 100 năm, vị chuyên gia cho rằng, Hà Nội cần cẩn trọng với việc đầu tư dàn trải. Cần nhìn thẳng vào thực tế hạ tầng tại Hà Nội và quy hoạch hợp lý về các tuyến cần thiết trước mắt và kịp tiến độ thi công để tránh gây lãng phí.
"Đường sắt đô thị sinh ra để phục vụ nội đô mật độ cao nên các tuyến ra ngoại thành như sân bay Nội Bài chỉ cần một tuyến là đủ. Nên làm tuyến nào dứt điểm tuyến đó để lập tức đưa vào khai thác, tránh lãng phí. Thành phố phát triển đến đâu, metro bám theo đến đó", TS Nguyễn Xuân Thủy phân tích.
Ông cũng đánh giá, lượng người dân tham gia di chuyển bằng metro tại Hà Nội có tăng trong các năm qua nhưng nhìn vào thực tế còn cách xa mốc hoạt động hiệu quả cực đại 60.000 hành khách/giờ. Để những thói quen văn minh của người dân hôm nay lan tỏa ra toàn xã hội, ông Thủy cho rằng, hệ thống metro tương lai phải đạt độ chính xác cao về giờ giấc, mạng lưới nhà ga đủ dày, các điểm trung chuyển phải cực kỳ thuận tiện và phục vụ người dân phải tốt hơn.
Vị chuyên gia dự báo, nếu giữ đúng kỷ cương quy hoạch và hoàn thiện các lõi TOD, giai đoạn 2030 - 2040 sẽ là bước ngoặt lớn khi tỷ lệ người dân Hà Nội chọn phương tiện công cộng chạm mốc 40%. Đó cũng là lúc thói quen đi tàu điện sẽ dần trở nên thân thuộc với những người dân thủ đô.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 18.5, TAND TP.HCM cơ sở 1 mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử vụ án giết người và sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra tại phường Long Hương.
HĐXX đã tuyên phạt Vũ Văn Hà (35 tuổi, quê Thanh Hóa) tử hình về tội giết người; 2 năm tù về tội sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt là tử hình.
Theo cáo trạng, Hà sống cùng bà N.T.N (mẹ ruột), chị V.T.N (chị ruột) và 2 người cháu gái (con của chị V.T.N) tại phường Long Hương. Hà là người nghiện ma túy, thuộc diện quản lý sau cai nghiện tại địa phương.
Khoảng 3 giờ ngày 22.9.2025, Hà lấy con dao từ bếp, rồi lên phòng khách nơi bà N.T.N cùng 2 người cháu đang ngủ uy hiếp, buộc mọi người đi ra ngoài sân. Sau đó, Hà tiếp tục dùng dao khống chế chị V.T.N đứng cùng mọi người.
Khi bà N.T.N và chị V.T.N mỏi chân đi vào trong nhà, Hà liền ôm chị V.T.N từ phía sau rồi dùng dao gây thương tích ở cổ. Tiếp đó, Hà quay sang dùng dao sát hại chính người mẹ ruột của mình tử vong tại chỗ.
Chị V.T.N và 2 người con kịp thời bỏ chạy thoát ra ngoài, sau đó được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Bà Rịa.
Kết quả giám định, chị V.T.N có tỷ lệ thương tật 4%. Tại phiên tòa, Hà khai nhận trước khi sát hại mẹ mình, bị cáo đã sử dụng ma túy đá nên xuất hiện ảo giác và gây án.
Nói lời sau cuối, bị cáo Hà tỏ thái độ ân hận, xin HĐXX tuyên phạt với mức án cao nhất.
Tin Gốc: Thanh Niên

