Chúng tôi tìm về xã Phúc Trạch (Hà Tĩnh) giữa cái nắng ràn rạt của vùng đất được mệnh danh là “chảo lửa”. Trong căn nhà khá khang trang, ông Nguyễn Huy Thông (69 tuổi, phu trầm lừng lẫy một thời) nhấp ngụm nước trà xanh, ngồi trầm ngâm. Ánh mắt ông nhìn xa xăm về phía dãy Trường Sơn – nơi đã lấy đi tuổi trẻ và suýt nữa là cả mạng sống của ông.
Ông Thông kể những năm đầu thập niên 1980, người dân Phúc Trạch sống giữa rừng dó bầu nhưng chẳng biết trầm là gì. Họ chỉ biết cây dó có tinh dầu, dùng làm nhang cho thơm. Mọi chuyện thay đổi vào năm 1984, khi những toán người từ Huế đổ về lùng sục khắp các cánh rừng trong xã. “Lúc đó, thấy họ xoi, tỉa tìm thứ gì đó, nghe nói đắt hơn vàng, nên dân làng mới lân la học lỏm. Tôi xin đi theo nhóm người Huế vào rừng, vừa dẫn đường vừa học cách nhận biết cây có trầm”, ông Thông nhớ lại.
Khi cơn sốt “lộc trời” bắt đầu âm ỉ, cuối năm 1984, chàng trai Thông khi ấy 27 tuổi cùng 2 em trai và nhóm thanh niên trong làng quyết định thực hiện “chuyến đi đầu đời” vào những cánh rừng già giáp biên giới Lào. Mỗi người phải cõng trên lưng chiếc ba lô nặng trung bình 35 kg, bên trong là gạo, muối, thuốc chống vắt và bộ đồ nghề sắc lẹm. Họ gọi mỗi chuyến đi là “đi mây”, bởi nơi họ đến là những đỉnh núi cao mây phủ, nơi bước chân người và ranh giới sinh tử chỉ cách nhau một gang tay.
Mỗi chuyến đi rừng thường kéo dài từ nửa tháng đến cả tháng trời. Ông Thông bảo người ta nói “ngậm ngải tìm trầm” chẳng sai chút nào, bởi có khi đi ròng rã cả tháng, chân rộp máu, cơm vắt nuốt chẳng trôi mà vẫn phải lủi thủi về tay trắng.
Trong những lần trò chuyện cùng nhóm thợ Huế, ông Thông dần hiểu ra giá trị của trầm hương. Cực phẩm của rừng xanh chính là kỳ nam, loại gỗ chứa lượng tinh dầu khổng lồ, thơm ngào ngạt. Thế nhưng, kỳ nam như một huyền thoại, trăm năm khó gặp. Thứ mà những phu trầm như ông Thông săn tìm chủ yếu là “trầm nhất lầu”.
“Chúng tôi nghe người Huế bật mí sau kỳ nam thì nhất lầu là loại giá trị nhất. Loại này rất thơm, chứa nhiều tinh dầu đến mức gỗ nặng trĩu, thả vào nước là chìm lỉm ngay lập tức dù đã phơi khô cả tháng trời”, ông Thông kể.
Khi được hỏi vì sao những mẩu gỗ mục nát ấy lại có giá trị kinh khủng đến thế, ông Thông cười – cái cười của một người đã thấu hiểu căn nguyên mùi hương. Theo ông, giá trị của trầm hương không chỉ nằm ở sự quý hiếm mà còn ở công dụng kỳ diệu.
Trầm hương không đơn thuần là gỗ mà là phần gỗ chứa nhựa thơm hình thành từ “vết thương” trên cây dó bầu qua hàng chục năm chống chọi với thiên nhiên. Đây là nguyên liệu quý giá nhất trong y học cổ truyền để làm dược liệu quý, hỗ trợ tim mạch, thần kinh. Đặc biệt, trong ngành công nghiệp xa xỉ, trầm hương là “linh hồn” để sản xuất các loại nước hoa đắt đỏ nhất thế giới nhờ khả năng giữ mùi bền bỉ và hương thơm không thể sao chép bằng hóa học.
“Đắt bởi nó là tinh túy của đất trời, là sự kết tinh từ nỗi đau của cây dó và mồ hôi của phu trầm”, ông Thông chiêm nghiệm.
Giữa đại ngàn mênh mông, không phải cây dó bầu nào cũng mang trong mình “vàng mười”. Với ông Thông và những phu trầm Phúc Trạch, việc tìm thấy trầm là sự tổng hòa của may mắn, đôi mắt “phù thủy” và những kinh nghiệm phải trả giá bằng xương máu.
Một cây dó bầu cao lớn, xanh tốt chưa chắc đã có giá trị. Phu trầm chỉ để mắt đến những cây già nua, dáng vẻ khắc khổ, bị sâu đục khoét, kiến làm tổ hoặc bị sét đánh gãy cành. “Trầm không tự nhiên mà có. Khi cây bị thương, nhựa tiết ra để bao phủ và chữa lành, rồi qua hàng chục năm dưới tác động của nấm và thời tiết khắc nghiệt, khối nhựa ấy kết tinh thành trầm”, ông Thông lý giải.
Để kiểm chứng nghi ngờ, phu trầm sẽ dùng rựa vạt một miếng gỗ nhỏ rồi châm lửa đốt. Nếu làn khói tỏa ra có màu xanh đặc trưng, bay thẳng đứng lên trời cùng mùi hương thanh khiết, ngọt lịm thì đó chính là tín hiệu của “lộc trời”.
Công đoạn thu hoạch trầm cũng là một thử thách về sự kiên nhẫn và khéo léo. Giữa rừng sâu thiếu thốn, thợ trầm dùng đục bóc tách từng lớp gỗ một cách tỉ mỉ như một nghệ nhân chạm khắc. “Giây phút hồi hộp nhất là khi lớp gỗ bên trong dần lộ ra. Nếu thấy một lớp gỗ đen bóng, cầm nặng trịch và thả vào nước chìm ngay lập tức, cả cánh rừng sẽ rung chuyển bởi tiếng reo hò của anh em. Lúc đó, mọi mệt mỏi như tan biến hết”, ông Thông nhớ lại.
Thế nhưng, cũng không ít lần sau bao ngày đục đẽo, thứ lộ ra chỉ là lớp gỗ trắng vô giá trị. Những lúc ấy, cánh phu trầm lại lẳng lặng khép túi đồ nghề, nuốt nỗi thất vọng vào trong để tiếp tục bước đi.
Ông Thông bảo trong thời khó khăn, một mẩu trầm nhỏ bằng ngón tay đã có giá tiền triệu. Một khối kỳ nam hiếm hoi có thể biến một gia đình từ bần hàn trở thành triệu phú, thay đổi hoàn toàn số phận của cả dòng họ. Chính giấc mơ triệu phú ấy, cộng hưởng với mùi hương mê hoặc của rừng già, đã khiến những người đàn ông Phúc Trạch sẵn sàng đặt cược cả mạng sống để đổi lấy một lần chạm tay vào “kho báu” của đại ngàn.
Khi những cánh rừng gần nhà đã cạn kiệt, nhóm ông Thông và toán thợ người Huế liều lĩnh đi xa hơn vào rừng sâu, có khi đi tận sang đất Lào mà không hay biết, đối mặt với nguy cơ bị bắt giữ hoặc lạc lối. Trong ký ức của ông Thông, kẻ thù đáng sợ nhất chốn rừng thiêng không phải là hổ báo hay rắn rết, mà là “con ma” sốt rét rừng.
“Tôi từng suýt chết vì sốt rét ác tính. Năm 1987, giữa rừng sâu, tôi lên cơn sốt, người run bần bật. Lúc đó chỉ biết phó mặc cho số phận. Cũng may được anh em đi cùng kịp thời đưa ra khỏi rừng để đến bệnh viện chữa trị. Sau 10 ngày hôn mê bất tỉnh, tôi may mắn dần phục hồi, như từ cõi chết trở về”, ông Thông rùng mình.
Rừng xanh bao dung ban tặng “lộc trời”, nhưng cũng sẵn sàng nuốt chửng những kẻ thiếu may mắn bằng những cái bẫy không báo trước. Với ông Thông, nỗi ám ảnh kinh hoàng nhất là lần chứng kiến người em trai ruột bước một chân vào cửa tử. Trong chuyến “đi mây” năm ấy, giữa lúc cả nhóm đang mải miết phát bụi rậm tìm dấu dó bầu, em trai ông Thông sơ sẩy giẫm phải tổ ong dần đóng lùm dưới đất. Chỉ trong tích tắc, hàng ngàn “sát thủ” túa ra, bủa vây thân hình người phu trẻ.
“Năm đó, em trai tôi không may giẫm phải tổ ong dần. Nó bị đốt chi chít, chất độc ngấm sâu đến mức rơi vào hôn mê ngay giữa rừng sâu. Cả nhóm phải thay nhau cõng, cắt rừng tìm đường ra trong sự tuyệt vọng. Ai cũng bảo nó phúc lớn mạng lớn, chứ người khác là bỏ xác rồi. Giờ sức khỏe nó yếu đi nhiều, cứ trái gió trở trời là những vết sẹo ấy lại đau nhức”, ông Thông nhớ lại.
“Tìm trầm tự nhiên thực sự là một canh bạc nghiệt ngã. Nhóm của tôi thi thoảng mới kiếm được ít trầm loại hai, đem về bán cũng chỉ đủ trang trải cuộc sống được một thời gian ngắn rồi đâu lại vào đấy. Đổi lại là sự nơm nớp lo sợ cho mạng sống mỗi khi bước chân vào rừng”, ông bộc bạch.
Sau những lần “thập tử nhất sinh”, người dân Phúc Trạch bắt đầu tìm cách khác để khai thác trầm, không còn chờ đợi sự ban phát ngẫu nhiên từ thiên nhiên. Thay vì lặn lội hàng tháng trời nơi biên giới Việt – Lào, họ mang cây dó bầu về trồng ngay tại vườn nhà, chủ động học kỹ thuật kích thích, xăm tạo trầm trên thân cây. (còn tiếp)
Từ những ngày đầu còn bỡ ngỡ, nhiều tân binh nay đã có chuyển biến rõ về thể lực, bản lĩnh, ý thức trách nhiệm và tinh thần tập thể. Tại Trung đoàn Gia Định, đơn vị đang trực tiếp huấn luyện 556 chiến sĩ mới tham gia nghĩa vụ quân sự.
Quá trình huấn luyện cũng gặp không ít khó khăn do thời tiết nắng nóng, hanh khô; điều kiện đóng quân còn thiếu thốn; chiến sĩ mới đến từ nhiều địa phương, thể lực và nhận thức ban đầu chưa đồng đều.
Về công tác cán bộ, Trung đoàn Gia Định tổ chức bồi dưỡng hằng tuần, thống nhất nội dung và phương pháp huấn luyện. 100% cán bộ từ cấp trung đội trưởng trở lên đều đã trải qua huấn luyện chiến sĩ mới, có kinh nghiệm trong quản lý, rèn luyện và nắm bắt tâm lý tân binh.
Thiếu tá Đặng Hoàng Thái, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn bộ binh 1, cho biết sau 2 tháng, chiến sĩ mới đã nắm chắc nhiều nội dung học tập, rèn luyện; tham gia bắn các bài mục tiêu bia số 4, 7, 8 và đạt yêu cầu đề ra. Theo thiếu tá Thái, chuyển biến rõ nhất là chiến sĩ vững vàng hơn về tâm lý, phẩm chất chính trị và thể lực được nâng lên.
Chiến sĩ mới tập ném lựu đạn
ẢNH: THÚY LIỄU
Song song huấn luyện quân sự, Trung đoàn Gia Định chú trọng xây dựng môi trường sinh hoạt gần gũi để chiến sĩ mới nhanh chóng hòa nhập.
Một trong những mô hình được trung đoàn duy trì là "Cán bộ 3 cùng, 2 trước, 2 sau", "3 đồng hành" và "Lá thư từ Trung đoàn Gia Định anh hùng". Sau mỗi tháng huấn luyện, chiến sĩ viết lại cảm nghĩ của mình về môi trường quân đội rồi gửi đến cha mẹ trong các buổi gặp mặt hoặc khi gia đình lên thăm. Những lá thư mộc mạc ấy giúp phụ huynh thấy rõ hơn sự trưởng thành của con em mình trong quân ngũ.
Đơn vị cũng lập các nhóm Zalo theo từng đại đội, có cán bộ các cấp tham gia để cập nhật tình hình học tập, rèn luyện của chiến sĩ, đồng thời kịp thời giải đáp thắc mắc, nắm bắt hoàn cảnh gia đình từng trường hợp. Với chiến sĩ có hoàn cảnh khó khăn, cán bộ, chỉ huy và đồng đội thường xuyên động viên, hỗ trợ để các em yên tâm công tác.
Ở nội dung quân sự, chiến sĩ mới được huấn luyện điều lệnh, xây dựng chính quy, thể lực, kỹ thuật chiến đấu bộ binh và chiến thuật binh chủng hợp thành.
Các nội dung bắn súng, ném lựu đạn, đánh thuốc nổ được tổ chức chặt chẽ, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và vũ khí trang bị.
Công tác hậu cần, kỹ thuật cũng được đơn vị quan tâm. Trung đoàn tổ chức 2 bếp ăn tại Tiểu đoàn bộ binh 1 và Tiểu đoàn bộ binh 3, bảo đảm mức tiền ăn 76.000 đồng/người/ngày. Đơn vị còn duy trì tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống bộ đội với vườn rau, ao cá, chuồng heo tại các điểm huấn luyện.
Thời gian tới, trung đoàn tiếp tục nâng cao chất lượng huấn luyện, nhất là các nội dung kiểm tra "3 tiếng nổ", duy trì kỷ luật, bảo đảm an toàn tuyệt đối và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần để chiến sĩ mới yên tâm rèn luyện, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Ngày 23-4, tại buổi họp báo tình hình kinh tế - xã hội quý 1-2026 do UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức, bà Phạm Thị Thanh Hường - Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh - đã trình bày tổng hợp báo cáo tình hình giải quyết kiến nghị của phóng viên, nhà báo, trong đó có vụ hồ Sông Than vừa khánh thành đã nứt, thấm mà Tuổi Trẻ Online đã phản ánh.
Theo đó, các sự cố về hiện tượng thấm hành lang thân đập và nứt bê tông bề mặt đỉnh đập đã được khắc phục, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh (chủ đầu tư) cùng đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị thi công, giám sát thi công tiếp tục theo dõi kết quả xử lý.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa cho biết về hiện tượng lớp bê tông bề mặt đỉnh đập có hiện tượng xuất hiện vết nứt tại một số vị trí, đã được khắc phục xong vào ngày 30-11-2025.
Về hiện tượng thấm, tại một số vị trí có hiện tượng thấm nước ở tường bên hành lang thân đập bê tông đã khắc phục xong vào ngày 15-11-2025.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Khánh Hòa, việc đánh giá khắc phục sự cố, đối với các sự cố nêu trên vẫn chưa được đơn vị tư vấn thiết kế làm rõ và có đánh giá cụ thể.
Sở này cũng cho rằng đây là nội dung có tính chất phức tạp, việc đánh giá nguyên nhân phát sinh phải dựa trên cơ sở khoa học, phân tích cụ thể từ nhiều thông tin có liên quan như: hồ sơ thiết kế, hồ sơ quản lý chất lượng thi công, kết quả giám sát... vì vậy cần phải có đơn vị tư vấn độc lập, đầy đủ năng lực và chuyên môn.
Bên cạnh đó, vấn đề này cũng cần có sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành để hỗ trợ trong việc xác định nguyên nhân các sự cố và đề xuất giải pháp xử lý, nhằm giải quyết triệt để các phát sinh, đảm bảo an toàn công trình trong quá trình vận hành, khai thác.
Về nội dung này, UBND tỉnh Khánh Hòa đã giao Sở Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương thuê đơn vị tư vấn kiểm định độc lập, có đủ năng lực và kinh nghiệm chuyên môn để thực hiện việc kiểm tra, đánh giá toàn diện các tồn tại phát sinh tại hồ chứa nước Sông Than.
Trên cơ sở kết quả kiểm tra, thực hiện việc kiểm định, đề xuất các giải pháp mang tính khả thi nhằm xử lý dứt điểm các nội dung tồn tại, bảo đảm an toàn và hiệu quả trong quá trình quản lý, vận hành công trình.
UBND tỉnh Khánh Hòa cũng giao Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh phối hợp với Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Ninh Thuận tiếp tục rà soát, đánh giá đầy đủ các tồn tại phát sinh tại hồ chứa nước Sông Than, kịp thời thực hiện các biện pháp khắc phục, sửa chữa nhằm bảo đảm an toàn cho công trình.
Ngày 21-4, UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa ban hành kế hoạch thực hiện Đề án "Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026-2035", nhằm thúc đẩy phụ nữ tham gia sâu hơn vào khu vực kinh tế tư nhân. Phấn đấu nâng số lượng nữ là chủ doanh nghiệp.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2026-2030, tỉnh phấn đấu tỉ lệ nữ giám đốc, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã đạt 30%. Đến giai đoạn 2031-2035, con số này được nâng lên 35%.
Để đạt mục tiêu, Quảng Ngãi đề ra hàng loạt chỉ tiêu cụ thể. Trong giai đoạn đầu, 80% hội viên phụ nữ được tuyên truyền, nâng cao nhận thức về khởi nghiệp; 90% cán bộ Hội chuyên trách các cấp được đào tạo, nâng cao năng lực hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế.
Đồng thời, tỉnh sẽ tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho 1.550 doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ kinh doanh do phụ nữ làm chủ; nâng cao kiến thức, kỹ năng kinh doanh cho 1.550 phụ nữ.
Một trong những trọng tâm là hỗ trợ tiếp cận nguồn vốn. Tỉnh đặt mục tiêu ít nhất 1.550 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh do phụ nữ làm chủ được tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức tín dụng.
Bên cạnh đó, mỗi năm khoảng 310 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh do phụ nữ làm chủ được tư vấn, kết nối các dịch vụ tài chính phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
Song song với đó, tỉnh thúc đẩy chuyển đổi mô hình kinh doanh. Giai đoạn 2026-2030 sẽ hướng dẫn 70 hộ kinh doanh do phụ nữ làm chủ chuyển đổi thành doanh nghiệp; đồng thời hỗ trợ 5 doanh nghiệp, hợp tác xã do phụ nữ làm chủ tái cấu trúc, củng cố tổ chức và nâng cao năng lực hoạt động.
Ở góc độ phát triển bền vững, kế hoạch chú trọng hỗ trợ doanh nghiệp nữ tham gia chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị. Mỗi giai đoạn sẽ có ít nhất 1–2 mô hình doanh nghiệp, hợp tác xã do phụ nữ làm chủ được hỗ trợ theo hướng này.
Ngoài ra, tỉnh sẽ tổ chức 5 cuộc thi phụ nữ khởi nghiệp trong giai đoạn 2026-2035, cùng nhiều hoạt động đào tạo, xúc tiến thương mại, kết nối thị trường. Trung bình mỗi năm có khoảng 310 phụ nữ được đào tạo, nâng cao kỹ năng khởi nghiệp và quản trị kinh doanh.
Đáng chú ý, đến năm 2035, Quảng Ngãi hướng tới xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp thân thiện với phụ nữ, kết nối các cơ quan quản lý, tổ chức hỗ trợ, doanh nghiệp, chuyên gia và nhà đầu tư.
Kế hoạch được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh, ưu tiên phụ nữ yếu thế, phụ nữ vùng miền núi, dân tộc thiểu số, phụ nữ khuyết tật và những người có hoàn cảnh khó khăn.
Việc đặt ra chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ làm chủ doanh nghiệp không chỉ thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế mà còn góp phần mở rộng lực lượng doanh nhân, tạo việc làm và đóng góp vào tăng trưởng bền vững của địa phương.