Trịnh Hữu Chín, 28 tuổi, hiện làm việc ở khoa Gây mê, Hồi sức tính cực ngoại khoa và Quản lý đau, Bệnh viện Đại học Y Dược cơ sở Linh Đàm. Tấm thẻ tên “ThS. BSNT Trịnh Hữu Chín” cài trên áo blouse gần đây đánh dấu chặng đường mới, sau 9 năm học để lấy cùng lúc ba tấm bằng Thạc sĩ, Bác sĩ nội trú và Bác sĩ chuyên khoa I, của trường Đại học Y Dược.
Trên hành trình ấy, Chín đã ba lần đứng ở vị trí cao nhất. Anh vào trường năm 2016 với vị trí thủ khoa đầu vào ở phương thức xét điểm thi đánh giá năng lực HSA. Sáu năm sau, anh tốt nghiệp thủ khoa ngành Y khoa với số điểm 3.59/4. Và tháng 5 này, Chín một lần nữa được vinh danh khi dẫn đầu danh sách bác sĩ nội trú tốt nghiệp.
“Mình chưa bao giờ cố gắng để trở thành thủ khoa”, chàng trai Hà Nội nói. “Mình chỉ cố gắng để thu lượm được nhiều kiến thức, kỹ năng nhất có thể”.
Là cựu học sinh chuyên Tin, trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Chín rẽ hướng sang ngành Y từ năm lớp 11 vì say mê môn Sinh học, dù gia đình không có ai theo nghề này.
Ngày vào đại học, Chín xác định tranh thủ tối đa thời gian để tự học. Ngoài kiến thức trên lớp, anh tìm đọc sách y khoa và các tài liệu chính thống trên Internet, chú ý quan sát, hỏi thăm bệnh nhân khi học lâm sàng tại bệnh viện. Với cách học đó, Chín vẫn có mặt trong các hoạt động của trường, tham gia chống dịch Covid-19 mà không ảnh hưởng nhiều đến tiến độ học tập.
Sáu năm đại học vất vả, nhưng với Chín, quãng thời gian đó “không thể so sánh” với ba năm học bác sĩ nội trú. Để vượt qua kỳ thi đầu vào khốc liệt, bất cứ sinh viên nào cũng phải “cày ngày, cày đêm”, ôn luyện đủ mảng, từ các môn cơ sở như Giải phẫu, Sinh lý, đến các môn chuyên ngành Nội, Ngoại, Sản, Nhi.
Khác với một số trường Y, Đại học Y Dược yêu cầu thí sinh chọn chuyên ngành nội trú trước khi thi. Chỉ được tiếp xúc với Gây mê hồi sức qua các bài học Ngoại khoa, nhưng Chín đã bị cuốn hút bởi vai trò thầm lặng của lĩnh vực này.
“Về mặt gây mê, mình giúp bệnh nhân đỡ đau, trải qua ca mổ an toàn. Về hồi sức, mình có thể xử trí giúp họ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, bước đầu cứu sống bệnh nhân”, Chín nói.
Học tại nhiều bệnh viện tuyến trung ương, Chín tham gia điều trị cho bệnh nhân như một bác sĩ chính thức, được thầy hướng dẫn và giải đáp thắc mắc trực tiếp, định hướng, gợi ý giải pháp để ứng dụng ngay.
Thời gian này, Chín ở phòng mổ nhiều hơn bất cứ đâu. Có những ngày 8-9h tối, anh mới về. Cũng có ngày gặp ca nặng, nửa đêm mới rời phòng mổ, Chín ngủ tại viện để chuẩn bị cho cuộc họp giao ban vào 7h30 hôm sau.
“Mình thường ăn trưa vào lúc hai giờ chiều. Có khi ăn được một miếng thì có thông báo từ phòng mổ, đành bỏ đũa chạy vào ngay”, Chín kể.
Ngoài thời gian, công việc của một bác sĩ gây mê đòi hỏi sự tỉ mỉ và độ chính xác cao. Chín mô tả nó pha trộn giữa Ngoại khoa và Nội khoa khi vừa phải tư duy tính toán liều thuốc cẩn thận, vừa phải cẩn trọng trong thao tác, thủ thuật, đảm bảo bệnh nhân an toàn.
Thông thường, Chín khám và đánh giá bệnh nhân từ hôm trước để lên kế hoạch, đưa ra phương án điều trị. Trong quá trình gây mê, anh tiếp tục tính toán, dò liều, làm sao giúp bệnh nhân không chịu đau đớn nhưng vẫn giữ được huyết áp và hô hấp. Với những ca cấp cứu, bác sĩ buộc phải có phản xạ, tính toán nhanh bởi không có nhiều thời gian để tìm hiểu trước về bệnh nhân.
“Hồi còn học đại học, mình chỉ được quan sát các thầy cô, anh chị làm. Khi học bác sĩ nội trú, mình mới trực tiếp trải qua”, Chín nói. “Tất cả trải nghiệm khiến mình thêm trân trọng và muốn gắn bó với nghề”.
Dù công việc tại viện rất căng thẳng, Chín tự thấy ba năm diễn ra suôn sẻ cho đến khi chuẩn bị bảo vệ khóa luận và thi tốt nghiệp. Giai đoạn đó, ngoài duy trì phần lớn thời gian trong ngày tại viện, Chín phải ôn thêm lý thuyết, thu thập và xử lý số liệu, viết bài, sinh hoạt khoa học và hỗ trợ các thầy hướng dẫn bác sĩ nội trú khóa dưới.
Chín còn tham gia hội nghị khoa học gây mê hồi sức toàn quốc, giành giải ba báo cáo viên trẻ xuất sắc năm 2025.
Nhận xét về học trò, BS. Trịnh Kế Điệp, Trưởng khoa Gây mê, Hồi sức tích cực ngoại khoa và Quản lý đau của bệnh viện, cho biết Chín có năng lực vượt trội hơn nhiều bạn bè đồng trang lứa và đã có thể độc lập xử lý các ca mổ thông thường.
Điều khiến thầy Điệp ấn tượng nhất là sự nhất quán, “trước sau như một” của Chín. Thầy nhớ có lần Chín nói “Em xác định theo thầy thì thầy đi đâu em sẽ đi đấy, kể cả thầy về bệnh viện tuyến huyện”.
“Đến khi tôi rời bệnh viện Hữu nghị Việt Đức về trường Đại học Y Dược, Chín cũng quyết tâm được ở lại trường công tác, dù một số bệnh viện trung ương mời ở lại làm”, thầy Điệp nói.
Song song nâng cao tay nghề tại viện, Chín học chứng chỉ sư phạm để chuẩn bị cho vị trí giảng viên. Anh mong được đứng trên bục giảng để truyền đạt lại những kiến thức cho sinh viên khóa dưới.
Quan niệm “học Y là học cả đời”, bác sĩ trẻ cũng đang tham gia khóa đào tạo nâng cao tay nghề tại các bệnh viện khác và lên kế hoạch làm tiến sĩ khi đủ điều kiện.
Thực tế trên chỉ ra dù vẫn là điểm đến quen thuộc, sức hút của Úc trong mắt phụ huynh và người học lại đang có dấu hiệu suy giảm, nhất là khi nước này liên tục phát đi tín hiệu thắt chặt chính sách visa và quyền làm việc trong vài năm trở lại đây.
Theo thống kê công bố hồi tháng 4 của Bộ Giáo dục Úc, tổng số sinh viên quốc tế đến nước này học tập đến hết năm 2025 là 845.933 người, giảm 1% so với 2024. Số du học sinh Việt là 36.595, giảm 2,7% so với năm trước và xếp thứ 4 về số lượng. Trong đó, 30.619 người là người học cũ, tăng 8,8%. Còn lại (5.976) là những người mới tới Úc lần đầu để học tập, giảm 36,8% so với năm 2024.
Đây cũng là năm thứ hai liên tiếp số lượng tân sinh người Việt đến Úc giảm mạnh, khi năm 2024 ghi nhận tỷ lệ giảm ở mức 32,9% - ít hơn 4.632 người so với 2023. Trong khi đó, số lượng tân sinh từ năm 2021 tăng đều đến 2023, từ gần 1.800 tới hơn 6.200, và cuối cùng là hơn 14.000. Điều này góp phần khiến 2023 bùng nổ về số lượng khi đông hơn năm trước tới 46,2% - mức tăng cao nhất từ 2009 tới nay và lần đầu vượt hơn 30.000 người.
Việc gia tăng số lượng tân sinh cũng giúp năm 2024 sau đó lập kỷ lục cao nhất mọi thời về số người Việt du học Úc, ở mức 37.598 và vào top 5 nhóm đông nhất ở xứ sở chuột túi. Số lượng người Việt cũng tăng trưởng đều đặn từ 2021-2024 trước khi giảm nhẹ vào 2025. Trước đó, số lượng người Việt du học Úc cũng tăng đều trong giai đoạn 2015-2019, rồi giảm đáng kể trong thời điểm Covid-19 bùng nổ là 2020 và 2021.
Đà giảm vẫn đang diễn ra vào năm 2026. Theo dữ liệu cập nhật nhất tính tới tháng 1, có 24.789 người Việt hiện du học Úc, ít hơn 10,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Dù giảm nhẹ số lượng vào năm 2025, song nhóm du học sinh Việt lại tăng hạng, vào top 4 cộng đồng sinh viên quốc tế đông nhất tại Úc - lập lại thành tích cách đây 4 năm. Song thứ hạng này chưa phải cao nhất, khi 3 năm liên tiếp từ 2013-2015 số du học sinh Việt tại Úc luôn nằm trong top 3.
Về phân bổ khóa học, bởi một sinh viên quốc tế có thể ghi danh vào nhiều khóa khác nhau nên tổng số lượt ghi danh cao hơn tổng số du học sinh. Theo thống kê tháng 1, người Việt ghi danh nhiều nhất ở bậc giáo dục ĐH với 15.584 lượt, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái. Xếp sau đó là đào tạo nghề (hơn 2.600) và giáo dục phổ thông (hơn 2.400).
Trong khi đó, lượt ghi danh sụt mạnh nhất ở các khóa tiếng Anh (ELICOS), giảm tới 56,5%.
Nhìn chung, người Việt chuộng nhất nhóm ngành quản trị và thương mại; xếp sau đó là các chương trình liên ngành và công nghệ thông tin. Trong khi đó, lĩnh vực ít thu hút nhất với sinh viên Việt luôn là nông nghiệp, môi trường và các ngành học liên quan.
Đằng sau số lượng sinh viên quốc tế là một bức tranh phức tạp hơn về tỷ lệ chấp thuận cấp visa du học cho các đương đơn nộp hồ sơ từ ngoài lãnh thổ Úc. Theo thống kê của Bộ Nội vụ Úc, 40,8% hồ sơ xin học ĐH bị từ chối cấp visa du học trong tháng 3, mức cao nhất trong 21 năm qua kể từ khi công bố dữ liệu. Tỷ lệ này cao hơn 8,4% so với tháng trước, và hai tháng qua cũng lần lượt lập kỷ lục mới về tỷ lệ từ chối cấp visa trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, bức tranh có phần sáng sủa hơn khi chỉ 9% đương đơn xin học ĐH tại Úc bị từ chối cấp visa trong tháng 3 vừa qua và con số vào tháng 2 là 16,6%. Đây đều là tỷ lệ gần như tương tự mọi năm, không có chênh lệch đáng kể.
Nhìn rộng hơn ở bức tranh chấp thuận cấp visa du học cho đương đơn Việt Nam nằm ngoài lãnh thổ Úc, năm tài chính 2024-2025 (bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 6 năm sau-PV) ghi nhận tỷ lệ 81,1%, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái và cũng là lần tăng đầu tiên sau 4 năm. Điều này đồng nghĩa, cứ 5 người học Việt Nam xin visa Úc thì có tới 4 người thành công.
Tuy nhiên, bức tranh lại khá phân mảnh nếu xét riêng từng mục đích. Với những trường hợp muốn theo học các khóa đào tạo nghề, tỷ lệ cấp visa du học chỉ là 7%, giảm đến 35,7% so với năm trước. Tương tự, nhóm ứng tuyển bậc giáo dục phổ thông giảm từ 81,5% xuống còn 65,5%, trong khi những đương đơn muốn học các khóa tiếng Anh chỉ có 45,8% cơ hội được cấp visa - dù tỷ lệ đã tăng thêm 12,8% so với năm ngoái.
Nhóm muốn học các trường ĐH cũng đang chứng kiến tỷ lệ đậu visa giảm dần trong 4 năm qua dù vẫn duy trì ở mức cao, từ 99,7% vào 2020-2021 xuống còn 87,1% ở năm xét duyệt mới nhất. Tương tự, nhóm không cấp bằng và nhóm nghiên cứu sau ĐH vốn có tỷ lệ chấp thuận cấp visa 100% trong 2022-2023, đến 2024-2025 giảm nhẹ xuống chỉ còn 96,9% và 99,5%.
Riêng lĩnh vực đối ngoại hoặc quốc phòng luôn duy trì tỷ lệ đậu visa 100% từ năm tài chính 2015-2016 tới nay.
Từ 2024 đến nay, Úc công bố nhiều điều chỉnh về chính sách visa và quyền làm việc, được cho là để quản lý, kiểm soát tốt hơn ngành giáo dục quốc tế cũng như số lượng người nhập cư. Để chọn lọc những đương đơn chân chính muốn du học nước này, Úc ra mắt bài thi GS thay thế cho GTE và nhiều lần thay đổi cơ chế xét duyệt visa du học, từ Chỉ thị 107 tới Chỉ thị 111 và nay là Chỉ thị 115.
Ngoài ra, Úc cũng ban hành nhiều điều chỉnh với hai loại visa phổ biến với sinh viên quốc tế.
Với visa du học, nước này tăng yêu cầu chứng minh tài chính, năng lực tiếng Anh và lệ phí ứng tuyển - lên mức 2.000 AUD (khoảng 38 triệu đồng) và không hoàn lại nếu đương đơn bị từ chối. Với visa làm việc sau tốt nghiệp, Úc rút thời gian hiệu lực từ 4-6 năm xuống còn 2-3 năm, bổ sung tiêu chí ứng tuyển và mới đây tăng gấp đôi lệ phí lên 4.600 AUD (khoảng 87 triệu đồng) - cũng không hoàn lại nếu đương đơn trượt visa.
Tuy nhiên, nước này thời gian qua cũng khuyến khích các trường tăng cường hợp tác với khu vực Đông Nam Á để hỗ trợ chiến lược kinh tế Đông Nam Á của Úc đến năm 2040, thông qua các chương trình đào tạo, quan hệ đối tác, học bổng...
Song song đó, các ĐH Úc cũng ngày càng ưu ái tuyển sinh du học sinh Việt, thể hiện rõ nét qua chính sách tuyển thẳng học sinh Việt Nam vào năm nhất ĐH chứ không bắt buộc phải học khóa dự bị như trước, cũng như ra mắt các chương trình học bổng dành riêng cho Việt Nam. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều trường Úc trực tiếp đến Việt Nam để tư vấn tuyển sinh và kết nối với chính quyền, cựu sinh viên và công ty du học.
Ở phần đầu của ngày hội tuyển sinh vào lớp 10, thầy Dương Văn Thư, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Thị Diệu, phường Xuân Hòa (quận 3 cũ), TP.HCM, cho biết:
"Năm học 2026-2027 nhà trường đề xuất với Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM xin tuyển 17 lớp 10 với 765 học sinh. Tất cả học sinh sẽ học 2 buổi/ngày, đồng thời nhà trường đáp ứng được tất cả nhu cầu của phụ huynh muốn cho con em nghỉ trưa và ăn bán trú tại trường.
Các học sinh sẽ học từ thứ hai đến thứ sáu, sáng thứ bảy là hoạt động của câu lạc bộ học thuật, năng khiếu, thể dục thể thao, hoạt động trải nghiệm - hướng nghiệp…
Song song với việc bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu thể thao, nghiên cứu khoa học kỹ thuật…, chúng tôi còn mở lớp bổ trợ kiến thức ở nhiều môn học khác nhau cho những học sinh chưa đạt. Những lớp bổ trợ này hoàn toàn miễn phí" - thầy Thư nhấn mạnh.
Bước sang phần 2 của Ngày hội tuyển sinh lớp 10, các phụ huynh và học sinh lớp 9 đã không ngừng "ồ", "à" khi đi tham quan cơ sở vật chất và trải nghiệm các hoạt động STEM ở sân trường.
Một điều đặc biệt là mặc dù tọa lạc trên đường Trần Quốc Toản (quận 3 cũ) - nằm ngay trung tâm thành phố nhưng rất ít phụ huynh, học sinh lớp 9 biết đến Trường Nguyễn Thị Diệu.
Chị Bùi Thị Mỹ, phụ huynh lớp 9 ở phường Cầu Kiệu, chia sẻ: "Đó giờ tôi không hề biết ở ngay đường Trần Quốc Toản lại có trường THPT công lập. Chỉ đến khi cô chủ nhiệm lớp 9 của con gợi ý tôi mới biết và tham gia ngày hội này.
Tôi ngạc nhiên hơn khi tận mắt chứng kiến tất cả các phòng học đều được trang bị màn hình, máy chiếu, máy lạnh mát rượi… Con trai tôi thì thích thú khi đi tham quan nhà thể dục thể thao đa năng của trường. Khi nghe giới thiệu môn bóng bàn có vận động viên từng đoạt huy chương bạc giải vô địch bóng bàn Đông Nam Á phụ trách, cháu rất vui và phấn khởi".
Tương tự, chị Nguyễn Mỹ Phụng, phụ huynh ở phường Bình Thạnh, cười rất tươi khi bày tỏ: "Tôi rất mừng khi được một người bạn hướng dẫn đến tham quan Trường THPT Nguyễn Thị Diệu. Bởi đây là trường công lập có điểm chuẩn đầu vào phù hợp với năng lực học tập của con gái tôi mà lại nằm ngay trung tâm thành phố. Học sinh trường công lập ở TP.HCM được miễn học phí nên tôi mong mỏi con mình được học ở trường công lập".
Năm học 2025-2026, Trường THPT Nguyễn Thị Diệu có 10 học sinh đoạt giải học sinh giỏi cấp thành phố; 4 dự án đoạt giải cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp thành phố. Năm học 2024-2025, trường có 488/541 học sinh lớp 12 trúng tuyển vào đại học, đạt tỉ lệ 90,2%.
Một số hình ảnh của Ngày hội tuyển sinh lớp 10 ở Trường THPT Nguyễn Thị Diệu:
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định việc xác định số lượng tuyển sinh đối với các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và cao đẳng ngành giáo dục mầm non, với nhiều điểm mới đáng chú ý.
Thông tư mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo về xác định chỉ tiêu tuyển sinh đại học, sau đại học và cao đẳng mầm non đưa ra thay đổi đáng chú ý. Trong đó, thay đổi lớn nhất là cách tính hệ số quy đổi giảng viên, yếu tố then chốt trong việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của mỗi cơ sở đào tạo. Quy định mới, giảng viên có trình độ thạc sĩ chỉ được tính hệ số 0,75, trong khi tiến sĩ giữ hệ số 1,0.
Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân, thông tư mới được xây dựng trên quan điểm đổi mới và đã trải qua quá trình đánh giá tác động, chạy dữ liệu kỹ lưỡng trước khi ban hành.
Điểm thay đổi căn bản là cách xác định và quy đổi giảng viên theo hướng đơn giản hóa, giảm bớt các phép tính phức tạp trước đây. Phần lớn các đối tượng giảng viên được tính hệ số 1, riêng thạc sĩ là 0,75.
Ông Quân nhấn mạnh: "Về nguyên tắc, vai trò của giảng viên trình độ thạc sĩ sẽ dần được điều chỉnh theo hướng hạn chế, tương tự vai trò trợ giảng trong hệ thống đào tạo đại học.
Điều này đồng nghĩa với việc những cơ sở giáo dục có quy mô tuyển sinh phụ thuộc nhiều vào đội ngũ thạc sĩ sẽ buộc phải rà soát, tái cơ cấu nhân sự. Nếu không có sự chuẩn bị, chỉ tiêu tuyển sinh có thể bị giảm đáng kể trong tương lai".
Thông tư cũng quy định cụ thể thế nào là giảng viên được tính trong xác định số lượng tuyển sinh. Đây phải là những người trực tiếp giảng dạy, làm việc toàn thời gian tại cơ sở đào tạo, đáp ứng chuẩn trình độ theo quy định và được kê khai trên hệ thống dữ liệu giáo dục đại học.
Giảng viên tham gia tính chỉ tiêu phải đáp ứng chuẩn chương trình đào tạo của ngành hoặc nhóm ngành tương ứng. Đồng thời, họ phải là giảng viên cơ hữu hoặc thuộc các nhóm được pháp luật công nhận.
Đối với cơ sở công lập, giảng viên cơ hữu là những người được tuyển dụng và quản lý theo quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong khi đó, tại các cơ sở tư thục, giảng viên cơ hữu phải ký hợp đồng lao động từ 3 năm trở lên hoặc không xác định thời hạn, không đồng thời làm việc dài hạn tại đơn vị khác và do trường trả lương theo quy định.
Thông tư quy định rõ, giảng viên được tính trong xác định chỉ tiêu tuyển sinh phải đáp ứng chuẩn trình độ theo Luật Nhà giáo, trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn người học toàn thời gian tại cơ sở đào tạo và được kê khai trên hệ thống dữ liệu giáo dục đại học.
Giảng viên cơ hữu tại cơ sở công lập là người được tuyển dụng, sử dụng theo quy định về vị trí việc làm; còn tại cơ sở tư thục phải ký hợp đồng từ 3 năm trở lên hoặc không xác định thời hạn, không là công chức hoặc viên chức nhà nước, không làm việc dài hạn nơi khác và do trường trả lương theo quy định.
Quy định cho phép tính giảng viên đồng cơ hữu, nhưng kèm theo các điều kiện cụ thể. Những giảng viên này phải đảm bảo khối lượng giảng dạy tối thiểu bằng 50% định mức của giảng viên cơ hữu và phải giảng dạy trọn vẹn ít nhất một học phần trong năm học.
Ngoài ra, giảng viên đã nghỉ hưu nhưng tiếp tục làm việc toàn thời gian cũng được tính, với điều kiện ký hợp đồng từ 12 tháng trở lên, giảng dạy trọn vẹn tối thiểu 1 học phần trong năm học trong năm xác định số lượng tuyển sinh và không ký hợp đồng lao động có thời hạn từ 3 tháng trở lên với nơi khác.
Đối với đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ, giảng viên phải đáp ứng tiêu chuẩn người hướng dẫn theo quy chế hiện hành, đồng thời ký hợp đồng toàn thời gian tối thiểu 3 năm với cơ sở đào tạo.
Một số nhóm ngành đặc thù như ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật và thể thao được áp dụng cơ chế linh hoạt hơn trong việc tính giảng viên khi xác định số lượng tuyển sinh đại học.
Theo đó, các danh hiệu như nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo ưu tú, huấn luyện viên/vận động viên đã từng giành giải vô địch thế giới, vô địch châu lục, vô địch SEA Games, được phong cấp vận động viên kiện tướng quốc gia, đồng thời có bằng đại học cùng ngành hoặc cùng nhóm ngành với ngành tham gia đào tạo được tính hệ số như giảng viên có trình độ thạc sĩ; có bằng thạc sĩ được tính hệ số như giảng viên có trình độ tiến sĩ.
Đối với lĩnh vực sức khỏe, thông tư quy định: giảng viên có bằng bác sĩ nội trú hoặc chuyên khoa I được tính tương đương trình độ thạc sĩ, chuyên khoa II tương đương tiến sĩ khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ đại học, với điều kiện có ít nhất 3 năm kinh nghiệm giảng dạy. Đồng thời, người hướng dẫn thực hành tại cơ sở thực hành cũng được tính vào đội ngũ giảng viên cơ hữu.