Hàng triệu người lao động trung tâm công nghiệp lớn cũng như hàng trăm nghìn lao động trẻ, thu nhập thấp tại các đô thị lớn có nhu cầu nhà ở cho thuê rất lớn.
Song, theo ông Ngô Đức Sơn, CEO DRH Holdings, cung nhà cho thuê chính thức, có quản lý, đảm bảo tiêu chuẩn tối thiểu lại không đủ đáp ứng. Phần lớn thị trường cho thuê hiện nay là nhà trọ tự phát, phòng trọ manh mún, thiếu hạ tầng xã hội và không có bất kỳ sự bảo vệ pháp lý nào cho người thuê lẫn người cho thuê.
Trên thực tế, theo thống kê của Bộ Xây dựng, tính tới nay, số lượng nhà ở xã hội đang cho thuê trên địa bàn cả nước mới chỉ khoảng 42.275 căn. Dù các dự án nhà ở xã hội đang được tăng tốc tại nhiều địa phương, nhưng tỷ lệ nhà ở xã hội cho thuê vẫn rất thấp.
Vậy, đâu là “điểm nghẽn” khiến nhà ở cho thuê chưa phát triển? Từ góc độ doanh nghiệp, theo ông Ngô Đức Sơn, điểm nghẽn lớn nhất là bài toán dòng tiền chưa có lời giải.
Nếu làm nhà để bán chu kỳ vốn chỉ 2 – 3 năm, thu hồi nhanh, dòng tiền rõ ràng. Nhưng nếu làm nhà cho thuê, dòng tiền kéo dài 15 – 20 năm, khấu hao chậm, lợi nhuận mỏng trong giai đoạn đầu. Với lãi suất vay thương mại hiện nay dao động 9 – 11%/năm, không có mô hình tài chính nào của doanh nghiệp tư nhân có thể cân bằng được bài toán này.
Ông Sơn cũng ví dụ, một dự án nhà cho thuê 1.000 căn, tổng mức đầu tư 1.000 tỉ đồng. Với giá thuê thị trường 5 – 6 triệu đồng/căn/tháng, doanh thu năm đạt khoảng 60 – 72 tỉ đồng. Sau khi trừ chi phí vận hành (khoảng 3 – 10%), lợi nhuận hoạt động ròng may ra đạt 40 – 50 tỉ đồng.
“Trong khi đó, lãi vay thương mại cho khoản 700 tỉ đồng đã chiếm 63 – 77 tỉ mỗi năm. Dự án âm dòng tiền ngay từ năm đầu tiên. Không có chủ đầu tư lành mạnh nào dám làm”, ông Sơn nói.
Điểm nghẽn thứ hai là hành lang pháp lý còn nhiều khoảng trống. Luật Kinh doanh bất động sản 2023 và luật Nhà ở 2023 đã có những bước tiến nhất định trong quy định về nhà ở xã hội và điều kiện cho thuê. Song, theo ông Sơn, vẫn có những khoảng trống.
Theo đó, mô hình cho thuê mua (rent-to-own) vốn là cầu nối lý tưởng giữa thuê và sở hữu, lại chưa có khung pháp lý đủ rõ.
“Quyền chuyển đổi từ hợp đồng thuê sang hợp đồng mua diễn ra thế nào? Phần tiền thuê đã trả có được tính vào giá trị mua không? Khi người thuê không còn khả năng tiếp tục, tài sản xử lý ra sao? Tất cả đang là vùng xám”, ông Sơn nêu.
Cạnh đó, cơ chế quản lý tòa nhà cho thuê quy mô lớn, bao gồm quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư, người thuê và cơ quan quản lý, chưa được chuẩn hóa. Khi tranh chấp xảy ra, cả hai phía đều thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền lợi. Điều kiện để chủ đầu tư tư nhân được tiếp cận quỹ đất ưu đãi cho dự án nhà ở cho thuê vẫn còn mơ hồ.
Điểm nghẽn thứ ba là tâm lý sở hữu nhà ở của người dân, tâm lý “an cư lạc nghiệp”, dù chưa đủ ăn đủ mặc nhưng nhiều người vẫn phải vay mượn để cố gắng mua một căn nhà.
Giải pháp, theo nhà đầu tư này, là Nhà nước không chỉ kêu gọi doanh nghiệp tham gia, mà phải thiết kế một cơ chế tài chính đặc thù, như gói vay ưu đãi lãi suất 3 – 4%/năm, thời hạn 20 – 25 năm, ân hạn gốc ít nhất 5 năm.
Kinh nghiệm từ Singapore với mô hình HDB, hay Nhật Bản với UR Rental Housing, đều cho thấy một điểm chung là Nhà nước không bao cấp sản phẩm, mà “bao cấp” chi phí vốn.
“Thị trường nhà cho thuê Việt Nam không thiếu nhu cầu, mà thiếu hệ thống đỡ cho nhu cầu đó trở thành hiện thực. Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước sẽ là viên gạch đầu tiên để xây dựng nên hệ thống này. Bài toán là của cả Nhà nước lẫn doanh nghiệp, không ai làm được một mình”, ông Ngô Đức Sơn nhấn mạnh.
Theo Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Văn Sinh, đầu năm 2026, Bộ Xây dựng đã có văn bản đề nghị các địa phương rà soát, xác định nhu cầu thuê nhà ở trên địa bàn, đồng thời đề xuất chỉ tiêu phát triển nhà ở do Quỹ nhà ở địa phương đầu tư, tạo lập để cho thuê năm 2026 và các năm tiếp theo giai đoạn 2027 – 2030.
Thời gian tới, Bộ Xây dựng cho biết sẽ tập trung đôn đốc, thúc đẩy việc phát triển nhà ở xã hội tại các địa phương, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam để hoàn thành chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội năm 2026 và các năm tiếp theo.
Sáng 24.5, giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục tăng trong tuần. Cụ thể, Ngân hàng Vietcombank mua chuyển khoản lên 26.160 đồng, bán ra 26.390 đồng, tăng 23 đồng ở chiều mua nhưng chỉ tăng 3 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước; Ngân hàng ACB giữ nguyên chiều mua chuyển khoản sau một tuần, lên 26.170 đồng và tăng 3 đồng ở chiều bán ra, lên 26.390 đồng…
Trong khi đó, các ngoại tệ khác biến động trái chiều sau một tuần. Chẳng hạn, giá euro tại Ngân hàng Vietcombank giảm 35 đồng khi mua chuyển khoản xuống 30.150 đồng, bán ra còn 31.422 đồng. Ngược lại, bảng Anh tăng 206 đồng khi mua chuyển khoản lên 34.831 đồng, bán ra 35.946 đồng; yen Nhật cũng tăng 0,16 đồng khi mua chuyển khoản lên 162,29 đồng và bán ra 170,88 đồng…
Giá USD thế giới tiếp tục tăng khi chỉ số USD-Index đạt 99,32 điểm, cao hơn 0,05 điểm so với cuối tuần trước. Đồng bạc xanh đã có hai tuần liên tiếp tăng cao khi nỗi lo về lạm phát của nhiều. nhà đầu tư vẫn chưa dịu bớt. Sự gia tăng trong kỳ vọng về lãi suất cao sẽ được duy trì trong thời gian dài đã dẫn đến một đợt bán tháo trái phiếu toàn cầu mạnh trong tuần. Thế nhưng, lợi suất chuẩn trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Mỹ chốt tuần vẫn tăng gần 1 điểm cơ bản lên 4,582%, trong khi lợi suất kỳ hạn 30 năm giảm gần 1 điểm cơ bản xuống 5,110%.
Tuy nhiên, đà tăng của đồng bạc xanh đã không còn mạnh sau khi có báo cáo rằng Washington và Tehran đã có được dự thảo cuối cùng về một thỏa thuận hòa bình. Trong bài đăng trên mạng xã hội ngày 23.5, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết "các khía cạnh và chi tiết cuối cùng" của một "bản ghi nhớ hợp tác" vẫn đang được thảo luận và sẽ sớm được công bố. Ông nói thỏa thuận tiềm năng có thể bao gồm việc mở lại eo biển Hormuz - tuyến hàng hải then chốt đối với vận chuyển năng lượng toàn cầu. "Thỏa thuận về cơ bản đã được đàm phán xong, chỉ còn chờ hoàn tất giữa Mỹ, Iran và các quốc gia khác", theo The Guardian dẫn bài viết của ông Trump.
Mới đây, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ra công văn yêu cầu các NHNN chi nhánh khu vực thực hiện kiểm tra các ngân hàng thương mại (NHTM) về việc thực hiện giảm lãi suất tiết kiệm.
Trước đó, vào đầu tháng 4, NHNN đã tổ chức cuộc họp kêu gọi các NHTM thống nhất việc giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân; giảm lãi suất tiền gửi niêm yết và lãi suất cho vay nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân. Ngay sau cuộc họp, nhiều NHTM đã chủ động, tích cực triển khai giảm lãi suất.
Tuy nhiên, những ngày gần đây, xuất hiện hiện tượng cá biệt một số NHTM không thực hiện nghiêm túc chỉ đạo, điều chỉnh tăng lãi suất và đã được các cơ quan báo chí, truyền thông phản ánh. Bảng lãi suất công bố chính thức của các nhà băng không có nhiều thay đổi so với đầu tháng 5, đối với kỳ hạn dưới 6 tháng gần như đụng mức kịch trần cho phép ở 4,75%/năm, từ 6 - 12 tháng từ 6 - 7%/năm. Thế nhưng trên các diễn đàn, hội nhóm trang mạng xã hội, cuộc chạy đua hút tiền gửi khá khốc liệt với mức lãi suất đưa ra trên 8%/năm ở kỳ hạn 6 tháng; 9,1%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng. Hay thực tế người gửi mang tiền ra gửi tại quầy cũng sẽ nhận được lãi suất cao hơn mức công bố.
Chị Thanh An (ở P.Bến Thành, TP.HCM) chia sẻ giữa tuần qua chị có sổ tiết kiệm 6 tháng tại một NHTM đến kỳ đáo hạn và khi gửi lại thì kỳ hạn 6 tháng vẫn có lãi suất 8,3%/năm, nếu gửi 12 tháng thì được 8,5%/năm. Thậm chí nhân viên tín dụng cho hay nếu gửi số tiền từ 2 tỉ đồng trở lên thì lãi suất sẽ cao hơn khoảng 0,1 - 0,2% tùy theo kỳ hạn.
Tương tự, chị Kim Yến (ngụ P.Tân Hưng, TP.HCM) ngày 22.5 đáo hạn sổ tiết kiệm tại một phòng giao dịch trên địa bàn và cũng được áp dụng lãi suất kỳ hạn 12 tháng đến 8%/năm dù số tiền chỉ hơn 200 triệu đồng. Điều bất ngờ nhất là chính NH này đã công bố và niêm yết lãi suất cao nhất chỉ ở mức 6,5%/năm... Tình trạng các NH âm thầm nâng lãi suất tiết kiệm lên cao so với biểu lãi suất công bố trên website hay tại phòng giao dịch như trên không phải là hiếm.
Theo thống kê từ Hiệp hội Ngân hàng VN, thị trường tiền gửi từ ngày 11 - 16.5 có dấu hiệu đảo chiều so với trước đó khi lãi suất tại một số NHTM điều chỉnh tăng, chủ yếu thông qua kênh trực tuyến và các chương trình ưu đãi. Sacombank điều chỉnh mạnh lãi suất huy động qua kênh trực tuyến, tăng từ 0,2 - 1%/năm tùy kỳ hạn và số tiền gửi. NH số Cake by VPBank còn triển khai chính sách cộng thêm lãi suất tới 1,5%/năm cho khách hàng mới gửi tiết kiệm kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. OCB tăng nhẹ 0,1%/năm đối với kỳ hạn 6 - 36 tháng. Bac A Bank cũng tăng 0,25%/năm đối với kỳ hạn 13 tháng, đưa mức lãi suất lên 7%/năm cho khoản tiền gửi dưới 1 tỉ đồng…
Trong khi đó, nhóm NHTM nhà nước tiếp tục giữ mặt bằng lãi suất thấp hơn đáng kể so với nhóm cổ phần tư nhân. Cụ thể với tiết kiệm thông thường, Vietcombank, BIDV và VietinBank niêm yết khoảng 3,5%/năm cho kỳ hạn 6 -
9 tháng và khoảng 5,9 - 6%/năm cho kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Thậm chí, lãi suất của một số nhà băng lớn còn giảm nhiệt ở một số kỳ hạn. Chẳng hạn tại Vietcombank, đối với tiết kiệm linh hoạt, lãi suất giảm từ 0,2 - 0,4%/năm ở kỳ hạn 6 tháng và 12 tháng, lần lượt xuống còn 7%/năm và 7,4%/năm...
Hàng loạt động thái của NHNN cho thấy cơ quan điều hành quyết tâm siết lãi suất tiết kiệm để giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp. Trong đó, Thông tư 08 cho phép các NHTM tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào vốn huy động khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) áp dụng từ ngày 15.5 thay vì chấm dứt kể từ đầu năm.
Quy định cho tính lượng tiền gửi của Kho bạc Nhà nước giúp các NHTM quốc doanh (nhóm Big 4 gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank, Agribank) hạ nhiệt tỷ lệ LDR đang tiệm cận mức trần 85%. Từ đó, hệ thống NHTM có thể mở rộng thêm hàng chục đến hàng trăm nghìn tỉ đồng mà không cần áp lực tăng tốc huy động vốn mới từ dân cư. Việc nới lỏng nhẹ van tín dụng được giới phân tích đánh giá là giải pháp tháo gỡ rào cản kỹ thuật, góp phần giảm áp lực lên lãi suất huy động và hỗ trợ ổn định thị trường tiền tệ.
Thế nhưng mặt bằng lãi suất cho vay vẫn chưa giảm. Theo chia sẻ từ anh Thành Trung (ngụ P.Tân Thuận, TP.HCM), đầu tháng 4 lãi suất hợp đồng vay mua căn hộ của anh được NH điều chỉnh lên 13,6%/năm, cao hơn gần 2% so với cuối năm 2025. Bước sang tháng 5, lãi suất cho hợp đồng vẫn duy trì ở mức này và chưa có thay đổi mới. Việc điều chỉnh lãi suất tăng khiến tiền lãi anh phải trả tăng hơn trước đó 1 triệu đồng/tháng.
Thực tế, lãi suất cho vay bình quân tại các nhà băng được công bố vẫn tăng và chưa có gì thay đổi. Chẳng hạn, lãi suất cho vay bình quân tháng 4 tại Eximbank ở mức 7,76%/năm (tăng 0,6%/năm so với tháng 1), trong đó lãi suất cho vay bình quân đối với khách hàng cá nhân là 8,2%/năm, còn doanh nghiệp là 7,28%/năm. Tương tự, lãi suất cho vay bình quân kỳ tháng 3 của Vietcombank tăng 0,2%, lên 6,6%/năm. Techcombank cũng vừa công bố lãi suất cho vay bình quân giải ngân trong tháng 4 là 10,3%/năm (tăng 0,03% so với tháng 3). MB áp dụng lãi suất cho vay đối với khách hàng cá nhân từ 8,3 - 9,1%/năm; cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 9,5 - 9,7%/năm...
Hiệp hội Ngân hàng VN cho hay lãi suất cho vay trong tháng 4 và tuần đầu tháng 5 tiếp tục có sự phân tầng rõ rệt. Nhóm Big 4 giữ mức ưu đãi với lãi suất từ 5,42 - 7%, trong khi các NHTM cổ phần khác dao động từ 10,8 - 15%/năm. Lãi suất cho vay bình quân VND của NHTM trong nước đối với dư nợ cũ và mới duy trì trong khoảng 7,1 - 9,4%/năm.
PGS-TS Đinh Trọng Thịnh, chuyên gia kinh tế tài chính, nhận định trong bối cảnh lạm phát lên cao cả trên thế giới lẫn tại VN, dư địa giảm lãi suất không có nhiều. Để kéo giảm mặt bằng lãi suất, NHNN cần chủ động sử dụng nhiều công cụ, trong đó nên đẩy mạnh việc cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất thấp. Từ đó, các NHTM mới có thêm điều kiện để giảm lãi suất tiết kiệm lẫn cho vay. Bởi số liệu thống kê cũng cho thấy tiền gửi của người dân vào NH vẫn thấp hơn tốc độ cho vay. Nếu lãi suất tiết kiệm bị giảm quá thấp thì người dân cũng sẽ không gửi tiền ở NH và điều này càng gây khó khăn cho nhiều nhà băng. Bản thân các NHTM vẫn phải tiếp tục đẩy mạnh giảm chi phí, nhất là giảm lợi nhuận để đồng hành cùng doanh nghiệp, người dân và từ đó góp phần với cả nước thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10 ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra vào sáng nay (30/6), ông Takuya Sahashi - Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đã trình bày tham luận với nội dung "Vai trò của doanh nghiệp FDI trong phát triển công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa".
Ông Takuya Sahashi đánh giá cao định hướng chính sách rõ ràng của Nghị quyết trong việc thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thúc đẩy các ngành công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, đồng thời tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước.
Đồng thời, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đồng tình với tầm nhìn cho rằng sự phát triển kinh tế của Việt Nam không nên chỉ dựa vào việc thu hút đầu tư nước ngoài mà còn phải tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Thông qua quá trình tham gia này, các công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại và các tiêu chuẩn quốc tế sẽ từng bước được lan tỏa vào khu vực doanh nghiệp trong nước, tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ và nâng cao nền tảng công nghiệp nói chung.
Theo ông Takuya Sahashi, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đóng góp vào sự phát triển công nghiệp của Việt Nam trong hơn 3 thập kỷ qua. Nhật Bản đã đầu tư đáng kể vào các lĩnh vực sản xuất như thiết bị vận tải, điện tử và máy móc công nghiệp, tạo việc làm và hỗ trợ xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Nhật Bản luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển các nhà cung ứng. Nhờ vậy, tỉ lệ nội địa hóa đã không ngừng được nâng lên theo thời gian.
Để triển khai thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 10, ông Takuya Sahashi cho rằng vẫn còn một số thách thức cần vượt qua. Đó là năng lực kỹ thuật và chất lượng của các nhà cung ứng trong nước cần tiếp tục được nâng cao. Các ngành công nghiệp thượng nguồn, bao gồm ngành vật liệu và linh kiện then chốt vẫn còn kém phát triển, dẫn đến sự phụ thuộc kéo dài vào nhập khẩu.
Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận do thủ tục phức tạp hoặc chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp… Việc giải quyết những vấn đề này có ý nghĩa thiết yếu trong việc tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, ông Takuya Sahashi nhấn mạnh một số khuyến nghị trọng tâm, phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 10. Trong đó nhấn mạnh cần sự hỗ trợ có trọng tâm đối với các doanh nghiệp trong nước có tiềm năng cao thay vì chỉ chú trọng đến số lượng; cần xác định các doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng phát triển cao và dành cho họ các chính sách hỗ trợ có trọng tâm.
Việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp FDI có thể giúp hình thành và phát triển các nhà cung ứng nòng cốt, có năng lực cạnh tranh.
Đồng thời tăng cường kết nối doanh nghiệp và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin. Việc hoàn thiện các cơ chế nhằm nhận diện và giới thiệu các nhà cung ứng trong nước có năng lực là hết sức quan trọng. Mở rộng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, các triển lãm và nền tảng kết nối doanh nghiệp thông qua sự phối hợp giữa Chính phủ và các tổ chức doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các liên kết chặt chẽ hơn.
Cùng với đó là phát triển các ngành công nghiệp thượng nguồn. Việc phát triển có chiến lược các ngành vật liệu và linh kiện là yếu tố thiết yếu nhằm gia tăng giá trị gia tăng trong nước và nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao và công nghệ cao.
Ông Takuya Sahashi cũng khuyến nghị cần nâng cao khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế đơn giản hơn, linh hoạt hơn và dễ tiếp cận hơn để doanh nghiệp có thể sử dụng khi cần thiết.
Cuối cùng, việc tăng cường đào tạo nghề, thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng như nâng cao kỹ năng thực hành là hết sức cần thiết để tăng cường năng lực tiếp nhận và hấp thụ công nghệ chuyển giao.
Việc tạo dựng mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam thông qua việc nâng cao năng suất, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn và phát triển một cơ cấu công nghiệp có khả năng chống chịu tốt hơn và tự chủ hơn. Đồng thời, điều này cũng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.