Đây không chỉ là một vấn đề quản lý giáo dục đơn thuần, mà phản ánh một thách thức mang tính cấu trúc của đô thị lớn: sự lệch pha giữa tốc độ gia tăng dân số học đường và năng lực đáp ứng của hệ thống trường lớp.
Nếu chỉ nhìn nhận vấn đề dưới góc độ “thiếu phòng học”, chúng ta có thể đưa ra giải pháp ngắn hạn nhưng nếu đặt nó trong mối quan hệ với dự báo số trẻ, số học sinh đến trường, thì đây thực chất là một bài toán chiến lược, đòi hỏi tư duy hệ thống và tầm nhìn dài hạn.
Trước hết, cần khẳng định xây dựng thêm trường học để giảm ca học, giảm sĩ số lớp, đáp ứng nhu cầu học của nhóm học sinh di cư tự nhiên trong phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo điều kiện giáo dục cho tất cả trẻ em… là một mục tiêu đúng đắn và cần thiết.
Tuy nhiên, điều đáng suy nghĩ là vì sao tình trạng thiếu phòng học kéo dài nhiều năm và chưa được giải quyết triệt để? Câu trả lời nằm ở chỗ chúng ta vẫn đang giải bài toán phòng học theo cách “chạy theo nhu cầu”, thay vì “đi trước nhu cầu” bằng các công cụ dự báo khoa học.
“Không dự báo thì mọi quy hoạch đều mang tính hồi ứng, không phải dẫn dắt”. Kết quả nếu chỉ xây đủ, xây vừa đủ thì việc chạy theo nhu cầu thực tế sẽ mãi là bài toán dài lâu chưa thể giải.
Trong một đô thị năng động như TP.HCM, dân số không chỉ tăng tự nhiên mà còn tăng cơ học do làn sóng nhập cư. Những khu vực có khu công nghiệp, khu chế xuất hay các khu đô thị mới thường chứng kiến sự gia tăng đột biến của trẻ em trong độ tuổi đến trường.
Nếu không có hệ thống dự báo chính xác và cập nhật, việc xây dựng trường học sẽ luôn rơi vào trạng thái bị động: nơi cần thì chưa có, nơi có thì chưa đủ, và khi xây xong thì nhu cầu đã tiếp tục thay đổi. Do đó, phòng học phải bắt đầu từ câu chuyện dự báo.
Dự báo ở đây không chỉ là ước lượng số lượng trẻ em hay học sinh trong tương lai, mà phải là một hệ thống phân tích đa chiều: theo độ tuổi, theo cấp học, theo không gian địa lý và theo biến động dân cư.
Một vấn đề đáng lưu ý là khoảng cách giữa “có dự báo” và “sử dụng dự báo”. Trên thực tế nhiều địa phương đã có số liệu về dân số, về trẻ em trong độ tuổi đến trường nhưng việc chuyển hóa các con số đó thành kế hoạch cụ thể vẫn còn chậm.
Dữ liệu tồn tại nhưng chưa trở thành cơ sở cho quyết định. Điều này dẫn đến một nghịch lý: chúng ta biết trước áp lực sẽ đến nhưng vẫn không chuẩn bị đủ để đón nhận.
Bên cạnh yếu tố dự báo cần nhìn nhận phòng học trong mối quan hệ với chất lượng giáo dục. Việc xây thêm trường lớp để giảm tải số học sinh, giảm số ca học nếu có là cần thiết nhưng nếu chỉ dừng lại ở số lượng, chúng ta có thể vô tình tạo ra một hệ thống “đủ chỗ nhưng chưa đủ chất”.
Một khía cạnh khác không thể bỏ qua là sự đồng bộ giữa phòng học và đội ngũ giáo viên. Có những nơi xây được trường mới nhưng lại thiếu giáo viên; ngược lại, có nơi đội ngũ dồi dào nhưng cơ sở vật chất không đáp ứng. Điều này cho thấy phòng học chỉ là một phần của bài toán lớn hơn – bài toán về hệ sinh thái giáo dục.
Việc giảm sĩ số học sinh, tăng trường lớp buộc phải dự báo số giáo viên và cả nhu cầu đào tạo bởi đào tạo một giáo viên cần ít nhất 4 năm.
Ngay cả việc sử dụng cơ chế tuyển dụng đột phá cũng cần phải tính toán về đảm bảo chất lượng, tuyển và giữ chân dài lâu, bồi dưỡng phát triển năng lực liên tục, nhất là thích nghi với các yêu cầu chất lượng cao về “làm nghề” để đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố. Nếu không giải quyết đồng thời các yếu tố liên quan, việc tăng số phòng học cũng khó mang lại hiệu quả như mong đợi.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích xu hướng dân số và nhu cầu học tập là hoàn toàn khả thi.
Khi đó, dự báo không còn là những con số tĩnh, mà là một quá trình động, được cập nhật liên tục và phản ánh sát thực tế nhất là cần thỏa mãn các “thông số” định hướng phát triển giáo dục cũng như “gia tốc” phát triển về sức khỏe, tâm lý của học sinh thành phố.
Một điểm quan trọng khác là cần thay đổi cách tiếp cận trong đầu tư. Thay vì tập trung dồn lực để giải quyết các “điểm nóng” khi đã quá tải, cần có cơ chế đầu tư sớm, đi trước một bước. Điều này có thể gặp khó khăn về nguồn lực trong ngắn hạn, nhưng sẽ giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả trong dài hạn.
Không thể không nhắc đến vai trò của giáo dục ngoài công lập trong việc giảm áp lực phòng học.
Cần nhìn nhận linh hoạt rằng chúng ta vẫn rất cần giáo dục ngoài công lập nhưng nếu chúng ta đầu tư nhiều phòng lớp cho giáo dục công lập thì giáo dục ngoài công lập phải vận hành mới, phát triển mới với các điều kiện tốt, mô hình hiện đại và các thành tựu giáo dục không ngừng vượt trội.
Sự phát triển của khu vực này cũng cần được đặt trong quy hoạch tổng thể, tránh tình trạng phân bố không đồng đều hoặc chênh lệch quá lớn về chất lượng. Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo quyền học tập phổ cập, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở ngoài công lập phát triển theo định hướng chung.
Có thể thấy rằng phòng học chỉ là “phần nổi” của một bài toán sâu hơn. Đó là bài toán về cách chúng ta nhìn nhận và quản lý sự phát triển của hệ thống giáo dục và cả văn hóa xã hội trong một đô thị lớn.
Nếu chỉ tập trung vào việc xây dựng thêm phòng học, chúng ta có thể giải quyết được vấn đề trước mắt; nhưng nếu muốn xây dựng một hệ thống giáo dục bền vững thì cần bắt đầu từ nền tảng: dự báo chính xác số trẻ, số học sinh đến trường.
Mỗi phòng học được xây dựng hôm nay không chỉ phục vụ cho hiện tại mà còn là một cam kết cho tương lai.
GS. TS Vũ Văn Yêm, Phó giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, cho biết thông tin trên tại lễ tốt nghiệp ngày 9/5.
Hàng năm, Đại học Bách khoa Hà Nội có hai đợt trao bằng tốt nghiệp, thường vào tháng 5 và tháng 10. Ở đợt này, trường có hơn 3.000 tân cử nhân, kỹ sư, tương đương cùng kỳ năm ngoái.
Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc và giỏi xấp xỉ 19%, giảm khoảng 2%. Còn lại, khoảng 68% xếp loại khá, 13% trung bình.
"Nhìn chung, tỷ lệ tốt nghiệp giỏi và xuất sắc của Đại học Bách khoa Hà Nội trước giờ không cao. Số tốt nghiệp xuất sắc mỗi đợt chỉ 3-5% và giỏi khoảng 10-15%", ông Yêm nói.
So với các trường top đầu khác, tỷ lệ trên ở mức thấp. Ví dụ tại Đại học Ngoại thương, số tốt nghiệp giỏi, xuất sắc năm 2025 là gần 80%, ở Kinh tế Quốc dân là hơn 86%.
Lãnh đạo Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng chương trình đào tạo ở mỗi đại học có tính đặc thù riêng, chuẩn đầu ra khác nhau. Ngoài ra, chiến lược của mỗi trường cũng khác.
Với hơn 20 năm tại HUST, ông Yêm nhận thấy sinh viên tốt nghiệp đáp ứng đúng định hướng phát triển của trường. Số có việc làm trong vòng 12 tháng đạt 93-95%. Có những sinh viên bằng khá vẫn học tốt khi theo chương trình thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài.
Hiện mỗi năm, Đại học Bách khoa Hà Nội có khoảng 3-4% sinh viên tốt nghiệp du học bậc học cao hơn. Nhóm xuất sắc có nhiều cơ hội quay lại trường theo đề án đào tạo giảng viên nguồn, nếu đáp ứng các tiêu chí về năng lực ngoại ngữ, khả năng nghiên cứu.
Thành lập năm 1956, Đại học Bách khoa Hà Nội là trường dẫn đầu cả nước về đào tạo lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Mỗi năm, trường tuyển mới khoảng 8.000-9.500 sinh viên bậc đại học, số tốt nghiệp đúng hạn là gần 7.000.
Bộ Nhân lực và An sinh xã hội Trung Quốc đầu tuần trước tuyên bố nâng cao kỹ năng cho một triệu thanh niên, tập trung vào các lĩnh vực như AI, sản xuất tiên tiến, kinh tế tầm thấp và xe năng lượng mới (NEV). Cơ quan này còn thúc đẩy các địa phương mở lớp dành riêng cho sinh viên tốt nghiệp đại học (ĐH) để giúp kỹ năng của họ phù hợp hơn với nhu cầu thị trường.
Trước đó, một số thành phố Trung Quốc đã triển khai chính sách này. Chẳng hạn, Bắc Kinh sẽ mở 6 chương trình đào tạo toàn thời gian ở các trường nghề dành cho sinh viên tốt nghiệp trong năm nay. Khóa học sẽ kéo dài 2 năm, với 1 năm lý thuyết và 1 năm thực tập.
Dù giới chức khẳng định các chương trình này chủ yếu nhắm tới nhóm cử nhân thất nghiệp, chính sách vẫn gây ra làn sóng hoài nghi rộng rãi trên mạng xã hội, đặc biệt trong bối cảnh thị trường việc làm ngày càng khó khăn. Một số người dùng đặt câu hỏi về giá trị của bằng cấp học thuật - vốn từ lâu được xem là "tấm vé đổi đời" ở Trung Quốc - và cho rằng thà bỏ qua ĐH để học nghề ngay từ đầu để tiết kiệm thời gian và chi phí.
"Tôi đã đi từ trường nghề lên ĐH rồi học tiếp thạc sĩ, cuối cùng giờ lại được bảo quay về trường nghề", một người dùng viết trên mạng xã hội Tiểu Hồng Thư của Trung Quốc.
Sau đại dịch Covid-19, thị trường việc làm tại Trung Quốc trở nên khó khăn hơn, đặc biệt ở các công việc văn phòng. Theo dữ liệu chính thức, cứ 6 người trẻ từ 16-24 tuổi thì có hơn 1 người thất nghiệp vào tháng 3.2026. Con số này chưa bao gồm nhóm học sinh, sinh viên.
Nhiều sinh viên chọn học tiếp cao học để cải thiện cơ hội việc làm, hoặc chỉ đơn giản là trì hoãn việc bước vào thị trường lao động. Trong khi đó một số khác đã chuyển sang làm việc trong nền kinh tế gig - với những công việc tạm thời như tài xế công nghệ, shipper, streamer hay những vị trí bán thời gian khác.
Tuy nhiên với kỷ lục 12,7 triệu sinh viên Trung Quốc tốt nghiệp dự kiến gia nhập thị trường lao động vào mùa hè này, áp lực cạnh tranh được dự báo sẽ còn gia tăng hơn nữa trong thời gian tới.
Nhưng không phải ai cũng bi quan về xu hướng học nghề. Anh Melos Zhou, tốt nghiệp cử nhân kinh tế vào năm 2023, đang đăng ký học về robot công nghiệp ở một trường nghề tại Quảng Châu sau nhiều năm làm marketing.
"Việc học nghề sẽ đáng giá hơn nếu thực sự xuất phát từ yêu thích chứ không phải kỳ vọng tìm được việc ngay", anh nói với tờ SCMP. Tuy nhiên, anh cũng thừa nhận bằng nghề hiện vẫn chưa được nhiều công ty lớn đánh giá cao, cũng như còn quá sớm để biết những chương trình mới này hiệu quả đến đâu.
Việc nhắm tới trường nghề không còn là hiện tượng mới ở Trung Quốc, khi nhiều học sinh vừa tốt nghiệp THPT và đạt điểm cao trong kỳ thi ĐH (gaokao) cũng chọn đây là điểm đến của mình. "Điểm thi chỉ là những con số, em nghĩ điều quan trọng là lựa chọn nào phù hợp với bản thân và có lợi cho tương lai", He Xianyi, nữ sinh đạt 604/750 điểm gaokao đủ sức đăng ký vào các ĐH top nhưng lại chọn học ở một trường nghề, chia sẻ với tờ Hubei Daily.
Trước thực tế này, nhiều trường "ĐH nghề" - mô hình kết hợp đào tạo kỹ năng chuyên sâu nhưng vẫn giúp sinh viên nhận bằng cử nhân - chứng kiến mức điểm tuyển sinh tăng vọt ở năm học vừa qua, thậm chí cao hơn nhiều ĐH lớn tại Trung Quốc. Hiện Trung Quốc có cả thảy 87 ĐH nghề, số lượng tăng liên tục kể từ khi Quốc vụ viện Trung Quốc bắt đầu cho phép thí điểm đào tạo nghề ở bậc ĐH vào năm 2019, theo tờ China Daily.
Nghị định quy định về miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông và lộ trình miễn học phí, giáo trình môn học giáo dục quốc phòng an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục đào tạo và pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền học tập của người dân.
Theo dự thảo, việc miễn phí sách giáo khoa được triển khai theo mô hình thư viện dùng chung. Cụ thể, Nhà nước đầu tư mua sắm sách giáo khoa (bao gồm sách in và sách chữ nổi Braille) để trang bị cho thư viện các cơ sở giáo dục.
Học sinh và giáo viên được mượn sách giáo khoa sử dụng trong năm học hoặc học kỳ và hoàn trả sau khi kết thúc thời gian sử dụng để tiếp tục quản lý, tái sử dụng.
Danh mục sách giáo khoa được miễn phí sử dụng thuộc bộ sách giáo khoa do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định sử dụng thống nhất toàn quốc.
Việc miễn phí sách giáo khoa được thực hiện trên phạm vi cả nước từ năm học 2029-2030. Nhưng các địa phương có khả năng cân đối ngân sách được khuyến khích triển khai sớm hơn, ưu tiên đối với các địa bàn biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Trước đó, Chính phủ cũng có Nghị quyết số 281/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Nội dung đáng chú ý được đưa ra trong Chương trình hành động là triển khai định hướng về sách giáo khoa. Theo đó từ năm học 2026-2027, áp dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa trên toàn quốc.
Dự thảo nghị định cũng quy định Nhà nước bảo đảm giáo trình môn giáo dục quốc phòng - an ninh để cung cấp miễn phí cho người học tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp theo hình thức mượn - trả thông qua thư viện.
Việc thực hiện miễn phí giáo trình môn giáo dục quốc phòng - an ninh trên phạm vi toàn quốc được thực hiện từ năm học 2027-2028.
Đồng thời với việc miễn phí sách giáo khoa, người học cũng sẽ không phải nộp học phí đối với môn học giáo dục quốc phòng - an ninh theo chương trình đào tạo bắt buộc.
Ngân sách nhà nước thực hiện cấp bù học phí trực tiếp cho các cơ sở đào tạo. Việc miễn học phí được triển khai từ năm học 2027-2028 sau khi ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật trong năm học 2026-2027. Trường hợp người học phải học lại môn học này sẽ không thuộc diện được miễn học phí.
Theo dự thảo nghị định, kinh phí thực hiện các chính sách tại nghị định do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp hiện hành. Đồng thời khuyến khích huy động các nguồn lực hợp pháp từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để hỗ trợ các cơ sở giáo dục.
Dự thảo nghị định quy định việc quản lý, mua sắm, phân bổ, sử dụng và luân chuyển sách giáo khoa, giáo trình phải được thực hiện công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình và giám sát.
Sách giáo khoa và giáo trình được mua sắm từ ngân sách nhà nước là tài sản công, được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật. Do đó, các hành vi như thu phí trái quy định, cung ứng sách không đúng danh mục, lập hồ sơ khống hoặc gây thất thoát tài sản công đều bị nghiêm cấm và xử lý theo quy định của pháp luật.
Cũng theo dự thảo nghị định, việc tổ chức thực hiện ưu tiên tận dụng tối đa số lượng sách giáo khoa hiện có, tăng cường luân chuyển giữa các cơ sở giáo dục thông qua cơ chế liên thông thư viện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và hạn chế lãng phí.