Phát biểu tại hội thảo, thượng tướng Trương Thiên Tô, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nhấn mạnh, đất nước đang bước vào “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.
Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị tiếp tục đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình”, triệt để lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, phức tạp trong đời sống xã hội, những khó khăn, hạn chế trong quá trình phát triển để xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, kích động tâm lý hoài nghi, chia rẽ nội bộ, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Các hoạt động chống phá ngày càng mang tính phi tuyến, đa tầng, đa dạng về hình thức và tinh vi về thủ đoạn.
“Những tác động đặt ra từ kỷ nguyên phát triển mới đang đòi hỏi vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không đơn thuần là nhiệm vụ thường xuyên, mà còn là yêu cầu có tính sống còn đối với sự ổn định về chính trị, sự vững mạnh của Đảng và sự phát triển bền vững của đất nước”, thượng tướng Trương Thiên Tô nhận định.
Ông kỳ vọng, qua hội thảo sẽ lan tỏa những giá trị tích cực của dân tộc, của đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng tới đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Hội thảo đã thu hút ý kiến và 60 tham luận của các chuyên gia, nhà khoa học. Bên cạnh tập trung nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các ý kiến đã đưa ra giải pháp nhằm gắn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; củng cố niềm tin xã hội; hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật phù hợp với yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên phát triển mới.
Phát biểu tổng kết hội thảo, PGS-TS Lê Hải Bình, Phó giám đốc thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đề nghị cần tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn vai trò, trách nhiệm của các lực lượng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong kỷ nguyên phát triển mới.
Cạnh đó, ban tổ chức cần tiếp tục biên tập, xã hội hóa các sản phẩm tiêu biểu của hội thảo trên các cơ quan báo chí, truyền thông và chắt lọc kết quả đưa vào giảng dạy trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các học viện, nhà trường trong lực lượng vũ trang.
Đồng thời, kiến nghị với Ban Chỉ đạo 35 của Trung ương, Quân ủy Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Ban chỉ đạo về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng ngừa, đấu tranh phản bác, ngăn chặn, xử lý thông tin xấu độc, các quan điểm sai trái, thù địch trên các lĩnh vực – PV) những giải pháp để tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới, nhất là trên mặt trận tư tưởng lý luận, báo chí truyền thông và trên không gian số.
PGS-TS Lê Hải Bình cũng đề nghị tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị trong nghiên cứu khoa học, đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước và truyền thông bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững

Nhân Ngày Môi trường thế giới (5.6) và Ngày Đại dương thế giới (8.6), chúng ta cùng nhau suy ngẫm sâu sắc hơn về một vấn đề hệ trọng của thời đại, đó là quan hệ giữa con người với thiên nhiên đang đứng trước những chuyển biến lớn, đòi hỏi cách tiếp cận mới về phát triển, trách nhiệm và hành động. Môi trường an toàn và đại dương hòa bình, bền vững là vấn đề trung tâm của phát triển, an ninh, hòa bình, công bằng, đạo đức và sự trường tồn của các quốc gia dân tộc.
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những biến đổi sâu sắc chưa từng có về môi trường sinh thái. Trái đất nóng lên liên tục, thời tiết cực đoan, băng tan, nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, xâm nhập mặn, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường biển và đại dương đang tác động trực tiếp đến mọi châu lục. Sự mất cân bằng ấy cho thấy giới hạn của tự nhiên đang bị đẩy đến mức nguy hiểm.
Những thách thức đó đặt ra một câu hỏi lớn cho nhân loại: sự phát triển có bền vững không nếu nền tảng sinh thái nuôi dưỡng sự sống bị bào mòn? Trong nhiều thế kỷ, con người đã tạo nên những thành tựu vĩ đại về công nghiệp, khoa học, công nghệ, thương mại và đô thị hóa. Nhưng mô hình phát triển dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên, tiêu thụ năng lượng hóa thạch, sản xuất tuyến tính và văn hóa tiêu dùng lãng phí cũng để lại những hệ quả nặng nề về môi trường sinh thái.
Từ nhận thức đó, bảo vệ môi trường phải được nhìn nhận như một nội dung cốt lõi của an ninh quốc gia và an ninh con người. Một quốc gia có thể có tăng trưởng cao, nhưng nếu người dân phải sống trong ô nhiễm và suy thoái môi trường thì chưa thể coi là phát triển bền vững. Một xã hội hiện đại và thịnh vượng phải là xã hội biết làm giàu trong giới hạn sinh thái, sử dụng tài nguyên với trách nhiệm, xem thiên nhiên là điều kiện tồn tại, là tài sản quốc gia và là di sản của các thế hệ mai sau.
Đại dương càng cho thấy rõ hơn tính liên thông tác động lẫn nhau của nhân loại. Biến động khí hậu hay bất ổn ở một vùng đại dương có thể ảnh hưởng đến an ninh lương thực, thương mại, năng lượng và sinh kế của nhiều quốc gia. Vì vậy, bảo vệ đại dương không chỉ là nghĩa vụ môi trường mà còn là yêu cầu của hòa bình, hợp tác, luật pháp quốc tế, công bằng phát triển và trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế.
Đối với Việt Nam, những vấn đề đó có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Việt Nam là quốc gia biển, chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Hơn 3.260 km bờ biển, hai đồng bằng lớn, hệ thống sông ngòi dày đặc, nhiều đô thị ven biển, nơi hàng triệu ngư dân và cộng đồng sinh sống, nên đất nước ta dễ bị tổn thương trước tình trạng nước biển dâng, bão lũ, xâm nhập mặn, sạt lở, ô nhiễm, suy giảm nguồn lợi và biến động sinh thái, cũng như sự khai thác quá mức thiên nhiên.
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã thể hiện trách nhiệm mạnh mẽ trước cộng đồng quốc tế thông qua cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng, giảm rác thải nhựa đại dương, phát triển kinh tế tuần hoàn, bảo tồn đa dạng sinh học và thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển. Những cam kết ấy không phải là nghĩa vụ bên ngoài đưa lại, mà là nhu cầu tự thân của đất nước. Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững, trở thành quốc gia có thu nhập cao phải thực hiện đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học công nghệ, chuyển đổi số và bảo đảm an toàn môi trường sinh thái.
Truyền thống văn hóa các vùng, miền và làng quê Việt Nam từ lâu đã chứa đựng tinh thần hòa hợp với thiên nhiên. Trong thời đại mới, truyền thống ấy cần được nâng lên thành hệ giá trị phát triển hiện đại: tôn trọng tự nhiên, tiết kiệm tài nguyên, tiêu dùng có trách nhiệm, sản xuất sạch hơn, công nghệ xanh hơn, quản trị minh bạch hơn và công bằng hơn giữa các thế hệ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tầm nhìn xa rộng, từ rất sớm đã đặt con người, thiên nhiên và tương lai dân tộc trong một chỉnh thể thống nhất. Người căn dặn: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người". Trong tư tưởng ấy, "trồng cây" là hành động thiết thực để gây dựng môi trường sống; "trồng người" là sự nghiệp căn bản để xây dựng chủ thể phát triển có tri thức, đạo đức và trách nhiệm. Người cũng viết: "Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân". Đó là lời kêu gọi giản dị mà vượt thời gian, mỗi cây xanh được trồng xuống là một niềm hy vọng vào tương lai, mỗi hành động bảo vệ thiên nhiên là một cách làm cho đất nước thêm bền vững, tươi đẹp và nhân văn.
Đối với biển, đảo, Người từng căn dặn đồng bào Cát Bà, Cát Hải: "…rừng là vàng, biển là bạc. Rừng biển là của ta, do nhân dân ta làm chủ, phải ra sức khai thác, bảo vệ …". Câu nói ấy chứa đựng một quan điểm phát triển sâu sắc, quyền làm chủ tài nguyên luôn đi liền với trách nhiệm gìn giữ, khai thác phải gắn với bảo vệ, phát triển hôm nay phải nghĩ đến ngày mai. Biển không chỉ là nguồn lợi kinh tế mà còn là không gian sinh tồn, không gian chủ quyền, không gian văn hóa, không gian kết nối và không gian chiến lược của dân tộc Việt Nam.
Từ tư tưởng Hồ Chí Minh và yêu cầu của thời đại, chúng ta cần xác lập một quan điểm chỉ đạo xuyên suốt rằng phát triển xanh, bảo vệ môi trường, bảo vệ đại dương và ứng phó biến đổi khí hậu phải trở thành một trụ cột của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây không phải là việc riêng của ngành tài nguyên và môi trường mà là nhiệm vụ chung của toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, từng địa phương, từng gia đình và mỗi người dân.
Muốn vậy, trong thời gian tới, cần tập trung vào sáu nhóm nhiệm vụ lớn.
Thứ nhất, hoàn thiện tư duy phát triển và thể chế quản trị môi trường theo hướng coi thiên nhiên là nền tảng của phát triển bền vững. Mọi chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển phải được đặt trong giới hạn chịu tải của hệ sinh thái, khả năng thích ứng khí hậu và yêu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân. Cần thay đổi tư duy từ xử lý ô nhiễm sau phát triển sang phòng ngừa ô nhiễm ngay từ thiết kế phát triển. Đổi mới phương thức quản trị môi trường và tài nguyên theo hướng tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Mở rộng thước đo phát triển, không dừng ở sản lượng hay tốc độ tăng trưởng mà bao gồm chất lượng sống, hiệu quả sử dụng tài nguyên, mức phát thải, năng lực chống chịu khí hậu và công bằng xã hội. Thể chế phải bảo đảm nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả chi phí, người bảo vệ thiên nhiên phải được hưởng lợi, địa phương phát triển xanh phải được khuyến khích, doanh nghiệp đổi mới xanh phải được hỗ trợ, còn hành vi hủy hoại môi trường phải bị xử lý nghiêm minh.
Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi xanh trong mô hình tăng trưởng, cơ cấu năng lượng, sản xuất, tiêu dùng và đô thị hóa. Chuyển đổi xanh phải trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cần đẩy mạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng tái tạo phù hợp với an ninh hệ thống, giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, thúc đẩy công nghiệp ít phát thải, nông nghiệp sinh thái, giao thông công cộng, công trình xanh, vật liệu xanh và kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình chuyển đổi, bởi chính doanh nghiệp là nơi đổi mới công nghệ, tổ chức lại chuỗi cung ứng, tạo việc làm xanh và đáp ứng các tiêu chuẩn mới của thị trường quốc tế. Nhà nước cần có chính sách tài chính xanh, tín dụng xanh, mua sắm công xanh, tiêu chuẩn phát thải, cơ chế định giá các-bon và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ, vốn và thị trường.
Thứ ba, phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, có trách nhiệm, gắn với bảo vệ chủ quyền, sinh kế nhân dân và hòa bình trên biển. Việt Nam coi gìn giữ môi trường biển, bảo vệ các hệ sinh thái biển, phát triển kinh tế biển bền vững phải đi liền với giữ vững hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982; kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, và cùng xây dựng Biển Đông thành vùng biển của hợp tác, trách nhiệm và phát triển bền vững. Việt Nam sẽ xác lập mô hình phát triển kinh tế biển hiện đại hơn dựa trên khoa học, công nghệ, dữ liệu biển, bảo tồn hệ sinh thái; phát triển hệ thống cảng biển xanh, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp sinh học biển, du lịch sinh thái biển đảo, dịch vụ hàng hải, v.v... Cần kiểm soát chặt chẽ việc khai thác hải sản bất hợp pháp, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nâng cao đời sống ngư dân.
Thứ tư, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên và xây dựng năng lực thích ứng khí hậu như một hạ tầng chiến lược của quốc gia. Đầu tư cho thiên nhiên là đầu tư cho tương lai. Tích cực phòng chống thiên tai, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, sức khỏe cộng đồng và ổn định sinh kế. Cần ưu tiên phục hồi rừng đầu nguồn, rừng ven biển, rừng ngập mặn. Bảo vệ nghiêm các hệ sinh thái nhạy cảm; kiểm soát khai thác cát, nước ngầm, tài nguyên ven bờ. Xây dựng các đô thị thích ứng với khí hậu, tái thiết không gian sông, hồ, kênh rạch; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và quản trị rủi ro thiên tai. Đối với đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung ven biển, miền núi phía bắc và các đô thị lớn, thích ứng khí hậu phải trở thành nội dung cốt lõi của quy hoạch phát triển, đầu tư công và bảo đảm an sinh.
Thứ năm, xây dựng nền quản trị môi trường dựa trên khoa học, dữ liệu, công nghệ số và sự tham gia của xã hội. Cần xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về phát thải, chất lượng nước, không khí, rác thải, đa dạng sinh học, tài nguyên biển, sạt lở, xâm nhập mặn, rủi ro khí hậu và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường của doanh nghiệp. Công nghệ vệ tinh, trí tuệ nhân tạo, cảm biến môi trường, bản đồ số, cơ sở dữ liệu biển đảo, mô hình dự báo thiên tai và nền tảng phản ánh của người dân cần được ứng dụng rộng rãi. Người dân có quyền được biết về chất lượng môi trường nơi mình sống, doanh nghiệp có nghĩa vụ minh bạch tác động môi trường, cơ quan nhà nước phải ra quyết định dựa trên bằng chứng và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Cùng với đó, cần thúc đẩy giáo dục môi trường trong trường học, cộng đồng và xã hội; truyền thông khoa học, lối sống xanh, phân loại rác tại nguồn, giảm sản phẩm nhựa dùng một lần và xây dựng văn hóa công dân sinh thái trong toàn xã hội.
Thứ sáu, bảo đảm công bằng trong chuyển đổi xanh và tăng cường hợp tác quốc tế vì khí hậu, môi trường và đại dương. Chuyển đổi xanh chỉ có thể thành công khi đó là quá trình công bằng, bao trùm và nhân văn. Những người nghèo, lao động trong các ngành phát thải cao, cộng đồng ven biển, phụ nữ, trẻ em và các nhóm dễ tổn thương cần được hỗ trợ về sinh kế, đào tạo nghề, tài chính, bảo hiểm rủi ro, hạ tầng thích ứng và tiếp cận dịch vụ xã hội. Cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh; tạo sinh kế bền vững cho người dân bảo vệ môi trường sinh thái.
Việt Nam kêu gọi cộng đồng quốc tế, nhất là các nước phát triển, thực hiện đầy đủ và thực chất hơn các cam kết về tài chính khí hậu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, hỗ trợ thích ứng, bồi đắp năng lực quản trị và mở rộng thị trường cho các sản phẩm xanh của các nước đang phát triển. Các nước công nghiệp phát triển đã đi trước trong quá trình công nghiệp hóa, đã tích lũy của cải trong một thời gian dài dựa trên mức phát thải lớn hơn và có năng lực tài chính, công nghệ vượt trội hơn. Vì vậy, trách nhiệm của họ trong ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ đại dương và phục hồi hệ sinh thái toàn cầu phải tương xứng với năng lực hiện tại và trách nhiệm lịch sử. Một trật tự xanh công bằng phải giúp các nước đang phát triển không bị bỏ lại phía sau, không biến các tiêu chuẩn môi trường thành rào cản thương mại mới.
Các nước đang phát triển cần quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng, sử dụng hiệu quả nguồn lực hỗ trợ, nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực hiện các cam kết xanh. Nhưng lộ trình chuyển đổi phải phù hợp với trình độ phát triển, năng lực công nghệ, điều kiện ngân sách, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và sinh kế của người dân.
Việt Nam sẵn sàng là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong các nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ đa dạng sinh học, giảm ô nhiễm nhựa, bảo vệ đại dương, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng công bằng và xây dựng nền kinh tế xanh. Chúng ta mong muốn cùng các đối tác phát triển một khuôn khổ hợp tác thực chất hơn, trong đó tài chính xanh đến được với những nơi cần nhất, công nghệ sạch được chia sẻ rộng rãi hơn, tri thức quản trị được lan tỏa nhanh hơn, và lợi ích của chuyển đổi xanh được phân bổ công bằng hơn giữa các quốc gia, các cộng đồng và các thế hệ.
Sáu nhóm nhiệm vụ trên đây phải được triển khai bằng tinh thần hành động thực chất với sự chung tay của Nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội. Mỗi địa phương phải có chương trình hành động phù hợp với đặc điểm sinh thái và mô hình phát triển của mình. Mỗi bộ, ngành phải tích hợp mục tiêu xanh vào chính sách chuyên ngành. Mỗi doanh nghiệp phải coi tuân thủ môi trường là tiêu chuẩn tồn tại và đổi mới xanh là điều kiện cạnh tranh. Mỗi người dân phải biến tình yêu thiên nhiên, yêu biển đảo, yêu quê hương thành hành động cụ thể hằng ngày.
Ngày Môi trường thế giới và Ngày Đại dương thế giới nhắc chúng ta ngưỡng chịu đựng của trái đất có giới hạn, đại dương đang bị tổn thương và hành động trách nhiệm của nhân loại. Chúng ta đứng trước sứ mệnh kiến tạo một Việt Nam xanh, trách nhiệm và bền vững trong thế kỷ XXI; một mô hình phát triển thịnh vượng, nhân văn, hiện đại và hài hòa với thiên nhiên; xây dựng đất nước giàu mạnh mà môi trường vẫn trong lành, biển đảo vẫn bình yên, dòng sông vẫn xanh, cánh rừng vẫn đại ngàn và mỗi người dân được sống an toàn, khỏe mạnh, hạnh phúc.
Mỗi người Việt Nam hãy bắt đầu từ một việc cụ thể: trồng và chăm một cây xanh, giảm sản phẩm nhựa dùng một lần, tiết kiệm năng lượng, phân loại rác, bảo vệ nguồn nước, giữ sạch bãi biển, lan tỏa một thói quen sống xanh, hãy hành động vì tương lai của Việt Nam luôn mãi xanh tươi và bền vững.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước dự lễ khởi động liên hoan nhân dân biên giới Việt-Trung

Sáng 17.4, tại thành phố Nam Ninh (Quảng Tây), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã dự lễ khởi động Liên hoan nhân dân biên giới Việt Nam - Trung Quốc năm 2026 với chủ đề củng cố nền tảng xã hội vững chắc, đoàn kết hợp tác cùng nhau phát triển.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Trần Cương, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, nhấn mạnh, nhân dân hai nước biên giới chung sống hài hòa, giúp đỡ lẫn nhau, đã minh chứng "Mối tình thắm thiết Việt - Hoa, vừa là đồng chí vừa là anh em" giữa hai nước. Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến dự và phát biểu tại Liên hoan nhân dân biên giới Việt Nam - Trung Quốc năm 2026 thể hiện sự quan tâm cao độ đối với việc tiếp nối tình hữu nghị truyền thống Trung - Việt, thúc đẩy nhân dân hai nước cùng viết nên chương mới của quan hệ Trung - Việt thế kỷ 21.
Phát biểu tại buổi lễ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ Liên hoan nhân dân biên giới Việt - Trung được tổ chức tại vùng đất lưu giữ nhiều ký ức lịch sử chung của hai dân tộc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gửi lời biết ơn chân thành, sâu sắc tới Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc, chính quyền và nhân dân Quảng Tây đã gìn giữ, bảo tồn những di tích liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam và những giá trị hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, trải qua chặng đường hơn 100 năm qua, kể từ những ngày đầu những nhà cách mạng tiền bối của hai nước kề vai chiến đấu, đặc biệt là trong 76 năm qua từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (ngày 18.1.1950), quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai Đảng, hai nước được xây dựng theo phương châm 16 chữ "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" và tinh thần 4 tốt "láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt" đã không ngừng phát triển, mở ra chương mới với việc xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh việc tăng cường giao lưu nhân dân, nhất là nhân dân biên giới và giữa thế hệ trẻ hai nước có ý nghĩa cầu nối rất quan trọng để thắt chặt tình cảm hữu nghị giữa hai dân tộc, xây dựng một tương lai ngày càng tươi sáng cho quan hệ Việt - Trung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các cơ quan, tổ chức nhân dân, địa phương hai nước tiếp tục tổ chức hiệu quả các hoạt động giao lưu đi lại giữa các tầng lớp nhân dân, theo đúng tinh thần "láng giềng càng đi lại thì càng thân thiết"; tăng cường giáo dục truyền thống hữu nghị, biến các "địa chỉ đỏ" ở hai nước thành không gian văn hóa - lịch sử sống động cho thế hệ trẻ, cùng nhau tạo nên những chương mới rạng rỡ cho quan hệ Việt - Trung; chuyển hóa sức mạnh của tình hữu nghị truyền thống thành những kết quả hợp tác cụ thể và hiệu quả, đưa hợp tác đi vào chiều sâu, thực chất. Hai bên cùng nỗ lực đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thành động lực hạt nhân, hướng tới mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn Quảng Tây sẽ hỗ trợ các địa phương Việt Nam triển khai các dự án chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng thông minh sao cho người dân biên giới được tiếp cận tiện ích hiện đại dễ dàng nhất; thúc đẩy các hoạt động giao lưu, hợp tác văn hóa, lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần, động lực phát triển nhịp cầu kết nối.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng cần đổi mới phương thức hợp tác, không chỉ dừng lại ở các lễ hội, triển lãm truyền thống, mà phải đẩy mạnh công nghiệp văn hóa, bảo tồn di sản gắn với du lịch bền vững và đào tạo nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thời đại số.
Gửi gắm niềm tin sâu sắc vào thế hệ trẻ hai nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bày tỏ, các bạn không chỉ là những người tiếp nối, mà chính là những chủ nhân tương lai của hai nước, tiên phong dấn thân vào những lĩnh vực mới, trọng yếu và then chốt của thời đại số. Hãy nuôi dưỡng khát vọng lớn, không ngừng sáng tạo, dám nghĩ, dám làm để lập thân, lập nghiệp và cống hiến; mong muốn tuổi trẻ hai nước sẽ cùng nhau "đồng kiến tạo tương lai", trở thành nhịp cầu tri thức và sức sống mãnh liệt, đưa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc vững bước tiến vào tương lai.
Trước đó, trong sáng 17.4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thăm Trung tâm Hợp tác đổi mới trí tuệ nhân tạo Trung Quốc - ASEAN.
Ông Trần Cương, Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, đã tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham quan triển lãm về hợp tác ứng dụng trí tuệ nhân tạo Trung Quốc và Việt Nam; khu trưng bày các sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo tiêu biểu của doanh nghiệp Trung Quốc.
Trung tâm Hợp tác đổi mới trí tuệ nhân tạo Trung Quốc - ASEAN do Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc và các nước ASEAN thành lập, nhằm thúc đẩy sự phát triển bao trùm và cùng có lợi của trí tuệ nhân tạo (AI) trên toàn cầu, được coi là dự án mang tính biểu tượng cho tiến trình xây dựng "Con đường tơ lụa số" của thành phố Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc.
Ngày 30.6.2025, Trung tâm đi vào vận hành giai đoạn 1 với diện tích các hạng mục liên quan khoảng 7,78 km². Trong đó, diện tích của Trung tâm khoảng 19.000 m².
Cũng trong sáng 17.4, tại thành phố Nam Ninh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến thăm di tích Khu học xá Trung ương (còn gọi là Trường Dục Tài Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc). Lãnh đạo Đại học Quảng Tây đã đón và tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao tham quan triển lãm ảnh giới thiệu lịch sử trường.
Phát biểu tại đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ vui mừng đến thăm di tích Khu học xá Trung ương hay còn gọi là Trường Dục Tài Nam Ninh - địa danh lịch sử giàu ý nghĩa biểu tượng của tình hữu nghị "vừa là đồng chí, vừa là anh em" giữa hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước Việt - Trung.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong muốn Đại học Quảng Tây cũng như các cơ sở đào tạo khác tại Quảng Tây sẽ tiếp tục phát huy vai trò cầu nối tri thức, văn hóa, mở rộng hợp tác với các trường đại học Việt Nam, đào tạo thêm nhiều nhân tài cho cả hai đất nước; tin tưởng quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc sẽ tiếp tục được kế thừa, phát triển và không ngừng đơm hoa kết trái, phát triển bền vững, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại hội MTTQ Việt Nam lần thứ XI

Thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,
Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
Thưa các cụ, các vị lão thành, các vị cao niên, đại diện các giai cấp, các tầng lớp Nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, trí thức, văn nghệ sỹ, các vị đại biểu, các vị khách quý và bạn bè quốc tế,
Thưa toàn thể Đại hội và đồng bào trong và ngoài nước.
Hôm nay, tôi rất vui mừng tới dự Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đây là sự kiện chính trị - xã hội có ý nghĩa rất quan trọng, diễn ra trong thời điểm đất nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới, với thế và lực mới, vận hội mới, đồng thời cũng đứng trước nhiều yêu cầu, nhiệm vụ mới rất lớn.
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi nhiệt liệt chào mừng Đại hội. Qua Đại hội, tôi gửi tới toàn thể đồng bào, đồng chí, cán bộ, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài tình cảm thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Thưa Đại hội,
Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần này diễn ra trong bối cảnh rất đặc biệt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công tốt đẹp, xác định những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 ghi dấu ấn đổi mới mạnh mẽ. Hệ thống chính trị đang vận hành theo mô hình tổ chức mới, tinh gọn hơn, đòi hỏi hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả cao hơn, phục vụ Nhân dân tốt hơn.
Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI là dấu mốc mở đầu chặng đường phát triển mới của Mặt trận, với vị thế mới, mô hình tổ chức mới, yêu cầu nhiệm vụ mới. Đại hội cần xác định rõ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải làm gì, làm như thế nào để tiếp tục là nơi hội tụ lòng dân, phản ánh ý dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của dân, kết nối sức dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Tôi rất đồng tình với chủ đề, phương hướng, mục tiêu và chương trình hành động mà Đại hội đã đề ra. Chủ đề Đại hội thể hiện rõ tinh thần đoàn kết, dân chủ, đổi mới, sáng tạo, phát triển; khẳng định vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phát huy dân chủ, truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Lịch sử dân tộc ta đã chứng minh chân lý khi dân tộc ta đoàn kết, lòng dân quy tụ, ý chí toàn dân thống nhất, thì đất nước vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, làm nên những kỳ tích mang tính vĩnh cửu. Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là đường lối chiến lược của Đảng, là cội nguồn sức mạnh Việt Nam.
Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945, qua các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đến công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển ngày nay, mọi thắng lợi của dân tộc ta đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sức mạnh vô địch của Nhân dân. Đảng ta mạnh là vì gắn bó máu thịt với Nhân dân. Nhà nước ta vững vì dựa vào Nhân dân. Chế độ ta bền vì được Nhân dân tin tưởng, ủng hộ, bảo vệ và xây dựng.
Trong kỷ nguyên mới, đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là truyền thống tinh thần, mà còn là năng lực phát triển quốc gia; là sức mạnh để khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, tạo đồng thuận xã hội, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đoàn kết trong giai đoạn mới là biết tôn trọng những khác biệt hợp pháp, chính đáng; giải quyết hài hòa lợi ích; lấy mục tiêu chung của quốc gia-dân tộc làm điểm tương đồng; lấy khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc làm ngọn cờ quy tụ mọi người Việt Nam yêu nước.
Trong thời gian qua, dù nhiệm kỳ được rút ngắn, nhưng Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên đã nỗ lực rất lớn, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Mặt trận đã khẩn trương sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy, chuẩn bị Đại hội lần thứ XI chu đáo, trách nhiệm; đồng thời từng bước vận hành theo mô hình mới, giữ vững hoạt động, bảo đảm ổn định, thông suốt.
Công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp Nhân dân được đổi mới; góp phần tạo đồng thuận xã hội trong thực hiện các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước; tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng và hoàn thiện pháp luật; góp ý Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; tham gia sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, các đạo luật quan trọng; tổ chức hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, vận động Nhân dân tham gia bầu cử, góp phần vào thành công của ngày hội lớn của non sông.
Công tác giám sát, phản biện xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân có bước chuyển biến. Các phong trào thi đua, cuộc vận động như xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư, phong trào "Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau", vận động xóa nhà tạm, nhà dột nát, cứu trợ thiên tai, chăm lo người yếu thế... đã thể hiện sinh động truyền thống nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết của dân tộc ta. Việc phối hợp cùng Chính phủ, các cấp, các ngành hoàn thành xóa hơn 334.000 căn nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước là dấu ấn rất có ý nghĩa; vận động hỗ trợ đồng bào bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ với số tiền trên 4.200 tỉ đồng; vận động quyên góp giúp đỡ nhân dân Cu Ba anh em với số tiền 315 tỉ đồng...
Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi ghi nhận, nhiệt liệt chúc mừng và biểu dương những kết quả quan trọng mà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên, đội ngũ cán bộ làm công tác Mặt trận, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp Nhân dân đã đạt được trong thời gian qua.
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác Mặt trận vẫn còn những hạn chế, bất cập. Nội dung, phương thức vận động, tập hợp Nhân dân có lúc, có nơi chưa theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội. Một số cuộc vận động, phong trào thi đua còn hình thức, hiệu quả chưa đồng đều. Công tác giám sát, phản biện xã hội có nơi còn lúng túng, chất lượng chưa cao; việc theo dõi, đôn đốc giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện có lúc chưa quyết liệt. Việc nắm tình hình Nhân dân, nhất là trên không gian mạng, trong các nhóm xã hội mới chưa bắt kịp tình hình. Chuyển đổi số trong công tác Mặt trận chưa đồng đều, còn mang tính hình thức và chưa thực sự hiệu quả.
Những hạn chế đó cần được nhìn thẳng, nói thật, đánh giá đúng và có giải pháp khắc phục căn cơ. Mặt trận không thể mạnh nếu xa dân; không thể đổi mới nếu chỉ là lời văn trong nghị quyết; không thể đại diện cho Nhân dân nếu không nghe được tiếng nói thật của Nhân dân và nói dân không hiểu; không thể giám sát, phản biện có chất lượng nếu thiếu bản lĩnh, thiếu dữ liệu, thiếu chuyên gia và thiếu cơ chế theo đến cùng các kiến nghị chính đáng.
Trong nhiệm kỳ 2026 - 2031, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi xin nhấn mạnh 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm để các đại biểu tham dự Đại hội thảo luận, xem xét, quyết định.
Thứ nhất, quán triệt sâu sắc quan điểm "Dân là gốc", Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, phát triển, là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động của công tác Mặt trận.
Mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, mọi chương trình, phong trào, cuộc vận động của Mặt trận đều phải xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; hướng tới mục tiêu nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân. Mặt trận phải lấy Nhân dân làm trung tâm trong mọi hoạt động; dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng hệ thống chính trị; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; thực hiện thực chất phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
Hiệu quả công tác Mặt trận không chỉ đo bằng số cuộc họp, số văn bản, số phong trào, số lễ phát động, mà phải đo bằng niềm tin của Nhân dân, sự hài lòng của Nhân dân, mức độ tham gia của Nhân dân, khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, và kết quả cụ thể trong việc làm cho đời sống Nhân dân ngày càng tốt đẹp hơn.
Mặt trận vừa phải đưa chủ trương đúng của Đảng, chính sách đúng của Nhà nước đến với Nhân dân, vừa phải đưa tiếng nói, nguyện vọng, sáng kiến, bức xúc chính đáng của Nhân dân đến với Đảng, Nhà nước.
Thứ hai, đổi mới phương thức tập hợp, vận động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Xã hội ta đang thay đổi nhanh; cơ cấu giai cấp, tầng lớp, nghề nghiệp, phương thức lao động, không gian sống, cách tiếp cận thông tin của Nhân dân ngày càng đa dạng. Bên cạnh khu dân cư truyền thống, còn có khu công nghiệp, khu nhà trọ công nhân, cộng đồng nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, không gian mạng, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và các nhóm xã hội mới.
Vì vậy, phương thức vận động, tập hợp Nhân dân cũng phải đổi mới. Không thể chỉ vận động bằng hội nghị, văn bản, khẩu hiệu; phải vận động bằng đối thoại, thuyết phục, lợi ích thiết thực, sự gương mẫu, kết quả cụ thể và khả năng giải quyết những vấn đề Nhân dân quan tâm. Mỗi chương trình, phong trào, cuộc vận động của Mặt trận cần chuyển mạnh từ phát động chung sang tổ chức thực hiện cụ thể; từ khẩu hiệu sang kết quả; từ hình thức sang thực chất; bảo đảm dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm; rõ mục tiêu, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn; đo được kết quả, đo được tác động đối với đời sống Nhân dân.
Mặt trận không làm thay Nhà nước, không làm thay các tổ chức thành viên, càng không được hành chính hóa hoạt động của mình. Mặt trận phải làm đúng vai trò nòng cốt chính trị: quy tụ, hiệp thương, điều phối, giám sát, phản biện, chăm lo, bảo vệ và phát huy sức mạnh Nhân dân. Trong mô hình tổ chức mới, tổ chức có thể tinh gọn hơn, nhưng sức tập hợp phải rộng hơn; bộ máy có thể ít tầng nấc hơn, nhưng hoạt động phải gần dân hơn.
Thứ ba, nâng cao chất lượng giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Giám sát, phản biện xã hội là chức năng rất quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; là phương thức để Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nâng cao chất lượng chính sách và củng cố niềm tin xã hội.
Giám sát phải chọn đúng vấn đề Nhân dân quan tâm, xã hội bức xúc, chính sách có tác động lớn đến đời sống người dân. Phản biện xã hội phải được thực hiện từ sớm, từ xa, ngay trong quá trình hình thành chủ trương, chính sách; không chỉ góp ý câu chữ, mà phải góp ý về mục tiêu chính sách, tác động xã hội, tính khả thi, nguồn lực thực hiện và lợi ích của Nhân dân.
Phản biện xã hội không phải để làm khó cơ quan nhà nước, mà để chính sách đúng hơn, sát dân hơn, minh bạch hơn, khả thi hơn, nhân văn hơn. Muốn vậy, Mặt trận phải nâng cao bản lĩnh, chất lượng và phương pháp giám sát, phản biện; huy động tốt hơn chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, trí thức, doanh nhân, người có uy tín; dựa trên dữ liệu, khảo sát xã hội và tiếng nói từ cơ sở. Đặc biệt, phải có cơ chế theo dõi đến cùng việc giải quyết kiến nghị sau giám sát, phản biện; không để kiến nghị của Mặt trận chỉ dừng lại ở báo cáo, không để ý kiến chính đáng của Nhân dân rơi vào im lặng.
Thứ tư, chăm lo lợi ích thiết thực của Nhân dân, củng cố đồng thuận xã hội từ cơ sở. Đại đoàn kết bền vững phải được xây trên nền tảng lợi ích thiết thực của Nhân dân. Khi người dân được chăm lo, được bảo vệ, được tôn trọng, được tham gia, được thụ hưởng, thì đoàn kết mới có gốc sâu, đồng thuận mới có nền chắc, niềm tin mới bền vững.
Mặt trận cần tiếp tục đổi mới các hoạt động chăm lo người nghèo, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên, người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật, người Việt Nam ở nước ngoài gặp khó khăn. Các chương trình an sinh phải công khai, minh bạch, đúng đối tượng, có giám sát xã hội; không chỉ dừng ở hỗ trợ trước mắt, mà phải hướng tới sinh kế bền vững, kỹ năng, việc làm, giáo dục, y tế và khả năng tự vươn lên.
Mặt trận phải phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư; xây dựng khu dân cư đoàn kết, an toàn, ấm no, hạnh phúc; xây dựng các mô hình tự quản về an ninh trật tự, bảo vệ môi trường, khuyến học, khuyến tài, chăm sóc người cao tuổi, bảo vệ trẻ em, giữ gìn bản sắc văn hóa. Đồng thuận xã hội không phải là sự im lặng hình thức, mà phải được xây dựng trên nền tảng dân chủ, lắng nghe, đối thoại, giải quyết hài hòa lợi ích và bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân.
Thứ năm, xây dựng Mặt trận hiện đại: tổ chức thông suốt, cán bộ gần dân, chuyển đổi số thực chất, có tầm nhìn dài hạn. Sau khi vận hành mô hình tổ chức mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần chủ động rà soát, tổng kết, đánh giá thực chất những kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn trong cơ chế phối hợp, phân công nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quan hệ giữa Mặt trận với các tổ chức thành viên; kịp thời tham mưu, đề xuất hoàn thiện thể chế, bảo đảm hệ thống Mặt trận hoạt động thông suốt, hiệu quả, không chồng chéo, không hành chính hóa, không làm thay.
Công tác Mặt trận là công tác với con người, với lòng dân, với niềm tin xã hội. Cán bộ Mặt trận phải có bản lĩnh chính trị, có tâm với dân, có uy tín trong cộng đồng, có kỹ năng vận động, đối thoại, thuyết phục, phản biện, xử lý tình huống; không được xa dân, không thể chỉ làm việc qua báo cáo; phải đi đến nơi, nghe đến cùng, nói đúng sự thật, kiến nghị đúng chỗ, theo đến cùng kết quả.
Chuyển đổi số phải tạo ra phương thức mới để Mặt trận gần dân hơn, nghe dân rộng hơn, phản hồi dân nhanh hơn, giám sát việc giải quyết kiến nghị của dân minh bạch hơn. Cần vận hành hiệu quả các nền tảng số để Nhân dân có thể phản ánh, kiến nghị, góp ý mọi lúc, mọi nơi; phát triển Cổng Mặt trận số 24/7, tổ chức "Tháng nghe dân nói", triển khai Bộ chỉ số niềm tin xã hội cấp tỉnh.
Đồng thời, Mặt trận cần coi nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng; tham mưu xây dựng và triển khai Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045; làm rõ hơn cơ sở, nguyên tắc, phương thức và cơ chế phát huy sức mạnh Nhân dân, sức mạnh văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam.
Để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ, tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp tiếp tục nhận thức sâu sắc hơn nữa về vị trí, vai trò của Mặt trận; thật sự tôn trọng, lắng nghe, phối hợp và tạo điều kiện để Mặt trận thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.
Ý kiến giám sát, phản biện, kiến nghị của Mặt trận phải được coi là kênh quan trọng để hoàn thiện lãnh đạo, quản lý, điều hành. Cấp ủy, chính quyền phải có trách nhiệm tiếp thu, giải trình, phản hồi rõ ràng. Đồng thời, Mặt trận cũng phải nâng cao chất lượng kiến nghị; nói đúng, nói trúng, nói có căn cứ, nói vì lợi ích chung, nói trên tinh thần xây dựng và theo dõi đến cùng việc giải quyết.
Ngay sau Đại hội, đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả; làm sao để tinh thần Đại hội không chỉ nằm trong văn kiện, mà đi vào từng khu dân cư, từng tổ chức thành viên, từng phong trào, từng việc làm thiết thực vì Nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có truyền thống vẻ vang gần một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, với truyền thống vẻ vang đó, với tinh thần đổi mới của Đại hội, với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự đồng lòng ủng hộ của các tầng lớp Nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ tiếp tục có bước phát triển mới mạnh mẽ hơn, thực chất hơn, hiệu quả hơn; xứng đáng là trung tâm tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là cơ sở chính trị vững chắc của chính quyền nhân dân, là cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Với niềm tin sâu sắc vào sức mạnh vô địch của Nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tôi kêu gọi toàn thể đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài tiếp tục đoàn kết một lòng, chung sức, đồng lòng, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng cống hiến, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI; góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã căn dặn: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Chúng ta hãy luôn khắc ghi lời dạy đó. Hãy làm cho đoàn kết trở thành sức mạnh. Hãy làm cho dân chủ trở thành động lực. Hãy làm cho niềm tin của Nhân dân trở thành nền tảng vững chắc của đất nước.
Xin chúc các quý vị đại biểu, các cụ, các vị và các đồng chí, bạn bè quốc tế mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công.
Chúc Đại hội thành công tốt đẹp. Xin trân trọng cảm ơn./.
Tin Gốc: Thanh Niên

