Một sáng sớm ở TP.HCM, hơn chục người con lai Việt – Mỹ từ khắp nơi lặng lẽ ngồi chờ trước một văn phòng luật. Họ mang theo những tập giấy nhàu nát, những ký ức rời rạc, và một hy vọng mong manh: được thừa nhận, được đoàn tụ. Người họ chờ là luật sư Trần Thanh Tùng, người đã nhiều năm âm thầm làm hồ sơ, giúp những người con lai có thể được đến quê cha.
Chưa tới 7 giờ sáng, trước văn phòng luật sư Gia Pháp trên đường Ngô Quyền, P.An Đông, TP.HCM, một nhóm người con lai đã có mặt. Họ đến từ An Giang, Đà Nẵng, Gia Lai… Có người vừa xuống xe khách sau chuyến đi xuyên đêm, mắt còn đỏ ngầu vì thiếu ngủ.
Trên tay họ là những xấp giấy tờ cũ kỹ như giấy khai sinh, ảnh mờ nhòe, vài dòng thông tin ít ỏi về người cha là cựu binh Mỹ. Họ không biết bắt đầu từ đâu, chỉ biết tìm đến một cái tên đã được truyền tai: luật sư Trần Thanh Tùng.
“Phần lớn họ có hoàn cảnh rất khó khăn. Nhiều người không biết chữ, không đủ khả năng tự làm hồ sơ hoặc dễ bị lừa”, ông Tùng nói, giọng trầm.
“Có người biết chắc mình là con lai, nhưng chứng cứ gần như không có gì”, luật sư Tùng nói thêm.
Trong những người tìm đến, anh Nguyễn Văn Mỹ (An Giang) lặng lẽ ngồi ôm tập hồ sơ. Cuộc đời anh là chuỗi dài những lần đặt niềm tin sai chỗ. Năm 2008, nghe tin về chương trình con lai hồi hương, anh bán hết đất đai, nhà cửa để nhờ người làm hồ sơ. Nhưng rồi tiền mất, hy vọng cũng tan theo. “Lúc đó tôi nghĩ chắc đời mình hết cơ hội rồi”, anh Mỹ nói, mắt nhìn xa xăm.
Mãi đến tháng 8.2025, anh mới tìm đến luật sư Tùng. Bước đầu là lấy mẫu DNA, một quy trình tưởng đơn giản nhưng với anh là cả hành trình. Nửa đêm, anh cùng hai con gái bắt xe từ An Giang lên TP.HCM. Anh nhịn ăn suốt nhiều giờ để kịp lấy mẫu đúng quy định.
“Khi tôi hỏi sao đi đông vậy, anh nói sợ bị lừa nữa nên phải đi cùng con cho chắc”, luật sư Tùng kể. Nghe câu chuyện, ông Tùng lặng người, rồi gọi đồ ăn sáng cho 3 cha con.
“Cuộc sống của gia đình tôi còn khó khăn lắm, mà vẫn phải đi. Nhưng lần này tôi tin là gặp đúng người”, anh Mỹ khẳng định.
Niềm tin ấy đã được đền đáp. Kết quả DNA trùng khớp, hồ sơ quân đội của người cha – ông John Paul Tressel – cũng được tìm thấy. Sau nhiều bước xác minh, anh Mỹ chính thức được chấp thuận định cư tại Mỹ. Ngày anh Mỹ lên đường đang đến gần.
Không riêng anh Mỹ, anh Nguyễn Văn Hà (Đà Nẵng) cũng từng là nạn nhân của những kẻ lừa đảo. Khi tìm đến luật sư Tùng và một tổ chức hỗ trợ con lai tại Mỹ, hành trình của anh mới thực sự bắt đầu. Anh Hà tâm sự: “Tôi từng nghĩ mình không có quyền mơ nữa. Nhưng khi được hướng dẫn từng bước, tôi mới thấy con đường tìm lại cha không phải đã khép lại”.
Còn chị Hoàng Kim, sau khi được chấp thuận visa, lại vấp phải yêu cầu chứng minh tài chính, một rào cản lớn với những gia đình vốn đã nghèo khó. “Tôi lo đến mất ngủ, sợ hồ sơ bị hủy”, chị kể. Luật sư Tùng đã soạn thảo thư giải trình, viện dẫn chương trình “Amerasian Homecoming Program” – chính sách nhân đạo dành cho con lai. Đồng thời, ông kết nối với các tổ chức hỗ trợ con lai bên Mỹ để bảo lãnh.
Có khi hành trình tìm về quê cha của một số con lai gần như đến đích, nhưng phải chựng lại vì lý do nào đó, thì luật sư Tùng là người kiên nhẫn lần từng bước để tìm lối ra. Công việc của ông không chỉ là giấy tờ. Đó là những câu chuyện phức tạp, đôi khi tưởng không thể tháo gỡ.
Như trường hợp anh Dương Minh Trung (Gia Lai), với rào cản lớn nhất của anh là dính tiền án. Một tai nạn giao thông do anh gây ra vào năm 2022 khiến anh bị phạt tù 12 tháng. Với hồ sơ di trú mà Mỹ yêu cầu, đó là “điểm trừ” nghiêm trọng. “Anh Trung rất lo, nghĩ chắc không còn cơ hội”, ông Tùng kể.
Rồi ông Tùng nghiên cứu kỹ hồ sơ, soạn thảo bản giải trình chi tiết gửi cơ quan di trú Mỹ, nhấn mạnh hoàn cảnh tai nạn, thái độ hợp tác và việc chấp hành đầy đủ bản án. Với sự hỗ trợ của luật sư Tùng, anh Trung đã được chấp thuận sang Mỹ định cư.
Trường hợp khác là anh Nguyễn Thế Trường (Đà Nẵng). Cuộc đời anh gắn với những công việc nặng nhọc. Một lần nhận bốc vác hàng thuê, anh vô tình liên quan đến hàng hóa trộm cắp và bị án tù. Dù sau đó đã được xóa án tích, nhưng hồ sơ di trú vẫn bị ảnh hưởng.
“Hoàn cảnh của Trường rất tội. Vợ bị ung thư, còn anh chạy xe ôm nuôi gia đình”, luật sư Tùng nói. Ông nhận làm hồ sơ miễn phí, liên hệ với các tổ chức hỗ trợ bên Mỹ, kể cả bỏ tiền lo bữa ăn cho anh Trường.
Ông Tùng cho biết phần lớn những người con lai đều có hoàn khó khăn, nên mức phí ông lấy để làm các thủ tục hồ sơ cho họ rất ít. “Có người tôi còn không lấy đồng nào, coi như đó là tạo phước”, ông Tùng chia sẻ.
Theo luật sư Tùng, quy trình làm hồ sơ con lai rất phức tạp từ xét nghiệm DNA, lập cây gia phả, xin hồ sơ quân đội của người cha, đến việc trả lời hàng loạt câu hỏi từ phía Lãnh sự quán Mỹ. “Có những hồ sơ gần như trắng thông tin. Tôi phải ghép từng chi tiết nhỏ, từ lời kể, ký ức, đến các mối liên hệ xa để dựng lại câu chuyện”, ông thổ lộ.
Không ít lần, ông như một “nhà điều tra” lần tìm từng manh mối. Có khi chỉ từ một cái tên mơ hồ, một địa danh cũ, ông lần ra được cả một hồ sơ quân nhân. Nhưng điều khiến ông trăn trở nhất không phải là độ khó của hồ sơ, mà là hoàn cảnh của những con người phía sau.
“Họ thiệt thòi từ nhỏ, lớn lên lại sống trong nghèo khó, thất học. Nhiều người không dám mơ được đến quê cha”, ông trải lòng.
Tại Văn phòng luật sư Gia Pháp của vị luật sư 67 tuổi này, vẫn có những con người con lai đến mang theo hy vọng. Có người đã cầm trên tay tấm visa, chuẩn bị bước lên chuyến bay đầu tiên trong đời. Có người vẫn đang chờ.
Và cũng trong văn phòng ấy, luật sư Tùng vẫn lặng lẽ ngồi đó, trước những xấp hồ sơ dày hay mỏng để tìm cách giúp họ. Những bộ hồ sơ con lai không chỉ là thủ tục pháp lý. Đó là hành trình tìm lại căn tính, tìm lại một phần máu thịt đã bị đứt gãy bởi chiến tranh và thời gian.
Sáng 25/5, Thành ủy Hà Nội tổ chức hội nghị công bố các quyết định của Ban Bí thư và Ban Thường vụ Thành ủy về công tác cán bộ.
Theo đó, Ban Bí thư quyết định chuẩn y ông Phạm Quang Thanh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Ba Đình, tham gia Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội.
Ban Bí thư quyết định chỉ định tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ TP Hà Nội đối với các ông: Nguyễn Thành Long, Chánh Văn phòng Thành ủy, Thiếu tướng, cán bộ công an biệt phái (nguyên Phó giám đốc Công an thành phố); Nguyễn Hoài Nam, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố; Nguyễn Trọng Diện, Giám đốc Sở Y tế; Hoàng Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Tiến Thắng.
Tại hội nghị, đại diện Ban Tổ chức Thành ủy Hà Nội cũng công bố các quyết định của Ban Thường vụ Thành ủy phân công Thành ủy viên đối với ông Nguyễn Thành Long, thôi giữ chức Chánh Văn phòng Thành ủy để điều động, phân công giữ chức Trưởng Ban Nội chính Thành ủy.
Theo quyết định của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, ông Nguyễn Việt Hà, Bí thư Đảng ủy xã Gia Lâm, được điều động, bổ nhiệm giữ chức Chánh Văn phòng Thành ủy.
Ông Lê Ngọc Anh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội, được điều động, phân công, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, giữ chức Bí thư Đảng ủy xã Gia Lâm.
Ông Lê Thanh Nam, Bí thư Đảng ủy phường Ngọc Hà, được điều động để bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội.
Theo quyết định được công bố tại hội nghị, bà Đỗ Thị Lan Hương, Phó Chánh Văn phòng Thành ủy, được điều động, chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy phường Ngọc Hà.
Ông Nguyễn Trúc Anh, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Đồng, được điều động, chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy phường Hoàn Kiếm.
Ông Nguyễn Đình Trường, Phó Chánh Văn phòng Thành ủy, được điều động, chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy xã Sơn Đồng.
Ông Nguyễn Mạnh Huy, Bí thư Đảng ủy xã Đại Xuyên, được điều động đến công tác tại Văn phòng Thành ủy để làm thành viên Tổ nghiên cứu cơ chế, chính sách giúp việc Thường trực Thành ủy.
Ông Đào Việt Long, Phó Giám đốc Sở Xây dựng, được điều động, chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy xã Đại Xuyên.
Ông Nguyễn Xuân Minh, Bí thư Đảng ủy xã Thường Tín, được điều động đến công tác tại Văn phòng Thành ủy để làm thành viên Tổ nghiên cứu cơ chế, chính sách giúp việc Thường trực Thành ủy.
Đề xuất được ông Nguyễn Thành Đô, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật thuộc Liên đoàn Lao động TP HCM, nêu tại phiên thảo luận chuyên đề của Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 14 chiều 3/6.
TP HCM sau sáp nhập có hơn 7,2 triệu lao động, trong đó khoảng 4,7 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tương đương 58% lực lượng lao động. Dù gần nửa năm qua không ghi nhận vụ ngừng việc tập thể quy mô lớn, đời sống và việc làm của người lao động vẫn đối mặt nhiều áp lực về thu nhập, nhà ở, chăm sóc sức khỏe và an sinh xã hội.
Ông Đô cho rằng tình trạng nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm xã hội vẫn diễn ra ở nhiều nơi, trong khi giá cả sinh hoạt đô thị tăng nhanh làm giảm thu nhập thực tế của công nhân. Khoảng cách giữa phúc lợi hiện có và nhu cầu an sinh tối thiểu ngày càng lớn, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tranh chấp lao động.
Để xử lý từ sớm, Công đoàn TP HCM đề xuất thiết lập cơ chế phối hợp nhanh giữa Liên đoàn Lao động, Sở Nội vụ, cơ quan Bảo hiểm xã hội, Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất và chính quyền địa phương. Khi phát sinh kiến nghị hoặc mâu thuẫn, các bên trực tiếp trao đổi, thống nhất phương án xử lý thay vì chờ quy trình hành chính kéo dài.
Theo ông Đô, bên cạnh cơ chế cảnh báo sớm, cơ quan chức năng cần lập hồ sơ theo dõi đặc biệt đối với các doanh nghiệp thường xuyên vi phạm pháp luật lao động, nợ lương hoặc nợ bảo hiểm xã hội kéo dài. Trên cơ sở đó, Công đoàn có thể chủ động tham mưu cho chính quyền địa phương làm việc với doanh nghiệp, ngăn ngừa mâu thuẫn tích tụ và bảo vệ quyền lợi người lao động.
Ông cũng nhấn mạnh cần lấy đối thoại định kỳ làm công cụ phòng ngừa tranh chấp từ sớm, đặc biệt tại các ngành sử dụng nhiều lao động. Thời gian qua, Trung tâm Tư vấn pháp luật đã lập hồ sơ khởi kiện, tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi cho hơn 2.500 lao động tại các doanh nghiệp nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội, buộc doanh nghiệp hoàn trả hơn 49 tỷ đồng.
Cùng quan điểm, ông Bùi Văn Trường, Chủ tịch Công đoàn Công ty TNHH Luxshare-ICT tại Bắc Ninh, cho rằng cần đa dạng hóa các kênh tiếp nhận ý kiến của người lao động. Tại doanh nghiệp này, cán bộ công đoàn đeo dải băng nhận diện và công khai số điện thoại cá nhân để công nhân dễ liên hệ khi cần hỗ trợ.
Hàng tháng, các chuyền sản xuất tổ chức tọa đàm với sự tham gia của lãnh đạo phân xưởng và doanh nghiệp. Mọi kiến nghị của công nhân đều được Công đoàn ghi nhận, theo dõi và giám sát việc thực hiện.
Phúc lợi cần phù hợp nguyện vọng người lao động
Ông Đinh Sỹ Phúc, Chủ tịch Công đoàn Công ty Taekwang Vina - doanh nghiệp có 32.000 lao động, trong đó 85% là nữ - cho rằng phúc lợi là một trong những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp giữ chân người lao động và thường được hình thành thông qua đối thoại, thương lượng tập thể.
Theo ông, Công đoàn cơ sở cần thường xuyên nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người lao động qua nhiều kênh khác nhau, từ mạng xã hội, đối thoại trực tiếp đến các buổi tọa đàm tại nơi làm việc. Trên cơ sở đó, Công đoàn lựa chọn nội dung phù hợp để thương lượng với doanh nghiệp.
"Tại các phiên đối thoại, Công đoàn phải vừa mềm dẻo vừa kiên quyết để đạt được kết quả phù hợp với nguyện vọng của đa số người lao động", ông Phúc nói.
Nhờ đối thoại thường xuyên, ngoài thu nhập bình quân hơn 11 triệu đồng mỗi tháng, người lao động tại Taekwang Vina còn được hưởng trợ cấp, phụ cấp bình quân hơn 2,3 triệu đồng; thưởng Tết tương đương 150% tháng lương. Công nhân được hỗ trợ học văn hóa, ngoại ngữ, nâng cao tay nghề; lao động nữ có thêm hỗ trợ nuôi con nhỏ và cấp phát sữa bầu hàng tháng.
Đại diện Công đoàn VNPT đề xuất chuyển từ mô hình chăm lo phúc lợi truyền thống sang mô hình số dựa trên dữ liệu, công nghệ và trải nghiệm của người lao động. Theo đơn vị này, người lao động ngày nay không chỉ cần việc làm và thu nhập ổn định mà còn cần môi trường làm việc nhân văn, được chăm lo sức khỏe thể chất, tinh thần và có cơ hội phát triển bản thân.
Công đoàn VNPT kiến nghị sớm xây dựng nền tảng công đoàn số thống nhất trên toàn quốc, đồng thời cụ thể hóa Bộ chỉ số hạnh phúc người lao động Việt Nam làm cơ sở đánh giá chất lượng môi trường làm việc.
Đảm bảo việc làm trong kỷ nguyên AI
Ông Trần Đức Thích, Chủ tịch Công đoàn Tổng công ty Bưu điện Việt Nam thuộc Công đoàn Khoa học và Công nghệ, cho rằng trí tuệ nhân tạo đang tham gia ngày càng sâu vào quản trị doanh nghiệp, chăm sóc khách hàng, sản xuất nội dung và nhiều công việc văn phòng. Điều này khiến một số ngành nghề truyền thống đối mặt nguy cơ bị thay thế.
Theo ông, nếu không nâng cao kỹ năng kịp thời, người lao động có thể mất lợi thế ngay trên thị trường lao động của mình. Công đoàn cần phối hợp với doanh nghiệp và các đơn vị công nghệ để phổ cập kỹ năng số, kỹ năng làm việc trên nền tảng số và bảo đảm an toàn thông tin cho người lao động.
Ông Thích dự báo cùng với sự phát triển của AI, nhiều mô hình lao động mới sẽ xuất hiện như lao động nền tảng, lao động tự do công nghệ và làm việc từ xa. Nhiều nhóm lao động này hiện chưa được bảo đảm đầy đủ về bảo hiểm xã hội, thu nhập ổn định, thời giờ làm việc và an toàn dữ liệu cá nhân. Vì vậy, Công đoàn cần chủ động tham gia hoàn thiện chính sách pháp luật về lao động trong môi trường số để bảo đảm quyền lợi cho người lao động.
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 14 nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra từ ngày 3 đến 5/6. Ngày 5/6, chương trình thảo luận giữa Thủ tướng và các đại biểu dự Đại hội sẽ tập trung vào chủ đề nâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Ngày 19/5, UBND xã Buôn Đôn (Đắk Lắk), cho biết một con voi đực thuộc sở hữu của người dân trên địa bàn được xác định đã chết không rõ nguyên nhân. Cơ quan chức năng đã phối hợp kiểm tra, ghi nhận biên bản vụ việc và bàn giao voi cho chủ mai táng theo phong tục địa phương.
Khoảng 9h ngày 18/5, ông Y Lít Ksơr (trú tại xã Buôn Đôn) phát hiện voi đực P Lăng (44 tuổi), nặng 4,6 tấn, do gia đình ông nuôi đã chết nên đã báo cho Trung tâm Bảo tồn voi, cứu hộ động vật và Quản lý bảo vệ rừng Đắk Lắk.
Đại diện trung tâm cùng chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm đã đến hiện trường để kiểm tra, xác định nguyên nhân voi P Lăng chết. Tại thời điểm kiểm tra, các bộ phận trên cơ thể voi nguyên vẹn, không phát hiện dấu vết ngoại lực tác động; hiện trường xung quanh không có dấu hiệu voi giãy giụa trước khi chết và không có dấu vết nghi vấn khác.
Ông Y Lít Ksơr cho biết từ tháng 3, voi bắt đầu có biểu hiện động dục nhưng không hung dữ. Thời gian qua, voi vẫn ăn uống, hoạt động bình thường, không có bất kỳ biểu hiện khác thường nào về sức khỏe. Theo ông, voi P Lăng được thuần dưỡng thành voi nhà vào năm 1984 và đang phục vụ cho hoạt động du lịch chiêm ngắm, không cưỡi voi.
Qua làm việc với cơ quan chức năng, chủ voi không yêu cầu mổ khám để xác định nguyên nhân chết và xin được chôn cất voi theo phong tục địa phương.
Từ năm 1980, voi nhà của Đắk Lắk có khoảng 500 con, nhưng số lượng đàn voi nhà ngày càng suy giảm nghiêm trọng theo thời gian. Đến nay, tại Đắk Lắk chỉ còn 32 con voi (xã Buôn Đôn 23 con, xã Liên Sơn Lắk 9 con) và đa phần voi đều đã quá tuổi sinh sản.