Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký ban hành Quyết định số 928 phê duyệt “Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026-2030”, đặt mục tiêu mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính cho mọi người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là các nhóm yếu thế, khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Theo Chiến lược, đối tượng áp dụng là toàn bộ người dân và doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong đó, nhóm ưu tiên gồm người dân ở vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo; hộ nghèo, cận nghèo, hộ thu nhập thấp; học sinh, sinh viên; doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh; cùng các nhóm yếu thế khác trong xã hội.
Chiến lược nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm mọi người dân và doanh nghiệp được tiếp cận bình đẳng, toàn diện các sản phẩm và dịch vụ tài chính hiện đại, an toàn, với chi phí hợp lý.
Theo Chính phủ, mục tiêu tổng quát của Chiến lược là hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm, góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Một trong những mục tiêu đáng chú ý nhất được đặt ra là đến năm 2030, khoảng 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc các tổ chức được phép khác. Bên cạnh đó, Chiến lược đặt mục tiêu giá trị thanh toán không dùng tiền mặt đạt gấp 30 lần GDP; ít nhất 30% người trưởng thành có tiền gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Đối với khu vực doanh nghiệp, Chính phủ phấn đấu đến năm 2030 sẽ có ít nhất 300.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa có dư nợ tín dụng tại các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn dự kiến chiếm khoảng 25% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực bảo hiểm, Chiến lược đặt mục tiêu doanh thu toàn ngành đạt quy mô khoảng 3,3-3,5% GDP vào năm 2030.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chiến lược đưa ra hàng loạt giải pháp về hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng tài chính số, mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ và thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng.
Trong đó, Chính phủ yêu cầu phát triển đa dạng các tổ chức cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính và các kênh phân phối hiện đại dựa trên công nghệ số nhằm giúp người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ tài chính thuận tiện hơn, nhất là tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.
Chiến lược cũng nhấn mạnh việc mở rộng độ bao phủ các điểm cung ứng dịch vụ tài chính tại những khu vực còn hạn chế về tiếp cận ngân hàng truyền thống. Cùng với đó, Chính phủ định hướng thúc đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế; tạo điều kiện để người dân dễ dàng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán điện tử.
Ngoài mục tiêu mở rộng tiếp cận tín dụng và dịch vụ ngân hàng, Chiến lược cũng dành trọng tâm lớn cho phát triển tài chính xanh và tài chính bền vững. Theo đó, các tổ chức tín dụng và tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính được khuyến khích ưu tiên nguồn vốn cho vay đối với các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và các hoạt động đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Chính phủ cũng định hướng phát triển đa dạng các sản phẩm tài chính xanh, tín dụng xanh nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi xanh.
Bên cạnh đó, Chiến lược khuyến khích mở rộng các sản phẩm tín dụng vi mô, phát triển bảo hiểm thương mại, bảo hiểm hưu trí bổ sung và thúc đẩy ứng dụng công nghệ tài chính nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của người dân.
Nhiều người dùng smartphone Android vẫn duy trì thói quen mở màn hình đa nhiệm và vuốt tắt toàn bộ ứng dụng với suy nghĩ rằng việc này giúp "dọn RAM", tăng tốc thiết bị và tiết kiệm pin. Tuy nhiên, theo các nguyên tắc vận hành của hệ điều hành Android hiện đại, đây là quan niệm chưa chính xác.
Trên thực tế, Android được thiết kế để quản lý RAM một cách tự động. Các ứng dụng không sử dụng thường được đưa vào trạng thái tạm dừng hoặc "đóng băng", tiêu thụ rất ít tài nguyên và sẵn sàng được kích hoạt lại nhanh chóng khi cần.
Việc người dùng chủ động đóng toàn bộ ứng dụng không giúp máy "nhẹ" hơn như nhiều người nghĩ, bởi hệ thống vốn đã tối ưu việc phân bổ bộ nhớ.
Theo các chuyên gia, việc vuốt tắt ứng dụng liên tục đôi khi còn khiến thiết bị tiêu hao năng lượng nhiều hơn:
Khi mở lại ứng dụng, điện thoại phải khởi động lại từ đầu, tiêu tốn CPU và pin.
Việc phá vỡ trạng thái "tạm dừng" khiến hệ thống không tận dụng được cơ chế tối ưu sẵn có.
Một số ứng dụng như nhắn tin, email có thể bị ảnh hưởng thông báo khi bị đóng hoàn toàn.
Các phiên bản Android hiện nay được tích hợp nhiều cơ chế thông minh như quản lý tiến trình nền, giới hạn hoạt động ứng dụng ít dùng và tối ưu tài nguyên theo thói quen người dùng. Điều này giúp thiết bị vận hành ổn định mà không cần can thiệp thủ công thường xuyên.
Thay vì vuốt tắt toàn bộ app, người dùng nên tập trung vào các biện pháp tối ưu đúng cách, như:
- Kiểm tra và hạn chế hoạt động nền của ứng dụng gây hao pin trong phần cài đặt.
- Giảm độ sáng màn hình hoặc bật chế độ tự động điều chỉnh.
- Sử dụng chế độ tối nếu thiết bị hỗ trợ màn hình OLED.
- Rút ngắn thời gian tự động khóa màn hình.
- Dọn dẹp bộ nhớ lưu trữ khi cần thiết.
Thói quen "dọn RAM" bằng cách vuốt tắt ứng dụng xuất phát từ suy nghĩ giúp máy nhanh hơn, nhưng với Android hiện đại, hành động này không còn cần thiết và đôi khi còn gây tác dụng ngược. Thay vì can thiệp liên tục, người dùng nên tận dụng các cơ chế tối ưu sẵn có của hệ điều hành để đạt hiệu quả sử dụng pin tốt hơn.
Nắng nóng kéo dài không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn khiến nhiều thiết bị điện tử rơi vào tình trạng quá tải. Trong đó, hiện tượng điện thoại nóng lên bất thường đang trở thành vấn đề phổ biến, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn nếu người dùng chủ quan.
Những ngày gần đây, không ít người phản ánh điện thoại trở nên nóng ran chỉ sau vài phút lướt mạng xã hội, xem video hoặc thực hiện các cuộc gọi trực tuyến. Dù đây đều là những tác vụ thông thường, thiết bị vẫn có thể nhanh chóng tăng nhiệt khi phải hoạt động trong môi trường nắng nóng kéo dài.
Chia sẻ xoay quanh vấn đề này với Lao Động, anh Ngọc Minh, kỹ thuật viên tại một cửa hàng điện thoại ở Hà Nội, cho hay, nhiệt độ môi trường cao kết hợp với việc sử dụng liên tục là nguyên nhân khiến điện thoại dễ rơi vào trạng thái quá nhiệt. Tình trạng này thường xuất hiện rõ hơn trên những thiết bị đã sử dụng nhiều năm hoặc có pin bị xuống cấp.
Pin là bộ phận chịu ảnh hưởng trực tiếp khi điện thoại thường xuyên hoạt động ở nhiệt độ cao. Nhiệt lượng tích tụ trong thời gian dài có thể đẩy nhanh quá trình lão hóa pin lithium-ion, dẫn đến hiện tượng chai pin, sụt nguồn nhanh, sạc chậm hoặc thậm chí phồng pin sau một thời gian sử dụng.
Không chỉ tác động đến tuổi thọ pin, nhiệt độ quá cao còn ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất vận hành của thiết bị. Để bảo vệ các linh kiện bên trong, điện thoại thường tự động giảm hiệu năng, khiến máy hoạt động chậm hơn, xuất hiện tình trạng giật lag, giảm độ sáng màn hình hoặc đóng ứng dụng đột ngột.
Đáng lo ngại hơn, nguy cơ mất an toàn có thể gia tăng nếu người dùng tiếp tục sử dụng điện thoại cường độ cao trong khi pin đã xuống cấp hoặc sử dụng bộ sạc, cáp sạc không đạt tiêu chuẩn chất lượng. Trong một số trường hợp, hiện tượng chập điện, cháy nổ hoàn toàn có thể xảy ra.
Thực tế, nhiều người vẫn duy trì những thói quen tiềm ẩn rủi ro như vừa sạc vừa chơi game, xem video trong thời gian dài hoặc để điện thoại trong ôtô dưới trời nắng. Đây đều là những tình huống khiến nhiệt độ thiết bị tăng nhanh, làm gia tăng nguy cơ hư hỏng linh kiện và suy giảm tuổi thọ pin.
Các nhà sản xuất điện thoại cũng liên tục khuyến cáo người dùng tránh để thiết bị tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời trong thời gian dài. Những vị trí như yên xe máy, bảng táp-lô ôtô hoặc khu vực gần cửa kính là nơi nhiệt độ có thể tăng rất cao, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thiết bị.
Người dùng cần đặc biệt lưu ý các dấu hiệu cảnh báo như điện thoại nóng bất thường dù chỉ sử dụng nhẹ, pin tụt nhanh, mặt lưng phồng lên hoặc xuất hiện mùi khét. Khi phát hiện những biểu hiện này, nên ngừng sạc ngay lập tức và đưa thiết bị đến cơ sở kỹ thuật để kiểm tra.
Tắt thiết bị để giảm nhiệt nhanh nhất
Cách hiệu quả nhất để hạ nhiệt điện thoại là tắt nguồn hoàn toàn. Khi đó, mọi ứng dụng và tiến trình nền đều ngừng hoạt động, giúp thiết bị không tiếp tục sinh nhiệt. Nhược điểm là người dùng không thể sử dụng máy trong thời gian này, nhưng đây là giải pháp làm mát nhanh và an toàn nhất. Khi nhiệt độ đã trở về mức bình thường, người dùng có thể bật lại thiết bị để tiếp tục sử dụng.
Tháo ốp lưng để tăng khả năng tản nhiệt
Ốp lưng, đặc biệt là loại dày hoặc làm từ nhựa, cao su, có thể giữ nhiệt và làm giảm khả năng tản nhiệt tự nhiên của máy. Một số màu tối còn khiến nhiệt bị hấp thụ nhiều hơn. Việc tháo ốp lưng giúp điện thoại "thở" tốt hơn, tăng lưu thông không khí và hỗ trợ làm mát nhanh chóng mà không cần thao tác phức tạp.
Đưa điện thoại đến nơi thoáng mát
Di chuyển thiết bị vào môi trường mát hơn như phòng điều hòa hoặc nơi có quạt gió sẽ giúp quá trình hạ nhiệt diễn ra hiệu quả hơn. Người dùng cũng có thể đặt máy trên bề mặt mát như kim loại hoặc gỗ để hỗ trợ tản nhiệt. Nếu đang ở trong ô tô, nên đặt điện thoại gần cửa gió điều hòa. Tuy nhiên, tuyệt đối không cho máy vào tủ lạnh hoặc ngăn đông vì sự thay đổi nhiệt độ đột ngột có thể gây ngưng tụ hơi nước và làm hỏng linh kiện bên trong.
Lưu ý trong quá trình làm mát, nên hạn chế sử dụng các tác vụ nặng như chơi game hay xem video, đồng thời rút sạc nếu đang cắm để tránh phát sinh thêm nhiệt. Các giải pháp "làm lạnh nhanh" bằng thiết bị chuyên dụng cũng không được khuyến khích vì có thể gây phản tác dụng.
Cuối tháng 6 vừa qua, Bộ NN-MT đã đưa vào hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản được xây dựng trên nền tảng dữ liệu dùng chung, phục vụ quản lý, sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi. Theo lãnh đạo Bộ NN-MT, truy xuất nguồn gốc là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh thị trường trong nước và quốc tế ngày càng coi trọng chất lượng, tính minh bạch, trách nhiệm chuỗi cung ứng và an toàn thực phẩm (ATTP). Vì vậy, việc chính thức đưa hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản vào hoạt động sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp (DN) và người sản xuất chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao giá trị sản phẩm; đồng thời tăng cường năng lực quản lý nhà nước trong giám sát, cảnh báo, truy xuất và xử lý khi phát sinh vấn đề về chất lượng, ATTP.
Đánh giá về công cụ truy xuất này, ông Cao Bá Đăng Khoa, Tổng thư ký Hiệp hội Dừa VN, khẳng định truy xuất nguồn gốc là nền tảng của mọi hoạt động phát triển nông nghiệp trong giai đoạn tới, không chỉ để đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu mà còn phục vụ công tác quản lý của ngành nông nghiệp. Việc Chính phủ đưa vào vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia là bước đi đầu tiên trong lộ trình xây dựng bản đồ nông nghiệp quốc gia do Bộ NN-MT triển khai. Bản đồ này sẽ bao quát toàn bộ lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản. Muốn xây dựng được hệ thống đó thì trước hết phải có dữ liệu truy xuất nguồn gốc.
"Ở góc độ thị trường, truy xuất nguồn gốc trước hết giúp tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng. Trước đây, phần lớn nông sản bán trên thị trường nội địa chưa có truy xuất nguồn gốc rõ ràng, trong khi những sản phẩm đạt tiêu chuẩn thường được ưu tiên xuất khẩu. Người tiêu dùng trong nước vì vậy khó biết chính xác sản phẩm mình mua được sản xuất ở đâu hay có đúng xuất xứ được giới thiệu hay không. Ví dụ như cùng một loại nông sản nhưng có thể được đưa từ địa phương này sang địa phương khác rồi gắn tên vùng trồng khác để bán. Điều này làm giảm tính minh bạch của thị trường. Khi có hệ thống truy xuất nguồn gốc, người tiêu dùng có thể xác định được chính xác xuất xứ sản phẩm, còn cơ quan quản lý cũng có thêm công cụ để quản lý vùng trồng trên phạm vi toàn quốc theo chủ trương Chính phủ đã đặt ra từ vài năm trước", ông Cao Bá Đăng Khoa nhận định.
Trả lời PV Thanh Niên, một đại diện Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP) cũng thừa nhận việc truy xuất nguồn gốc xuyên suốt và có khả năng kết nối đang trở thành nền tảng bắt buộc đối với ngành thủy sản. Trước áp lực ngày càng lớn từ nhà đầu tư, cơ quan quản lý và đối tác chuỗi cung ứng, DN buộc phải minh bạch và chứng minh nguồn gốc sản phẩm.
Ông Nguyễn Văn Mười, Phó tổng thư ký Hiệp hội Rau quả VN, nhận định việc Chính phủ đưa hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản quốc gia vào vận hành là bước đi cần thiết và lẽ ra phải được triển khai từ nhiều năm trước, bởi truy xuất nguồn gốc là yêu cầu đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp hiện đại. "Nếu không minh bạch được toàn bộ quá trình canh tác thông qua nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc thì rất khó chứng minh sản phẩm được sản xuất theo quy trình an toàn, sạch và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng. Việc đưa hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia vào vận hành sẽ tạo điều kiện để nông dân, hợp tác xã và DN chứng minh toàn bộ quá trình sản xuất một cách minh bạch. Khi chứng minh được quy trình sản xuất rõ ràng, các đối tác và khách hàng sẽ có thêm cơ sở để tin tưởng, từ đó yên tâm hơn trong quyết định mua hàng cũng như hợp tác lâu dài", ông Nguyễn Văn Mười nói.
Việc Bộ NN-MT chính thức đưa vào vận hành hệ thống truy xuất nông sản đã thể hiện quyết tâm nâng tầm mức độ quản lý chất lượng, bảo đảm ATTP, phát triển thị trường và nâng cao uy tín, giá trị nông sản VN. Đến nay, hệ thống đã tích hợp thông tin, dữ liệu truy xuất nguồn gốc của trên 18.500 sản phẩm thuộc 181 nhóm sản phẩm của 170 DN tại 24/34 tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, triển khai ở tất cả các ngành hàng, sản phẩm để phủ kín việc truy xuất đòi hỏi có thêm nhiều thời gian và nhiều giải pháp đồng bộ khác. Ông Nguyễn Văn Mười cho rằng công nghệ truy xuất nguồn gốc chỉ là công cụ hỗ trợ minh bạch thông tin chứ không thể tự nâng cao chất lượng nông sản. Yếu tố quyết định chất lượng vẫn là quy trình sản xuất.
"Nếu chỉ đưa công nghệ vào mà quy trình sản xuất chưa được chuẩn hóa thì việc truy xuất nguồn gốc cũng không thể làm thay đổi chất lượng nông sản. Điều quan trọng nhất hiện nay là phải giúp nông dân chuẩn hóa quy trình sản xuất, kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào và thực hiện đúng quy trình kỹ thuật. Khi đó, hệ thống truy xuất nguồn gốc mới phát huy đầy đủ giá trị", ông Nguyễn Văn Mười nhấn mạnh.
Đối với ngành khai thác biển, việc truy xuất nguồn gốc còn khó khăn hơn. Theo VASEP, trong khi các DN nuôi trồng, chế biến nỗ lực khép kín chuỗi sản xuất, xây dựng được thương hiệu và uy tín đối với khách hàng quốc tế thì thực trạng hiện nay trong việc khai thác biển vẫn còn nhiều khoảng trống khiến quá trình truy xuất gặp khó khăn. Đơn cử các sản phẩm như ruốc biển, ghẹ và một số nguồn lợi khai thác ven bờ có giá trị kinh tế, sinh kế và xuất khẩu, nhưng với hiện trạng tàu nhỏ, nghề nhỏ, chuỗi thu mua nhỏ lẻ thì vẫn có nguy cơ khó đáp ứng yêu cầu hồ sơ, truy xuất và chứng nhận xuất khẩu.
Lãnh đạo Bộ NN-MT cho biết sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng, DN và các đơn vị công nghệ để mở rộng phạm vi triển khai hệ thống; ưu tiên các nhóm sản phẩm nông, lâm, thủy sản chủ lực, sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm có yêu cầu cao về chất lượng, ATTP và minh bạch nguồn gốc. Song song đó, Bộ cũng sẽ tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ địa phương, DN, hợp tác xã và người dân tham gia cập nhật, khai thác, sử dụng hệ thống một cách hiệu quả, góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, minh bạch, bền vững và có sức cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.