Đúng 9 giờ sáng, sân trường của ngôi trường gần trăm tuổi chuyên Lê Hồng Phong trở nên rộn ràng hơn bao giờ hết khi mọi dãy hành lang ngập tràn những học sinh lớp 10, 11 và các thế hệ học sinh đã ra trường, cũng như cả giáo viên và phụ huynh. Tất cả tụ họp lại để cùng nhau tạo nên một “hàng rào” đập tay khích lệ nhóm học sinh khóa tuyển 2023-2026 chuẩn bị ra trường.
Điểm đặc biệt trong ngày hôm nay là bên cạnh bộ đồng phục thường ngày, các em học sinh cuối cấp mỗi lớp lại khoác hoặc là đeo lên mình những đạo cụ độc lạ để thể hiện chất riêng, cũng như để hóa thân vào những nhân vật khác nhau. Có lớp trở thành những cô dâu Chuột Minnie, anh hùng Mario hoặc Spiderman trong văn hóa phương Tây. Nhiều lớp lại vào vai “chú hề”, “nàng tiên”, “tiểu quỷ”… để ghi dấu ngày cuối cùng ở trường.
Điểm chung là tất cả đều rạng rỡ tươi cười và liên tục hò hét trong hạnh phúc vì được cùng nhau trải qua hành trình ngàn ngày ở ngôi trường chuyên được ví von là “Luôn Hạnh Phúc”.
Sau khi đập tay, các học sinh khối 12 cùng quây quần lại với nhau để tiếp tục tham gia hoạt động nhảy flashmob, với những bài nhảy đơn lẫn nhảy đôi đầy sôi động. Trịnh Xuân Trang, học sinh lớp 12 chuyên Anh 2 và là Trưởng ban Tổ chức chương trình, cho biết các bạn đã chuẩn bị cho khoảnh khắc này từ cuối năm ngoái, bắt đầu ở khâu chọn bài, thiết kế vũ điệu đến triển khai rộng rãi cho cả khóa.
Sau tháng 2, các bạn lớp 12 đã bắt đầu tập theo lớp – chủ yếu vào những buổi trưa hoặc các buổi trống tiết – rồi ‘ráp’ đội hình chung toàn trường vào những ngày tổng duyệt cuối cùng. Đến hôm nay, đội hình và động tác của từng bạn gần như không có sai sót, tạo nên kỷ niệm đặc biệt có một không hai trong tuổi học trò.
“Khoảnh khắc tất cả các bạn nhảy chung một nhịp, hát chung một bài ca làm em xao xuyến vô cùng”, Trang nói.
Những bài nhảy đơn, nhảy đôi đầy năng lượng của học sinh trường chuyên
ẢNH: BÙI QUỐC HOÀNG
Bài hát tập thể, theo Trang, cũng là một dấu ấn đặc biệt trong bài nhảy flashmob. Năm nay, các bạn đã cùng hòa giọng trong bài hát Đại lộ mặt trời của ban nhạc Chillies – ca khúc gợi cho người nghe những cảm xúc hoài niệm về thanh xuân. Để rồi, khi câu hát: “Đoạn đường ngày nào mình đi qua giờ đã hóa những cơn mưa buốt giá/Rơi xuống nơi khóe mắt ai sau một đêm thật dài” vang lên, cả sân trường dường như vỡ òa vì hai chữ “chia xa” đến gần.
“Hãy gập một ngón tay nếu bạn từng cùng chiến hữu đi ‘food tour’ ở sau khu E”, “Hãy gập một ngón tay nếu bạn từng chụp rất nhiều bài trên lớp nhưng chưa bao giờ xem lại”, “Gập một ngón tay nếu bạn chưa chấp nhận sự thật rằng ngày mai bản thân sẽ không còn thuộc về Lê Hồng Phong”, “Ngày mai, ai vẫn còn là học sinh Lê Hồng Phong, thì gập một ngón”…
Từng câu dẫn chương trình vang lên, sân trường lại từng chút chùn lại, nhường không gian cho những tiếng nấc sụt sùi, những cái ôm đẫm nước mắt cùng những lời tâm tình, chia sẻ khi trải qua 3 năm với nhau dưới mái trường chuyên Lê Hồng Phong.
Dịp này, các bạn học sinh cuối cấp cũng trao cho nhau những sợi dây ruy băng rực rỡ, mỗi màu tượng trưng cho một ý nghĩa đặc biệt như dành cho người khiến mình cười nhiều nhất, cho người mình không muốn rời xa nhất, hay cho chính bản thân vì không ngừng cố gắng… Các bạn đến từ nhóm Lê Hồng Phong Makers của Dương Nguyễn Thái Hoàn, học sinh lớp 12 Song ngữ Pháp – Việt, thậm chí còn trao nhau những sợi… dây diện thay lời cảm ơn.
“Để một bo mạch hoạt động, các yếu tố phải được liên kết với nhau thông qua sợi dây điện và đó cũng chính là ý nghĩa tụi em muốn gửi gắm”, Hoàn chia sẻ.
Nam sinh cho biết thêm, lớp của em cũng là lớp Song ngữ Pháp – Việt cuối cùng của chuyên Lê Hồng Phong – vốn là một lớp không chuyên. Bởi trước đó, vào cuối năm 2023, Bộ GD-ĐT đã ban hành quy chế yêu cầu các trường chuyên trên cả nước không tổ chức tuyển thêm lớp không chuyên. Như vậy khóa tuyển 2023-2026 của ngôi trường chuyên Lê Hồng Phong cũng là khóa cuối cùng còn các lớp không chuyên.
“Em cũng khá bồi hồi và xúc động khi biết tin mình là lớp song ngữ cuối cùng của trường”, Hoàn nói. Trong khi đó, Trần Minh Phương Nhi, học sinh lớp 12A1 – một lớp không chuyên khác – cũng bày tỏ nhiều tiếc nuối khi các thế hệ sau đã không còn có cơ hội đồng hành với chuyên Lê Hồng Phong trong các lớp không chuyên.
Theo Nhi, học lớp không chuyên cho các em thêm nhiều cơ hội để khám phá bản thân mình toàn diện, không bị giới hạn ở một môn chuyên nhất định cũng như có thêm thời gian tham gia các hoạt động ngoại khóa. Minh chứng cụ thể, bản thân Nhi đã đạt giải ba học sinh giỏi sử cấp thành phố và sắp tới sẽ tiếp tục thử thách mình ở một lĩnh vực khác để hiện thực hóa giấc mơ học ngành sư phạm tiếng Anh.
“Đây là một cơ hội vô cùng đặc biệt với tụi em”, Nhi kể.
Song song đó, đây còn là năm cuối trường này còn lớp chuyên Trung-Nhật, chuyên Sử-Địa trước khi tách thành 4 lớp chuyên riêng, gồm chuyên Trung, Nhật, Sử, Địa như hiện nay.
“Các môn học dù khác biệt song cũng có nhiều điểm chung và đây chính là yếu tố giúp lớp thêm gắn kết. Khối chuyên tụi em cũng có truyền thống anh chị khóa trên mỗi năm đều sẽ về động viên, truyền cảm hứng cho khóa dưới với khẩu hiệu ‘Sử-Địa một nhà’. Tụi em hy vọng có thể tiếp tục thực hiện truyền thống này vào những năm tới”, Nguyễn Ngọc Phương Lam, học sinh lớp 12 chuyên Sử-Địa, chia sẻ.
Còn Phan Mai Phương, học sinh lớp 12 chuyên Trung-Nhật, cho biết sự chia tách tuy mang tới nhiều hụt hẫng song cũng tạo ra nhiều sắc màu mới cho ngôi trường gần trăm tuổi. Một tiếc nuối lớn nhất là khóa dưới sẽ không còn cảnh chào nhau bằng các câu tiếng Nhật, tiếng Trung hay cùng nhau chia sẻ các kiến thức ngôn ngữ mới học, cho dù tiết chuyên được dạy riêng, theo Phương.
“Cứ có cơ hội đồng hành, ví dụ như văn nghệ hoặc hoạt động của trường, là tụi em lại tham gia chung với nhau và càng thêm gắn bó”, nữ sinh chia sẻ.
Là Trưởng ban Văn nghệ của chương trình, Phương cho biết thêm hoạt động flashmob năm nay có sự xuất hiện của một đạo cụ nhảy đặc biệt có tên “Sao Băng”. Đạo cụ mang hai màu chủ đạo là vàng với xanh dương, tượng trưng cho ngôi sao và bầu trời, và do chính tay các bạn học sinh sản xuất chỉ trong 3 ngày gần đây.
“Chương trình tạo hình đạo cụ theo dáng hình sao băng xuất phát từ tín ngưỡng ước nguyện khi nhìn thấy sao băng thì giấc mơ sẽ trở thành hiện thực. Vì thế, tụi em mong khi cầm trên tay ‘Sao Băng’, các bạn lớp 12 năm nay vừa tỏa sáng theo cách riêng, vừa thành công chinh phục những gì các bạn hằng mong ước trên chặng đường sắp tới”, Phương nhắn gửi.
Từ năm học 2025 - 2026, công tác phân luồng học sinh (HS) sau THCS có nhiều chuyển biến tích cực nhờ giáo dục nghề nghiệp (GDNN) được Bộ GD-ĐT quản lý thống nhất, mở rộng liên thông và tăng cường hướng nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này vẫn gặp nhiều khó khăn: nền kinh tế thiếu lao động kỹ thuật, nhưng phần lớn phụ huynh vẫn ưu tiên cho con vào lớp 10 THPT công lập rồi ĐH. Vấn đề phân luồng sau THCS vẫn là bài toán còn nhiều thách thức.
Một trong những thay đổi quan trọng nhất hiện nay là việc GDNN được đưa về Bộ GD-ĐT quản lý thống nhất cùng với giáo dục phổ thông và giáo dục ĐH. Điều này giúp học viên có bằng nghề có cơ hội liên thông lên cao đẳng và ĐH.
Việc quản lý thống nhất mở ra cơ hội xây dựng một hệ thống giáo dục liên thông và linh hoạt hơn. Từ năm học 2025 - 2026, nhiều chính sách mới đã được triển khai theo hướng tăng cường hướng nghiệp thực chất thay vì phân luồng cơ học như trước.
Thông tư 16/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD-ĐT quy định về hướng nghiệp và phân luồng đã quy định rõ việc phối hợp giữa trường phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trong hoạt động hướng nghiệp. HS không chỉ được tư vấn lý thuyết mà còn được trải nghiệm nghề nghiệp, tiếp cận thông tin thị trường lao động và hiểu rõ hơn các con đường học tập sau THCS.
Bên cạnh đó, việc sửa đổi luật GDNN đã bổ sung mô hình "trung học nghề". Theo định hướng này, HS sau THCS có thể vừa học văn hóa vừa học nghề, sau khi tốt nghiệp được cấp bằng trung học nghề có giá trị tương đương THPT. Điều này giúp HS đi theo con đường tích hợp, vừa có nghề nghiệp sớm vừa duy trì cơ hội học lên cao đẳng hoặc ĐH.
Đây được xem là bước chuyển quan trọng nhằm giảm dần tâm lý "học nghề là hết đường học tiếp" vốn tồn tại nhiều năm.
Một thay đổi tích cực khác là chính sách miễn học phí đào tạo nghề cho HS tốt nghiệp THCS học trung cấp.
Trong bối cảnh nhiều gia đình còn khó khăn về kinh tế, chính sách này có ý nghĩa rất lớn. Với không ít HS ở nông thôn hay vùng khó khăn, việc vừa được học nghề miễn phí, vừa có thể tham gia thị trường lao động sớm là lựa chọn thực tế và phù hợp hơn.
Đặc biệt, bối cảnh kinh tế hiện nay cũng đang tạo ra cơ hội mới cho GDNN. VN đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh các ngành công nghệ và kỹ thuật cao như: cơ khí chính xác, tự động hóa, logistics, công nghệ ô tô, bán dẫn, sản xuất thông minh, AI và công nghệ số, các lĩnh vực dịch vụ bậc cao… Tất cả đều cần số lượng lớn lao động kỹ thuật tay nghề cao, kỹ thuật viên trình độ trung cấp, cao đẳng và kỹ sư thực hành.
Trong khi đó, nhiều năm qua, thị trường lao động VN rơi vào nghịch lý: thiếu lao động kỹ thuật nhưng dư thừa cử nhân ở nhiều ngành. Không ít sinh viên ĐH ra trường làm trái ngành hoặc làm các công việc không cần trình độ ĐH, trong khi doanh nghiệp lại rất khó tuyển kỹ thuật viên có tay nghề tốt.
Điều này khiến GNNN bắt đầu được nhìn nhận lại dưới góc độ thực tế hơn. Nếu trước đây nhiều phụ huynh xem học nghề là "lối đi phụ", thì nay ngày càng có nhiều gia đình bắt đầu quan tâm đến khả năng có việc làm sớm, thu nhập ổn định và cơ hội nghề nghiệp thực chất.
Dù có nhiều điều kiện thuận lợi mới, phân luồng sau THCS hiện vẫn đối mặt với những rào cản rất lớn.
Khó khăn lớn nhất vẫn nằm ở tâm lý xã hội. Trong nhiều gia đình, học THPT rồi ĐH vẫn được xem là con đường thành công "chuẩn mực". Ngược lại, học nghề thường bị gắn với hình ảnh HS học lực yếu hoặc thất bại trong cạnh tranh học tập. Đây là rào cản mang tính văn hóa rất khó thay đổi trong thời gian ngắn. Thực tế nhiều cử nhân thất nghiệp hoặc làm trái ngành, nhưng hầu như phụ huynh vẫn muốn con học ĐH hơn là vào trường nghề từ sớm.
Từ đó dẫn đến nghịch lý đang tồn tại khá rõ: xã hội thiếu lao động kỹ thuật nhưng người học vẫn ngại học nghề.
Nếu trước đây phân luồng phần nào diễn ra do không đủ chỗ học THPT, do áp đặt chỉ tiêu (40% HS sau THCS tham gia GDNN) thì hiện nay cơ cơ hội THPT được mở, không áp đặt chỉ tiêu phân luồng cứng. Đây là thành tựu của phổ cập giáo dục, nhưng đồng thời cũng tạo thêm thách thức cho GDNN, khi cánh cửa vào THPT ngày càng rộng, HS sẽ ít lựa chọn trường nghề hơn, đặc biệt là HS khá giỏi.
Việc đưa mô hình trung học nghề vào luật Giáo dục và luật GDNN được xem là bước đi đáng chú ý. Đây là mô hình phù hợp xu hướng quốc tế khi nhiều nước công nghiệp phát triển mạnh các trường trung học kỹ thuật, trung học nghề gắn với công nghệ hiện đại và doanh nghiệp. Ở các nước này, học nghề không bị xem thấp hơn học hàn lâm, thậm chí nhiều trường kỹ thuật có chất lượng đào tạo cao và cơ hội việc làm rất hấp dẫn.
Tuy nhiên, tại VN, mô hình trung học nghề vẫn chưa đủ sức hút. Nhiều phụ huynh còn băn khoăn về giá trị xã hội của bằng trung học nghề, khả năng liên thông lên ĐH, cơ hội việc làm và thu nhập; đồng thời lo ngại học nghề từ năm 15 tuổi là quá sớm. Đặc biệt, quy chế thi tốt nghiệp trung học nghề hiện vẫn chưa được ban hành.
Bên cạnh đó, nhiều trường nghề chưa tạo được hình ảnh hiện đại đối với HS khá giỏi. Không ít người vẫn gắn học nghề với lao động chân tay, công việc vất vả, thu nhập thấp và ít cơ hội thăng tiến. Các hình mẫu thành công từ GDNN cũng chưa được truyền thông mạnh mẽ, khiến khoảng cách về vị thế xã hội của GDNN giữa VN và các nước công nghiệp vẫn còn khá lớn.
Thực tế nhiều năm qua cho thấy phân luồng không thể thành công nếu chỉ dựa vào giảm chỉ tiêu lớp 10, áp lực tuyển sinh hay các biện pháp hành chính.
Người dân chỉ thay đổi lựa chọn khi thật sự nhìn thấy cơ hội nghề nghiệp tốt, thu nhập ổn định, môi trường làm việc hiện đại và khả năng học tiếp rộng mở.
Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy GDNN chỉ phát triển mạnh khi chất lượng đào tạo tốt, doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình đào tạo, đầu ra nghề nghiệp hấp dẫn và hệ thống liên thông thật sự thông suốt.
VN đang bước vào giai đoạn phải thay đổi cách nhìn về phân luồng sau THCS. Trong một nền giáo dục hiện đại, phân luồng không nên mang ý nghĩa "sàng lọc", mà phải hướng tới tạo ra nhiều con đường phát triển thành công khác nhau cho người học.
Shing Tung Yau (Khâu Thành Đồng) sinh năm 1949, là một trong những nhà toán học đương đại có ảnh hưởng nhất thế giới. Ông là người gốc Hoa đầu tiên giành giải Fields vào năm 1982, khi mới 33 tuổi.
Yau được ghi nhận vì những đóng góp cho phương trình vi phân đạo hàm riêng, giả thuyết Calabi trong hình học đại số, giả thuyết khối lượng dương của lý thuyết tương đối rộng, các phương trình Monge-Ampère thực và phức.
Ảnh hưởng từ công trình của Yau còn thể hiện trong lĩnh vực hình học lồi, hình học đại số, hình học đếm, đối xứng gương, thuyết tương đối rộng và lý thuyết dây. Nghiên cứu của ông cũng chạm đến toán học ứng dụng, kỹ thuật và phân tích số.
Yau là người con thứ 5 trong gia đình có 8 anh, chị em. Khi ông mới vài tháng tuổi, cả gia đình chuyển đến Hong Kong. Là nhà kinh tế học và triết gia, cha ông giảng dạy tại một trường cao đẳng, sau này thuộc Đại học Trung văn Hong Kong (CUHK).
"Gia đình chúng tôi rất nghèo, ban đầu gần như chết đói", ông Yau nói trong cuộc phỏng vấn với tờ Discover Magazine năm 2010. Họ sống trong một ngôi nhà ở ngoại ô, không có điện hay nước sinh hoạt. Yau thường xuyên trốn học, cầm đầu một nhóm lang thang khắp nơi, nhưng vẫn làm đủ bài tập mà cha giao ở nhà.
Dù khó khăn, cha của Yau luôn duy trì một nhóm sinh viên đến nhà để bàn luận về triết học và văn học. Ông cũng khuyến khích con quan tâm đến triết, toán, dạy các bài thơ và văn dài, nên khi mới 10-11 tuổi, Yau đã dần quen với lối suy luận trừu tượng.
Biến cố tới vào năm ông 14 tuổi, khi cha qua đời. Kinh tế kiệt quệ, mẹ ông phải làm hàng đan, móc để bán. Yau bắt đầu đọc và trân trọng những cuốn sách cha để lại, chú tâm học hành hơn. Ông vừa đi học, vừa làm gia sư để phụ giúp gia đình.
Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1965, ông học cử nhân toán tại Đại học Trung văn Hong Kong. Ông có sức học vượt trội, có thể làm bài thi của nhiều môn mà không cần đến lớp. Stephen Salaff, một giảng viên ở trường, đề nghị ông đến Đại học California, Berkeley (Mỹ) làm tiến sĩ vì thấy tiềm năng to lớn của học trò.
Salaff liên hệ với một phó giáo sư, thuyết phục trường miễn, giảm yêu cầu đầu vào. Ông cũng tìm cách để Yau được nhận một trong hai suất học bổng từ Tập đoàn International Business Machines (IBM) để thực hiện nghiên cứu.
"Nếu không có sự giúp đỡ của ông ấy, tôi sẽ không trở thành nhà toán học như bây giờ", ông Yau nói.
Năm 1969, Yau phải vay bạn bè để mua vé máy bay sang San Francisco, nhận học bổng 300 USD mỗi tháng nhưng gửi một nửa về cho gia đình.
Ông đăng ký nhiều lớp học cùng lúc và bắt đầu quan tâm đến hình học. Trong đó, một khóa về phương trình vi phân riêng phần phi tuyến do Charles Bradfield Morrey Jr. giảng dạy được ông đánh giá rất xuất sắc.
Vì không đủ tiền về nhà, Yau đã dành cả kỳ nghỉ Giáng sinh trong thư viện, vùi đầu vào các bài báo nghiên cứu và chuyên khảo, đặc biệt là Tạp chí Hình học Vi phân và các bài báo của John Milnor về lý thuyết nhóm hình học.
"Tôi thấy hình học rất thanh lịch và đẹp đẽ. Tôi rất hào hứng với việc không gian có thể có độ cong và làm thế nào để nắm bắt được chúng", ông Yau nói sau khi nhận Huân chương Khoa học quốc gia Mỹ năm 1997.
Từ năm thứ hai, Yau dành phần lớn thời gian nghiên cứu về đa tạp phức, đặc biệt say mê với giả thuyết Calabi. Chỉ sau hai năm, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, đồng thời có ba bài báo được xuất bản.
Vào thời điểm ấy, nhiều người cho rằng giải được giả thuyết Calabi là bất khả thi. Nhưng ông tin rằng ngay cả khi không thể, ông vẫn phải hiểu tại sao. Ông theo đuổi bài toán xuyên suốt những năm đầu sự nghiệp, như khi gia nhập Viện Nghiên cứu cao cấp tại Princeton năm 1971, làm giáo sư bậc một ở Đại học New York-Stony Brook năm 1972, lên giáo sư bậc hai ở Stanford,...
Cuối cùng, năm 1976, ông chứng minh thành công giả thuyết Calabi. Bài báo của ông cũng đặt nền móng cho lý thuyết dây 10 năm sau đó, cho thấy hầu hết 10 chiều không gian-thời gian cần thiết cho "lý thuyết vạn vật" có thể được cuộn lại, ẩn khuất trong một không gian mà ngày nay được gọi là Calabi-Yau.
Ba năm sau, ông Yau cùng công sự chứng minh được một kết quả quan trọng khác về thuyết tương đối rộng của Einstein: bất kỳ nghiệm nào của phương trình Einstein đều phải có năng lượng dương.
"Ông ấy là một nhà giải tích hình học với năng lực kỹ thuật phi thường và tầm nhìn sâu sắc. Ông giải quyết được những vấn đề mà tiến độ nghiên cứu đã đình trệ trong nhiều năm", Louis Nirenberg, nhà toán học người Canada, viết vào năm 1982, khi Yau nhận giải Fields.
Sau giải thưởng này, Yau tới Đại học California-San Diego, rồi tới Harvard vào năm 1987, gắn bó hơn 3 thập kỷ sau đó. Ông được phong chức Giáo sư danh dự William Caspar Graustein về Toán học ở Harvard, trước khi hồi hương, về làm việc tại Đại học Thanh Hoa năm 2022.
Yau cũng đạt nhiều thành tựu trong hình học, tôpô học và vật lý, được vinh danh bằng các giải thưởng như Veblen về Hình học (1981), giải Crafoord của Viện Hàn lâm khoa học Thụy Điển (1994), giải Wolf (2010) và gần đây nhất là giải Shaw (2023).
Ngoài nghiên cứu, ông dốc toàn lực để xây dựng nền toán học Trung Quốc. Ông thường về thăm Trung Quốc trong kỳ nghỉ hè khi còn dạy tại Harvard, giúp đỡ các sinh viên xuất sắc sang Mỹ học tiến sĩ.
Ông cũng góp phần gây quỹ để thành lập loạt viện toán học ở Trung Quốc, như Viện Khoa học Toán học ở CUHK (1993), Trung tâm Toán học Morningside thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc (1995) và Trung tâm Toán học và Khoa học tại ba đại học lớn, gồm Chiết Giang, Thanh Hoa và Quốc gia Đài Loan.
"Mục tiêu của tôi rất đơn giản, đó là chứng minh rằng Trung Quốc có thể phát triển một môn học cơ bản như toán học", ông Yau phát biểu vào năm 2015 tại lễ khánh thành Trung tâm Toán và Khoa học Yau-Đại học Thanh Hoa, nơi ông làm giám đốc cho đến nay.
Hiện, ông còn là chủ tịch Học viện Qiuzhen thuộc Thanh Hoa, nơi tập trung đào tạo các nhà toán học trẻ thông qua các chương trình đặc biệt. Ông cũng đang dẫn đầu nhóm 40 nhà toán học Trung Quốc và quốc tế, tham gia vận động để Hong Kong có thể đăng cai Đại hội Toán học quốc tế (ICM), nơi trao giải Fields, vào năm 2030.
Sinh viên RMIT được trải nghiệm môi trường học tập quốc tế, từ chương trình đào tạo đến cơ sở vật chất và cộng đồng giảng viên, sinh viên - Ảnh: NTCC
Trong bối cảnh hội nhập thế giới và cơ hội làm việc quốc tế ngày càng phổ biến, ngành Quốc tế học đang được nhìn nhận như một lựa chọn đúng đắn cho những bạn trẻ muốn phát triển sở thích của mình thành năng lực và định hướng nghề nghiệp dài hạn.
Với mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam đang tích cực tham gia vào các dòng chảy kinh tế, xã hội và văn hóa toàn cầu.
Dòng vốn đầu tư nước ngoài liên tục tăng, yêu cầu chuyển đổi xanh và phát triển bền vững ngày càng rõ nét, cùng với các nỗ lực quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới là các minh chứng đầy thuyết phục vươn tới mục tiêu này.
Chúng ta có thể thấy rõ là khi nhiều doanh nghiệp quốc tế mở rộng thị trường tại Việt Nam, cùng với việc ngày càng nhiều doanh nghiệp, tổ chức Việt Nam kết nối với thị trường toàn cầu, thì nhu cầu về nhân sự có năng lực làm việc trong môi trường đa văn hóa, hiểu bối cảnh quốc tế và thích ứng với các chuẩn mực mới cũng trở nên cấp bách hơn.
Với tầm nhìn này, một sự thật hiển nhiên là nhiều công việc trong tương lai sẽ không chỉ đòi hỏi một chuyên môn đơn lẻ, mà tư duy toàn cầu, kỹ năng giao tiếp cùng với năng lực phân tích và xử lý vấn đề trong bối cảnh quốc tế là điều kiện thiết yếu.
Đây cũng chính là lý do các ngành học liên quan đến ngôn ngữ, văn hóa và các vấn đề toàn cầu như Quốc tế học ngày càng được quan tâm sâu rộng.
Trong bối cảnh đó, Quốc tế học không chỉ là một ngành học nhằm giúp mở rộng hiểu biết về thế giới, mà còn là một hướng tiếp cận với các vấn đề toàn cầu trong mối liên hệ tương tác với ngôn ngữ, văn hóa, xã hội và con người.
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) gọi đây là năng lực toàn cầu (global competence) - năng lực xem xét các vấn đề địa phương, toàn cầu và liên văn hóa, tương tác hiệu quả với người khác và hành động vì sự phát triển bền vững chung.
Rõ ràng là cách tiếp cận này ngày càng phù hợp với nhu cầu của nhiều tổ chức hiện nay, không chỉ các cơ quan quốc tế hay tổ chức phi chính phủ, mà cả doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp đa quốc gia.
Bà Quản Thu Huyền, Chuyên gia tư vấn quản lý tại Hội đồng Thương mại & Đầu tư Thụy Điển (Business Sweden), chia sẻ: ‘Trong môi trường làm việc quốc tế, ngoại ngữ là điểm khởi đầu.
Yêu cầu lớn hơn nằm ở khả năng hiểu bối cảnh, nắm được nhu cầu của các bên và giúp họ làm việc với nhau hiệu quả. Điều quan trọng là kết nối đúng cơ hội, đúng đối tác, để doanh nghiệp có thể làm việc hiệu quả và bền vững trong một thị trường mới’.
Do vậy, với những học sinh có thế mạnh về ngoại ngữ, yêu thích văn hóa hoặc có quan tâm đến các vấn đề xã hội và quốc tế, Quốc tế học mở ra một hướng đi linh hoạt hơn: không chỉ đẩy mạnh phát triển ngôn ngữ, mà còn bồi đắp hiểu biết sâu về văn hóa - xã hội, khả năng phân tích, nghiên cứu, giao tiếp và làm việc trong nhiều bối cảnh nghề nghiệp khác nhau.
Đây cũng là cơ sở để có thể dẫn đến nhiều hướng đi sau tốt nghiệp, như: biên-phiên dịch, phát triển các dự án cộng đồng, truyền thông, quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế hay giữ các vai trò tại doanh nghiệp và các tổ chức hoạt động xuyên biên giới.
Từ tháng 10-2026, RMIT Việt Nam sẽ chính thức đưa chương trình Cử nhân Quốc tế học vào đào tạo. Chương trình được phát triển trên nền tảng học thuật quốc tế của RMIT Australia, kết hợp với sự am hiểu về bối cảnh Việt Nam và nhu cầu nhân lực trong nước.
Bà Jodie Altan, Phó Tổng giám đốc phụ trách Đối ngoại của RMIT Việt Nam, chia sẻ: ‘‘Trong một thế giới mà kinh tế, công nghệ, phát triển bền vững và các mối liên kết toàn cầu ngày càng đan xen, nhu cầu nhân lực cũng đang thay đổi.
Các tổ chức không chỉ cần người giỏi chuyên môn, mà còn cần những người có thể hiểu và thích ứng với bối cảnh quốc tế, có khả năng làm việc xuyên văn hóa và giải quyết những vấn đề phức tạp.
Việc triển khai chương trình Quốc tế học ở Việt Nam tái khẳng định cam kết trong việc chuẩn bị cho sinh viên sẵn sàng cho sự thành công trong cuộc sống và công việc tương lai.’
Sinh viên RMIT trong vai trò phiên dịch cabin với thiết bị và công nghệ hiện đại tại trường - Ảnh: NTCC
Chương trình Cử nhân Quốc tế học được xây dựng theo hướng liên ngành, kết hợp ngôn ngữ, khoa học xã hội và các vấn đề toàn cầu dựa trên một cấu trúc linh hoạt.
Ba chuyên ngành chính gồm Ngôn ngữ và Quan hệ quốc tế, Phát triển và Công bằng xã hội, và Biên dịch - Phiên dịch. Bên cạnh đó, sinh viên có thể mở rộng định hướng với các chuyên ngành phụ như: Ngôn ngữ Nhật, Truyền thông và văn hóa châu Á, Quan hệ công chúng, v.v.
Tiến sĩ Lê Xuân Quỳnh, Chủ nhiệm bộ môn Quốc tế học, RMIT Việt Nam, cho biết: ‘Sinh viên sẽ được trang bị các năng lực cho một sự nghiệp quốc tế: bao gồm các nền tảng kiến thức về xã hội, văn hóa và phương cách thế giới vận hành; chiều sâu chuyên môn qua các chuyên ngành chính và phụ; cùng với bộ kỹ năng chuyển đổi, kỹ năng ứng dụng linh hoạt cho nhiều môi trường làm việc như giao tiếp liên văn hóa, phân tích vấn đề và tư duy đa chiều.
Song song với đó là các trải nghiệm học tập thực tiễn và hỗ trợ sớm trong định hướng nghề nghiệp, để sinh viên sẵn sàng gia nhập thị trường lao động khi tốt nghiệp.’
Nhóm sinh viên RMIT trong kỳ du học trao đổi đến RMIT Australia - Ảnh: NTCC
Một điểm đáng chú ý khác là tính quốc tế được duy trì xuyên suốt trong quá trình học tập. Chương trình này được giảng dạy và giao tiếp hoàn toàn bằng tiếng Anh trong môi trường đa văn hóa với cộng đồng sinh viên Việt Nam và quốc tế cùng giảng viên từ hơn 40 quốc gia, đồng thời mở ra cơ hội trao đổi và chuyển tiếp sinh viên đến RMIT Australia hoặc hơn 200 trường đối tác toàn cầu.