“Tôi nghĩ 5 là mốc điểm trung bình, điểm số khảo sát môn Toán của học sinh Hà Nội là 4,75 phản ánh trình độ chung của học sinh, là thấp hơn trung bình một chút.
Điều này có thể do chương trình của chúng ta quá khó hay không? Nội dung nào quá khó thì nên đẩy lên mức đại học, chương trình lúc đó sẽ đúng với các em thật sự có nhu cầu học cao hơn”.
Độc giả Ngọc Vy bình luận như trên, sau thông tin Điểm Toán của học sinh Hà Nội ‘kẹt ở mốc 3-5’. Điểm trung bình trong bài khảo sát môn Toán của gần 120.000 học sinh lớp 12 ở Hà Nội là 4,75, hơn 40% “kẹt ở mốc 3-5”, Sở Giáo dục coi đây là điểm nghẽn lớn nhất, yêu cầu phụ đạo bắt buộc.
Trưởng phòng Giáo dục trung học, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, công bố kết quả khảo sát học sinh lớp 12 của thành phố vào tháng trước.
Ông cho rằng “điểm nghẽn” lớn nhất nằm ở môn Toán, khi điểm trung bình của học sinh là 4,75, giảm 0,35 so với kỳ khảo sát năm ngoái. Nếu tính riêng khối trường công lập, số điểm giảm gần 0,5.
Phân tích kỹ hơn, ông Nhâm cho biết phổ điểm Toán lệch trái, “kẹt ở mốc 3-5 điểm”, với hơn 40% đạt điểm trong khoảng này. Không học sinh nào được 10 điểm.
Trong khi đó, ở Hà Nội, số liệu từ cuối năm ngoái cho biết thủ đô có khoảng 15.000 trung tâm dạy thêm, các độc giả thắc mắc vì sao học sinh học nhiều nhưng điểm thấp:
Độc giả nickname King of Chess: “Bây giờ các cháu học quá nhiều, học tối ngày, học đến mức ăn không ngon, ngủ cũng ám ảnh thành tích, vẫn không có thời gian học kỹ năng sống và học làm việc nhà. Sáng dậy thì lờ đờ, rồi kết quả khảo sát thì như trên?”.
Độc giả nickname Pvsryd thắc mắc: “Khảo sát liệu có đúng và khách quan không? Điểm số trung bình trong học bạ toàn khá giỏi, khó mà kiểm được em nào học lực trung bình, yếu mà tại sao khảo sát lại thấp vậy?”.
Độc giả nickname manhhung813 lo ngại: “Chương trình giáo dục phải phù hợp, nếu học sinh điểm nơi thấp nơi cao thì xem xét lại khu vực điểm thấp để phụ đạo, còn đây thấp đều chứng tỏ chương trình quá nặng, học cả ngày như vậy mà còn yêu cầu phụ đạo.
Phụ đạo chỉ dành cho thiểu số học sinh quá yếu ở một số nơi vùng sâu xa chứ ngay thủ đô mà yêu cầu rà soát để phụ đạo thì không thể hiểu nổi”.
Theo Trưởng phòng Giáo dục trung học, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội một trong những lý do chính khiến điểm Toán thấp là học sinh chưa thích ứng tốt với dạng trắc nghiệm đúng/sai và trả lời ngắn.
Một số độc giả đặt vấn đề về việc thi Toán bằng trắc nghiệm. Độc giả nickname tdlong91nd nói:
“Môn Toán là môn thiên hướng phân tích logic, nên tốt nhất giữ nguyên hình thức tự luận hơn là trắc nghiệm. Theo suy nghĩ của tôi, nếu tập trung luyện thi theo hình thức thi trắc nghiệm thì các thầy cô sẽ hướng tới luyện dập khuôn theo bộ đề, và nó mang hơi hướng học vẹt hơn là vận dụng khả năng phân tích.
Trước kia, khi tự mình vắt óc suy nghĩ và giải ra được một bài đại số hoặc hình học, nó mang lại cảm giác hưng phấn không khác gì được tặng một món quà bất ngờ như ý.
Giờ với hình thức kiểm tra, thi trắc nghiệm, thì chắc chắn các dạng bài thử thách một chút sẽ bị giảm số lượng đi đáng kể. Thử hỏi, khi gặp một bài khó, khi làm tự luận thì học sinh sẽ phải cố gắng giải ra bằng được, còn khi làm trắc nghiệm, học sinh có khả năng dễ từ bỏ hơn là kiên nhẫn, và chọn bừa một trong bốn đáp án, phó mặc cho hên xui”.
Đồng quan điểm, độc giả Gàn: “Với Toán, một bộ môn đòi hỏi tư duy logic, phát triển phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực diễn giải và lập luận mà nếu quá lạm dụng theo kiểu trắc nghiệm (tức là kích thích phát triển khả năng thuộc công thức, nhớ dạng bài, tính nhẩm nhanh, kèm theo một số mẹo mực…) thì theo tôi là làm suy giảm kỹ năng tư duy toán học đúng nghĩa”.
Sắp tới, Sở sẽ gặp riêng những trường có kết quả thấp để tìm giải pháp nâng cao chất lượng học sinh trước kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Độc giả nickname anhgunner93hn nói: “Nếu các em có kế hoạch ôn tập hợp lý có lẽ vẫn tăng được điểm, không nên quá căng thẳng với kết quả thi thử lúc này. Điều cần làm là từ bài thi phân tích ra điểm chưa đạt được và khắc phục. Đây là lúc cần bản lĩnh và sự chính xác trong ôn tập
Còn khoảng hơn hai tháng nữa, hy vọng các em cố gắng củng cố kiến thức. Chỗ nào nắm kỹ kiến thức rồi thì ôn tập ở mức khá để chắc điểm trong tay. Chỗ nào chưa hiểu hoặc còn lờ mờ thì vừa ôn tâp một mình vừa phải trao đổi với thầy giáo hoặc bạn bè, theo nguyên tắc nếu đang ở mức 4 điểm thì cố gắng ôn lên 5,5 hay 6 điểm còn nếu đang được 5,5 hay 6 thì cố gắng lên 7 điểm.
Có lẽ đây là lần đầu tiên các em chuyển từ làm đề ở nhà sang làm đề ở phòng thi, nên kết quả có kém hơn cũng là điều dễ hiểu. Điều quan trọng là biết mình đang ở đâu để có kế hoạch ôn tập hợp lý”.
Năm ngoái, hơn 120.000 học sinh Hà Nội dự thi tốt nghiệp THPT, chiếm khoảng 1/10 cả nước. Điểm Toán trung bình của học sinh thủ đô là 5,29, đứng thứ 2/34 tỉnh, thành.
Theo tôi, đề xuất xe máy dưới 5 năm không phải kiểm định khí thải trực tiếp đang đi theo hướng quản lý theo "tuổi xe". Cách làm này có ưu điểm là đơn giản, nhưng lại bỏ qua một yếu tố quan trọng hơn, mức độ sử dụng thực tế.
Nếu mục tiêu là giảm ô nhiễm và đảm bảo an toàn giao thông, thì câu hỏi đúng không phải là "xe bao nhiêu năm", mà là "xe đã chạy bao nhiêu kilomet".
Giả sử một nhân viên văn phòng trung bình mỗi ngày đi khoảng 20 km, tương đương 4.000 - 5.000 km mỗi năm. Sau 5 năm, tổng quãng đường chỉ khoảng 25.000 - 30.000 km, xe vẫn còn rất tốt. Ngược lại, một người chạy dịch vụ có thể đi 25.000 - 35.000 km mỗi năm, chỉ sau 3 năm đã đạt ngưỡng 100.000 km.
Đây là giai đoạn mà động cơ bắt đầu hao mòn sâu, phát thải tăng và rủi ro an toàn cao hơn. Như vậy, nếu quản lý theo năm sử dụng, sẽ xảy ra nghịch lý: Xe chạy ít nhưng "già tuổi" lại bị kiểm định sớm, trong khi xe chạy nhiều nhưng "trẻ tuổi" lại chưa bị kiểm soát.
Tôi nghĩ có một cách tiếp cận hợp lý hơn là quản lý theo số kilomet, với mốc giới hạn cao nhất là 100.000 km. Có thể chia làm ba nhóm:
Xe dưới 50.000 km gần như chưa cần kiểm định. Xe từ 50.000 đến 100.000 km là giai đoạn cần kiểm định định kỳ sau mỗi 10.000 km để kiểm soát phát thải và an toàn. Còn xe đã vượt 100.000 km thì không cho tiếp tục lưu thông trong khu vực nội đô.
Điểm quan trọng là với nhóm trên 100.000 km, nên áp dụng biện pháp hành chính: Hạn chế hoặc cấm lưu thông ở khu vực trung tâm, nhưng vẫn cho phép sử dụng ở ngoại thành, nông thôn, miền núi. Cách làm này giúp giảm nhanh lượng xe phát thải cao tại nơi đông dân mà không gây lãng phí tài sản xã hội.
Chính sách này sẽ tạo ra một cơ chế rất đáng chú ý: Thị trường tự điều chỉnh. Khi xe vượt 100.000 km không còn được chạy trong đô thị, người sử dụng sẽ buộc phải bán nếu muốn đổi xe mới. Do nhu cầu trong nội đô không còn, giá xe sẽ giảm rất mạnh.
Những chiếc xe này sẽ trở thành lựa chọn giá rẻ cho người thu nhập thấp ở ngoại thành hoặc nông thôn. Nói cách khác, thay vì cấm đoán hay thu hồi, chính sách sẽ khiến xe cũ tự động "chảy" ra khỏi đô thị. Người có điều kiện sẽ đổi xe sớm hơn. Người thu nhập thấp vẫn có phương tiện phù hợp với nhu cầu của họ. Tài sản được sử dụng hết vòng đời, nhưng đúng nơi, đúng mục đích.
Đồng thời, chính sách này cũng buộc người dân thay đổi hành vi. Thay vì cố gắng sử dụng xe đến khi "nát" mới bỏ, họ sẽ chủ động bán khi xe còn giá trị. Điều này không chỉ tốt cho môi trường mà còn giúp giảm rủi ro tai nạn do phương tiện xuống cấp.
Một lợi ích khác là thị trường xe máy trở nên ổn định hơn. Nhu cầu xe mới sẽ tăng, nhưng không phải do ép buộc hành chính mà do quy luật kinh tế. Thị trường xe cũ cũng minh bạch hơn, khi giá trị xe gắn liền với số kilomet đã sử dụng.
Tất nhiên, để triển khai cần có hệ thống ghi nhận số kilomet đáng tin cậy, có thể thông qua nền tảng như VNeTraffic kết hợp với dữ liệu từ kiểm định, sang tên, bảo dưỡng. Nhưng đây là vấn đề kỹ thuật có thể giải quyết theo lộ trình, không phải rào cản về tư duy.
Điều quan trọng là xác định đúng hướng tiếp cận. Tóm lại, theo tôi, quản lý theo tuổi xe là cách làm dễ, nhưng không chính xác. Quản lý theo số kilomet phản ánh đúng bản chất sử dụng, và quan trọng hơn, tạo ra cơ chế để thị trường tự loại bỏ xe cũ nát mà không cần can thiệp hành chính nặng nề.
Khi một chiếc xe đã chạy hơn 100.000 km không còn chỗ đứng trong đô thị, nó sẽ tự động rời khỏi đó. Không cần kiểm định phức tạp, không cần cưỡng chế, chính người sử dụng sẽ đưa ra quyết định.
Xe máy dưới 5 năm, chủ xe không cần đưa đến cơ sở đăng kiểm
Trong dự thảo thông tư, Bộ Xây dựng đề xuất xe máy dưới 5 năm (60 tháng) từ khi sản xuất, chủ xe đi kiểm định lần đầu không cần đưa phương tiện đến cơ sở đăng kiểm. Căn cứ kết quả chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trong sản xuất, lắp ráp hoặc nhập khẩu xe, cơ sở đăng kiểm cấp giấy chứng nhận kiểm định khí thải. Thời gian giải quyết thủ tục chỉ khoảng 3 giờ.
Dự thảo cũng nhấn mạnh việc sử dụng dữ liệu điện tử và liên thông giữa các cơ quan. Mỗi phương tiện sẽ chỉ có một hồ sơ quản lý duy nhất từ lần đầu kiểm định. Các loại giấy tờ như đăng ký xe, căn cước công dân có thể sử dụng bản điện tử hoặc tích hợp trên tài khoản định danh. Trường hợp phương tiện chưa hoàn tất xử phạt vi phạm hành chính, hệ thống có thể từ chối kiểm định.
Chỉ trong vài ngày sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố điểm thi tốt nghiệp THPT, tôi thấy trên mạng xã hội ngập tràn các dòng tin về thủ khoa khối A00, thủ khoa khối B00, thủ khoa khối C00, thủ khoa môn Toán, thủ khoa môn Ngữ văn, thủ khoa môn Tiếng Anh, thủ khoa toàn quốc, thủ khoa của tỉnh, thủ khoa của trường chuyên...
Chưa hết, khi các trường đại học bắt đầu công bố danh sách xét tuyển thẳng, công bố những sinh viên đầu tiên trúng tuyển, người ta lại tiếp tục nói về thủ khoa đầu vào, á khoa đầu vào, thí sinh có điểm xét tuyển cao nhất của trường này, trường kia. Những câu chuyện về thành tích học tập luôn có giá trị truyền cảm hứng. Xã hội cần ghi nhận nỗ lực của những học sinh xuất sắc. Không ai phủ nhận điều đó.
Nhưng khi việc tôn vinh diễn ra với tần suất dày đặc, phạm vi ngày càng mở rộng và mức độ chú ý ngày càng lớn, một câu hỏi đáng suy ngẫm xuất hiện: Liệu chúng ta đang khích lệ người trẻ vươn lên, hay đang vô tình tạo ra một môi trường nơi thành tích thi cử được đặt lên quá cao so với giá trị thực của sự trưởng thành? Đó không chỉ là câu chuyện của một mùa thi. Đó là câu chuyện về cách xã hội nhìn nhận thành công.
Mỗi khi mùa thi đến, xã hội thường chỉ nhìn thấy niềm vui của những người đứng đầu. Nhưng phía sau đó là hàng triệu học sinh bình thường khác đang lặng lẽ đối diện với những cảm xúc rất khác. Các em có thể đạt 24 điểm, 25 điểm, thậm chí 27 điểm. Đó là kết quả không hề thấp. Thế nhưng khi mở điện thoại, bật TV, điều các em nhìn thấy lại là những câu chuyện về những thí sinh đạt 29 điểm, 30 điểm.
Hiệu ứng so sánh bắt đầu xuất hiện. Nhiều học sinh cảm thấy thành tích của mình trở nên nhỏ bé. Không ít em vừa vượt qua một kỳ thi đầy áp lực nhưng lại không cảm nhận được niềm vui vì luôn thấy mình thua kém ai đó. Đây là một hệ quả tâm lý mà xã hội ít khi nhắc tới.
>> 'Đời tôi rẽ hướng không ngờ sau khi trượt đại học vì thiếu 0,2 điểm'
Khi người ta chỉ tập trung vào nhóm xuất sắc nhất, phần đông học sinh còn lại rất dễ có cảm giác mình không đủ giỏi, không đủ nổi bật, không đủ đáng được ghi nhận. Trong khi thực tế, một nền giáo dục lành mạnh không thể chỉ phục vụ cho nhóm đứng đầu. Nó phải giúp đa số người học cảm nhận được giá trị của chính mình.
Quan sát các nền giáo dục phát triển trên thế giới, có thể thấy một xu hướng khá rõ. Họ vẫn ghi nhận học sinh xuất sắc nhưng không đặt quá nhiều sự chú ý vào việc tìm kiếm và tôn vinh người đứng đầu. Ở nhiều trường phổ thông tại châu Âu, việc công khai xếp hạng học sinh thậm chí còn được hạn chế nhằm tránh tạo áp lực cạnh tranh không cần thiết. Các trường đại học hàng đầu thế giới khi tuyển sinh cũng không chỉ nhìn vào điểm số. Họ quan tâm đến hoạt động xã hội, kỹ năng lãnh đạo, khả năng sáng tạo, cá tính và tiềm năng phát triển...
Điểm số quan trọng nhưng không phải tất cả. Một học sinh có thể giỏi Toán nhưng chưa chắc giỏi làm việc nhóm. Một học sinh có thể đạt điểm tuyệt đối nhưng chưa chắc có khả năng thích nghi với môi trường mới. Một học sinh có thể là thủ khoa nhưng chưa chắc là người có năng lực lãnh đạo tốt. Bởi vậy, thay vì cố gắng xác định ai là người xuất sắc nhất, nhiều quốc gia chuyển trọng tâm sang việc giúp mỗi học sinh phát huy tối đa điểm mạnh riêng của mình. Đó là cách tiếp cận nhân văn và cũng thực tế hơn.
Tôi từng gặp nhiều sinh viên đạt thành tích rất cao khi còn học phổ thông. Các em thông minh, chăm chỉ và hoàn toàn xứng đáng với kết quả đạt được. Nhưng điều khiến tôi ấn tượng nhất lại không phải bảng điểm, mà là thái độ của các em đối với thành công. Những người tiến xa nhất thường không dành quá nhiều thời gian để tận hưởng hào quang. Họ hiểu rằng một kỳ thi chỉ là một cột mốc, không phải đích đến. Họ hiểu rằng phía trước còn rất nhiều thử thách lớn hơn.
Thành tích học tập là điều đáng trân trọng. Những học sinh đạt điểm cao xứng đáng nhận được sự ghi nhận của cộng đồng. Nhưng sự ghi nhận ấy cần đi kèm với sự tỉnh táo. Chúng ta không nên biến một kỳ thi thành thước đo duy nhất của tương lai. Không nên biến những người trẻ vừa bước qua tuổi 18 thành biểu tượng hoàn hảo của thành công. Càng không nên khiến các em mang cảm giác rằng mình phải sống cả đời dưới cái bóng của một danh hiệu đạt được trong vài ngày thi cử.
Tôi là thành viên của một nhóm học thuật trên mạng xã hội từ lâu. Thành viên của nhóm là người Việt Nam trên toàn thế giới đã, đang và sẽ có ý định đi theo con đường học thuật.
Đến nay, số thành viên đã hơn trăm nghìn và tôi tin trong đó rất nhiều đã tốt nghiệp tiến sĩ. Đây là tín hiệu tích cực. Phần nhiều trong số đó đang định cư tại nước ngoài và có ý định trở về Việt Nam sinh sống, làm việc.
Cũng nhiều trong số đó đã lập gia đình, có con cái. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi đưa ra quan sát cá nhân về nhưng bài viết và bình luận trên nhóm kết hợp với những trường hợp mình quan sát ngoài đời thực.
Việc ở lại làm đúng chuyên ngành, có vị trí ổn định nói chung, đặc biệt trong môi trường học thuật là điều khó vô cùng. Khi một vị trí đưa ra là có tới hàng trăm, hàng nghìn hồ sơ xuất sắc trên thế giới ứng nộp chưa kể xác suất cao là hội đồng đã có ứng viên sáng giá được đề cử trước dựa trên năng lực và mạng lưới quen biết.
Tôi sống ở Đức và làm việc trong ngành Y sinh. Tôi biết không ít người làm xong tiến sĩ nhưng rồi để đi tới đích là một vị trí vĩnh viễn trong ngành học thuật chỉ đếm đầu ngón tay.
Có nhiều người cố gắng làm sau tiến sĩ (Postdoc) đến khi nào hết quy định thì thôi (thường là 12 năm làm nghiên cứu và không tìm được vị trí vĩnh viễn). Lúc này bài toán đặt ra và vô cũng nan giải. Làm gì tiếp theo khi mà con cái đã lớn đều đã hòa nhập tốt vào môi trường bên này? Ở lại thì không có việc phù hợp.
Nhiều người đi làm việc bình thường trong siêu thị, bệnh viện, nhà máy với mức thu nhập tối thiểu theo quy định như những người không được đào tạo. Nếu ai hài lòng thì tốt, cả gia đình tổng hòa sẽ vui vẻ.
Nhưng nếu không chấp nhận, cơn bão ngầm bắt đầu nổi lên khi họ muốn về nước để tìm được công việc phù hợp, được tôn trọng và còn một lý do khác nữa là gần cha mẹ già.
Mọi thứ sẽ thực sự không dễ thở với những ai có gia đình, con cái. Ở bên này, anh em có dịp nói chuyện với nhau đều thống nhất rằng nếu hai vợ chồng đi làm mức lương tối thiểu thì cơ bản sẽ đủ tiêu và dư chút. Hàng năm vẫn đi chơi thoải mái và vài năm về nước một lần.
Ba vấn đề tôi mạn phép chia sẻ ở đây là nhà ở, y tế và môi trường nghiên cứu.
Đầu tiên là nhà ở, nước Đức có tỷ lệ sở hữu nhà riêng là khoảng 50%. Tức là 50% số người như tôi vẫn đang đi thuê mà rất yên tâm. Luật của Đức bảo vệ quyền lợi người thuê bằng quy định.
Chủ cho thuê không đuổi vô tội vạ trừ khi người thuê làm hỏng nhà đến mức tệ hoặc chủ muốn lấy lại nhà để ở hoặc cho con. Giá cho thuê chỉ được tăng vài phần trăm sau vài năm.
Tuy có một số mặt trái nhưng đa phần người thuê sẽ yên tâm khi ở nhà thuê trong khoảng thời gian dài. Nếu mua nhà sở hữu thì sẽ phải tuân thủ quy định về thời gian sau ở bao lâu mới được bán cũng như đóng thuế phần chênh lệch.
Có lẽ đó là hai yếu tố chính khiến thị trường mua và thuê ở đây có sự ổn định, không tăng giảm quá sốc.
Tôi nghĩ nếu cơ quan chức năng vào cuộc và đưa các quy định rõ ràng hơn và ràng buộc pháp lý khi thuê nhà cũng như mua nhà thì đại đa số người dân trong đó có những người muốn trở về sẽ không phải quá trăn trở về chỗ ở, một khoản chi tiêu lớn hàng tháng cho hộ gia đình.
Về y tế, Đức thực hiện chính sách y tế toàn dân. Tức là ai cũng có bảo hiểm và được chữa trị giá hợp lí, không phát sinh nhiều chi phí y tế ngoài bảo hiểm. Đặc biệt Đức chịu chi rất nhiều cho khám sàng lọc ở mọi lứa tuổi.
Họ biết rằng nếu chi cho sàng lọc tốt thì chữa sẽ giảm chi phí nhiều. Bên cạnh việc chi thường xuyên cho nhiều xét nghiệm sàng lọc thường niên, một sáng kiến rất hay đưa ra là một năm một người sẽ được bảo hiểm công chi tới 500 Euro cho sàng lọc phụ thêm như sàng lọc ung thư da, làm sạch răng, tiêm phòng ra nước ngoài...
Chúng ta có thể bắt đầu bằng những gói phụ sàng lọc hỗ trợ từ năm trăm nghìn đến vài triệu đồng một năm tùy đối tượng. Làm được tốt từ khâu khám sàng lọc thì khâu chữa chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí y tế rất nhiều, một cấu thành lớn trong chi tiêu mà những người đang ở bên nước phát triển có nền y tế toàn dân rất quan tâm khi trở về.
Việc xin dự án nghiên cứu ở Đức là tương đối cạnh tranh và minh bạch. Nhà khoa học được dành nhiều thời gian cho nghiên cứu và có thời gian không quá nhiều cho giảng dạy.
Việt Nam vẫn nên duy trì các quỹ nghiên cứu, đó là mạch máu nuôi dưỡng sức sống của người làm khoa học.
Về phía mỗi cá nhân, khi trở về đều nên hiểu và chuẩn bị cho một kịch bản sống mang nhiều khác biệt. Lấy việc ở gần cha mẹ, họ hàng, được nói ngôn ngữ của mình là điểm cộng để tự động viên bản thân cho hành trình trở về.
Ngay cả tại Trung Quốc, một nước đi trước chúng ta nhiều năm, quá trình đi và trở về cũng đang diễn ra và như những đồng nghiệp, hàng xóm tôi biết người Trung Quốc ở bên Đức, việc đi hay ở cũng không thuận lợi với bất kỳ ai.
Quyết định cuối cùng là của mỗi cá nhân và xin chúc mọi người đều vui vẻ với quyết định của mình.