Thông tin được nêu trong báo cáo “UK TNE tại Đông Á” được Hội đồng Anh công bố mới đây. Cụ thể, đơn vị này thông tin có 13.285 người Việt theo học các chương trình UK TNE trong năm học 2024-2025, tăng 785 người so với năm học trước đó. Mức này đưa nước ta vào top 5 thị trường đông người học UK TNE nhất khu vực Đông Á và xếp thứ 14 thế giới.
Ngoài ra, tính riêng năm học 2023-2024, UK TNE ở Việt Nam góp tới 80% tăng trưởng tại khu vực Đông Nam Á.
UK TNE là khái niệm chỉ các chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục Anh được triển khai ngoài lãnh thổ Anh thông qua đa dạng hình thức như mở phân hiệu tại nước ngoài, liên kết đào tạo với trường nước sở tại hay đào tạo từ xa…
Một xu hướng đáng chú ý là vào trước Covid-19, Đông Á là nơi có 4/5 thị trường UK TNE lớn nhất thế giới, gồm Trung Quốc, Malaysia, Singapore và Hồng Kông. Tuy vậy, vào năm học 2024-2025, bức tranh đã đổi thay khi sinh viên các khu vực này học UK TNE phần lớn đều chững lại, làm thứ hạng toàn cầu của 3/4 thị trường – trừ Trung Quốc – đều sụt giảm so với trước đại dịch.
Việt Nam là một “ngoại lệ đáng chú ý” trong xu hướng này, báo cáo nhận định, vì số lượng người Việt theo đuổi các chương trình UK TNE đã tăng hơn gấp ba từ sau Covid-19. “Nhiều khả năng” nước ta sẽ vượt Hồng Kông, trở thành thị trường lớn thứ 4 của UK TNE ở Đông Á trong những năm tới, báo cáo nêu.
Một yếu tố quan trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởng này là số chương trình UK TNE đang được vận hành ở Việt Nam. Theo dữ liệu tính tới tháng 6.2025 của Bộ GD-ĐT, Anh đang dẫn đầu số lượng chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục tại Việt Nam với 70 chương trình, theo sau là Úc (56), Pháp (55), Mỹ (50) và một số quốc gia, vùng lãnh thổ.
Tuy nhiên, số chương trình liên kết đào tạo của Anh thời điểm trên lại giảm 50 so với cùng kỳ năm 2024.
Một dữ liệu đáng chú ý khác được Hội đồng Anh nêu trong báo cáo là số lượng người Việt “du học tại chỗ” các chương trình UK TNE đang cao gấp 3,57 lần số chọn du học trực tiếp tại Anh trong năm học 2024-2025. Tỷ lệ này cũng tăng đều trong thời gian qua, chỉ ra thực tế nhu cầu về bằng cấp Anh vẫn hiện diện nhưng xu hướng đã đảo chiều từ du học trực tiếp tại Anh thành “du học tại chỗ” ngay tại Việt Nam.
Thống kê từ Cơ quan thống kê giáo dục ĐH Anh xác nhận điều này. Cụ thể, năm học 2024-2025 có 3.675 người Việt du học Anh, tăng nhẹ so với năm ngoái (3.515). Tuy vậy, nếu so với cách đây 10 năm vào 2014-2015, mức này chỉ mới bằng 87,5% (4.200). Một điểm đáng chú ý khác là số lượng người Việt du học Anh giảm đều từ giai đoạn 2014-2015 và chỉ mới tăng đều trở lại từ 2021-2022 tới nay.
Đối lập, số lượng người Việt theo học các chương trình UK TNE cách đây 5 năm vào 2019-2020 đã đạt 3.780, vẫn nhỉnh hơn số du học Anh ở thời điểm hiện tại. Và trái ngược với số du học Anh vẫn xoay quanh mốc 3.000-4.000 trong thập kỷ qua, số lượng học UK TNE đã sớm bứt phá mốc 10.000 được vài năm.
“Ngày càng nhiều sinh viên trong khu vực hoàn thành các chương trình UK TNE mà không cần nhập học trực tiếp ở Anh”, báo cáo nêu, cho biết thêm 2024-2025 còn lần đầu ghi nhận số người học từ Đông Á đăng ký chương trình UK TNE gần tương đương với số người học khu vực này đang theo đuổi các khóa đào tạo trực tiếp tại Anh.
Trên bình diện quốc tế, báo cáo ghi nhận hiện có 212.600 người học Đông Á theo đuổi các chương trình UK TNE, tăng 5,6% so với năm trước và tăng 36% nếu so với thời điểm trước Covid-19. Riêng 5 thị trường hàng đầu góp đến 95% số lượng, gồm Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Hồng Kông và Việt Nam.
Bà Hoàng Vân Anh, Giám đốc Chương trình giáo dục của Hội đồng Anh tại Việt Nam, chia sẻ với Thanh Niên rằng kết quả báo cáo “cho thấy triển vọng tích cực” với cả khu vực Đông Á và Việt Nam. Nước ta hiện là một trong 3 trung tâm TNE hàng đầu trong khu vực Đông Á và sự tăng trưởng này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của TNE trong quá trình hỗ trợ quốc tế hóa giáo dục ĐH của Việt Nam, theo bà Vân Anh.
“Điều này còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm giáo dục quốc tế”, bà Vân Anh nói, cho biết thêm Hội đồng Anh đã phối hợp cùng các bên thành lập Mạng lưới Hợp tác TNE Anh-Việt (UK-Viet Nam EmpowerTNE) hồi cuối năm ngoái nhằm phát triển hệ sinh thái TNE bền vững, chất lượng tại Việt Nam.
Trước đó, trao đổi với Thanh Niên bên lề tuần lễ giáo dục Đông Á tổ chức ở Indonesia hồi tháng 2, bà Jazreel Goh, tác giả báo cáo nêu trên, hiện đảm nhận vị trí Giám đốc Trung tâm phân tích giáo dục Đông Á thuộc Hội đồng Anh kiêm Giám đốc Hội đồng Anh tại Malaysia, nhận định từ sau Covid-19, ngày càng nhiều sinh viên Đông Á trong đó có Việt Nam muốn học gần nhà hơn. Đây cũng là tiền đề để các chương trình UK TNE phát triển.
Hai xu hướng đáng chú ý khác, theo bà Goh, là nhu cầu du học các điểm đến nói tiếng Anh như Anh, Úc, Mỹ… vẫn còn dư địa tăng trưởng, song song đó là người học đang ngày càng quan tâm tới các ngành về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ máy tính và những lĩnh vực tương tự.
Bà Goh cho biết thêm, việc triển khai UK TNE tại Việt Nam không chỉ giúp người học Việt tiếp cận các chương trình đào tạo chuẩn quốc tế, mà còn là cơ hội để đào tạo và nâng chuẩn đội ngũ giảng viên nội địa. Đây cũng là động lực góp phần quốc tế hóa giáo dục ĐH ở Việt Nam, tạo tiền đề để Việt Nam xuất khẩu giáo dục ra thế giới – nhất là với những người bạn láng giềng như Lào và Campuchia.
“Tôi tin chúng ta còn chứng kiến nhiều mô hình hợp tác TNE hơn nữa trong tương lai, thay vì chỉ dừng ở việc gửi sinh viên ra nước ngoài du học”, bà nói.
Theo phân loại của Hội đồng Anh, khu vực Đông Á bao gồm các thị trường: Úc, Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam.
Chiều 30/5, khoảng 124.000 thí sinh Hà Nội hoàn thành bài thi môn Ngoại ngữ (hầu hết là Tiếng Anh), cũng là môn thứ hai trong kỳ thi vào lớp 10 công lập. Đề gồm 40 câu trắc nghiệm, được trộn thành 24 mã.
Đánh giá tổng quan, cô Đinh Thị Bích Liên, Tổ phó tổ Ngoại ngữ, trường THCS và THPT M.V.Lômônôxốp, nhìn nhận đề thể hiện rõ nét tinh thần dạy tiếng Anh để sử dụng, khi ngữ pháp không còn được kiểm tra riêng lẻ mà được lồng ghép trong ngữ cảnh, phù hợp với định hướng phát triển năng lực ngôn ngữ.
"Đề hay, kiểm tra toàn diện từ kiến thức nền tảng đến kỹ năng đọc hiểu và tư duy ngôn ngữ", cô Liên nói.
Cô Liên và cô Nguyễn Thanh Thúy, giáo viên tiếng Anh trường THCS Chương Dương, đều chung nhận định, rằng đề có nhiều dạng câu hỏi và yêu cầu mới so với 1-2 năm gần đây.
Theo cô Thúy, đề thi năm nay kiểm tra khả năng thông hiểu của học sinh về biển báo dạng tin nhắn, thông điệp (câu 1, 2 mã đề 012), thay vì biển báo hình ảnh như năm ngoái.
Cô Thúy cũng thấy dạng sắp xếp 4 đáp án vào phần khuyết của đoạn văn khó hơn (câu 37-40, mã đề 012), vì đề cho 4 cụm từ. Các năm trước, dạng bài này cho 2 câu và 2 cụm từ. Để làm đúng cả 4 câu này, học sinh phải có vốn từ vựng lớn, khả năng đọc quét và nắm bắt ngữ cảnh tốt.
Một điểm mới nữa là đề yêu cầu học sinh chọn câu kết cho nửa đầu văn bản, rồi sắp xếp ba câu của nửa bài còn lại (câu 5, 6 mã đề 012). Học sinh sẽ dễ nhầm lẫn vì câu chứa từ nối "Finally" (cuối cùng) không phải câu kết bài.
Cô Liên cho rằng dạng này là yêu cầu "cực hay" của đề thi năm nay, khi thí sinh không thể học vẹt mà phải hiểu kết cấu mạch lạc (coherence) của một văn bản hoàn chỉnh.
Trong khi đó, một số dạng quen thuộc không xuất hiện, như phát âm đuôi -ed hoặc -s, -es... Phần câu điều kiện có câu loại 0, được đánh giá khó hơn loại 1 và 2 cơ bản.
Các giáo viên cũng đánh giá cao tính thực tế của đề, khi lồng ghép thông điệp tiết kiệm năng lượng ở trường học (câu 33-36 mã đề 012), với những giải pháp thiết thực, gần gũi như mang bình nước tái sử dụng, tái chế túi và hộp.
Với đề thi này, cô Thúy cho rằng phổ điểm tập trung trong khoảng 6-7. Để đạt từ 8 điểm trở lên, học sinh phải có học lực khá, vốn từ vựng rộng và làm bài cẩn thận.
Cô Liên dự đoán phổ điểm cao hơn, ở mức 7-8. Muốn lấy điểm cao hơn, học sinh phải làm tốt những câu về tư duy logic đoạn văn, bài đọc hiểu suy luận. Thí sinh lấy điểm 10 cần có tư duy ngôn ngữ thực sự sắc sảo.
Còn cô Mai Linh, giáo viên Tiếng Anh, trường THPT Marie Curie Long Biên, giáo viên Tuyensinh247, nhìn nhận học sinh trung bình có thể đạt 5-6 điểm nếu nắm chắc kiến thức cơ bản; những em học khá có thể đạt điểm 7-8.
Kỳ thi vào lớp 10 của Hà Nội diễn ra ngày 30-31/5 với hơn 124.000 thí sinh - đông nhất cả nước, và cũng cao kỷ lục. Tỷ lệ đỗ khoảng 66%.
Sáng nay, thí sinh đã hoàn thành môn Ngữ văn. Ngày mai, các em sẽ thi nốt môn cuối là Toán. Trừ Ngoại ngữ (chủ yếu Tiếng Anh) thi trong 60 phút, hai môn còn lại 120 phút. Những em đăng ký vào lớp chuyên sẽ thi thêm vào ngày 1/6.
Tại dự thảo Nghị định về tự chủ, cơ chế tài chính giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nhiều cơ chế đặc thù nhằm phát triển đội ngũ nhân lực trình độ cao cho các lĩnh vực chiến lược.
Theo dự thảo, chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ GD&ĐT cho rằng cần có chính sách đột phá để “khai thông điểm nghẽn lớn về nguồn lực” cho phát triển giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học công nghệ. Hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giáo dục đòi hỏi nguồn lực ổn định, lâu dài, bao gồm cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
Vì vậy, cần có nguồn ngân sách riêng để bảo đảm tính liên tục, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào các nguồn kinh phí ngắn hạn.
Đồng thời, theo cơ quan soạn thảo, cần thiết phải có quy định của Nhà nước thực hiện chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian nhằm bảo đảm cung cấp học bổng và hỗ trợ chi phí sinh hoạt đủ để nghiên cứu sinh yên tâm học tập và nghiên cứu, không phải tự trang trải chi phí.
Cụ thể, dự thảo đề xuất nghiên cứu sinh thuộc chương trình được miễn học phí và được ngân sách nhà nước hỗ trợ tham gia hội thảo, trao đổi nghiên cứu tại các viện nghiên cứu, trường đại học uy tín trên thế giới cùng các khoản hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ.
Chương trình áp dụng với nghiên cứu sinh trúng tuyển các chương trình đào tạo tiến sĩ tại cơ sở giáo dục đại học trong nước, thuộc nhóm ngành, lĩnh vực nằm trong chương trình trọng điểm quốc gia do Thủ tướng quyết định.
Ngoài ra, đối tượng còn bao gồm nghiên cứu sinh theo học tại các cơ sở giáo dục đại học triển khai các đề án phát triển cơ sở giáo dục trọng điểm, nhóm đại học hướng tới top đầu châu Á.
Dự thảo quy định chương trình chỉ áp dụng với hình thức đào tạo chính quy, tập trung toàn thời gian.
Bộ GD&ĐT cũng đề xuất việc hỗ trợ được thực hiện trực tiếp cho nghiên cứu sinh, gắn với quá trình học tập, nghiên cứu và kết quả đào tạo, bảo đảm công khai, minh bạch, tránh chồng chéo với các chính sách hỗ trợ khác từ ngân sách nhà nước.
Theo dự thảo, nghiên cứu sinh tham gia chương trình sẽ thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu và các nhiệm vụ chuyên môn theo phân công của cơ sở đào tạo. Tổng khối lượng hỗ trợ giảng dạy không quá 300 giờ hành chính mỗi năm.
Đối với nghiên cứu sinh là giảng viên của chính cơ sở đào tạo, dự thảo yêu cầu không đảm nhiệm vượt định mức giảng dạy của giảng viên cơ hữu.
Cơ quan soạn thảo kỳ vọng các chính sách mới sẽ tạo chuyển biến trong cơ chế tài chính, đầu tư cho giáo dục đại học, thúc đẩy đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Sau khi hoàn thành 3 môn bắt buộc của kỳ thi lớp 10, hơn 11.000 thí sinh tại TP.HCM tiếp tục dự thi các môn chuyên, môn tích hợp để cạnh tranh suất học tại các lớp chuyên, lớp tích hợp và chương trình đặc thù.