Bộ GD-ĐT mới công bố dự thảo thông tư quy định về quản lý và sử dụng học bạ số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên.
Theo đó, dự thảo quy định mỗi người học được tạo lập một học bạ số duy nhất gắn với mã số hồ sơ học tập suốt đời. Dữ liệu dùng để tạo lập học bạ số phải được kiểm tra, đối chiếu, xác thực từ hồ sơ người học, dữ liệu định danh và dữ liệu quản lý giáo dục của cơ sở giáo dục.
Học bạ số được sử dụng chính thức sau khi hoàn thành việc kiểm tra, xác thực dữ liệu và ký số. Việc ký số được thực hiện bởi cá nhân có thẩm quyền và cơ sở giáo dục; bao gồm các bước hoàn thiện dữ liệu, kiểm tra, đối chiếu, xác nhận, ký số cá nhân, ký số của cơ sở giáo dục và cập nhật trạng thái ký số trên hệ thống.
Mỗi lần phát hành học bạ số, bản điện tử hoặc trích lục điện tử phải được ghi nhận trên hệ thống, bảo đảm có thể kiểm tra, xác thực và truy xuất nguồn gốc.
Theo dự thảo, học bạ số được sử dụng trong các hoạt động như chuyển trường, tuyển sinh, xác nhận kết quả học tập, rèn luyện, xét hoàn thành chương trình, xét lên lớp, cấp bản điện tử, trích lục, xác minh thông tin học tập, thực hiện thủ tục hành chính và phục vụ công tác quản lý giáo dục.
Dự thảo quy định người học được truy cập, tra cứu, khai thác học bạ số của bản thân; được yêu cầu cơ sở giáo dục kiểm tra, chỉnh sửa dữ liệu khi phát hiện sai sót; được sử dụng học bạ số hợp pháp trong các giao dịch, thủ tục hành chính và hoạt động khác theo quy định.
Cha mẹ hoặc người giám hộ của người học chưa thành niên được xem dữ liệu học bạ số của người học, theo dõi kết quả học tập, rèn luyện và đề nghị kiểm tra dữ liệu khi có căn cứ.
Dự thảo nêu rõ, dữ liệu học bạ số tại các cơ sở giáo dục phải được kết nối, đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo theo chuẩn dữ liệu, chuẩn kỹ thuật do Bộ GD-ĐT quy định; bảo đảm khả năng tích hợp, khai thác trên nền tảng số giáo dục quốc gia, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các hệ thống thông tin có liên quan khi đáp ứng điều kiện kết nối, xác thực, an toàn thông tin.
Việc khai thác, chia sẻ dữ liệu học bạ số phải đúng thẩm quyền, đúng mục đích, đúng đối tượng, chỉ trong phạm vi dữ liệu cần thiết; có xác thực, phân quyền, ghi nhận lịch sử chia sẻ và lịch sử khai thác.
Dữ liệu học bạ số phải được bảo mật trong toàn bộ quá trình tạo lập, cập nhật, lưu trữ, truyền nhận, khai thác, sử dụng và chia sẻ; nghiêm cấm các hành vi truy cập trái phép, sửa xóa hoặc làm sai lệch dữ liệu, tiết lộ, chia sẻ, mua bán, sử dụng trái phép dữ liệu học bạ số; giả mạo chữ ký số, mã xác thực, bản điện tử hoặc trích lục điện tử học bạ số.
Cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm tổ chức tạo lập, cập nhật, chuẩn hóa, kiểm tra, xác thực, ký số, phát hành, lưu trữ, khai thác và sử dụng học bạ số; bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời, an toàn và thống nhất với hồ sơ quản lý người học.
Nghiên cứu có tựa đề "Dietary Iron Intake and Risk of Gastric Cancer" với 13 tác giả. Trong đó, Phạm Hoàng Thanh, Nguyễn Trọng Tấn, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Nhị Bắc và Hoàng Huy Anh đến từ trường Đại học Y Hà Nội.
Bài báo được đăng trên tạp chí Cancer Epidemiology, Biomarkers & Prevention (Q1) với chỉ số ảnh hưởng IF 3.4 vào đầu tháng 2.
Điểm đắt giá của công trình nằm ở việc phát hiện mối liên hệ "dạng chữ U" giữa nguyên tố sắt và nguy cơ ung thư dạ dày, dựa trên khảo sát của nhóm và thầy hướng dẫn với gần 1.200 người mắc bệnh, khoảng 3.000 trường hợp đối chứng tại Việt Nam. Kết quả cho thấy nguy cơ mắc bệnh có thể tăng lên trong cả hai tình huống: khi cơ thể thiếu sắt và thừa sắt.
Để hoàn thiện bài báo, nhóm từ Việt Nam đóng vai trò chủ chốt từ việc tìm tài liệu, hình thành giả thuyết đến phân tích dữ liệu và viết bản thảo. Quá trình này có sự hỗ trợ xử lý các thuật toán thống kê phức tạp từ các bác sĩ người Việt tại Mỹ và khâu hiệu đính từ các cộng sự tại Nhật Bản.
Nguyễn Nhị Bắc, sinh viên năm thứ 6 ngành Y học dự phòng và là "chị cả" của nhóm, nhìn nhận thách thức lớn nhất là việc phối hợp giữa các thành viên. Với sự chênh lệch kiến thức của sinh viên từ năm 2 đến năm 6, nhóm phải nỗ lực tự học thêm về phương pháp nghiên cứu và dịch tễ học để có sự đồng đều nhất định. Ngoài ra, các sinh viên phải tranh thủ sắp xếp lịch họp, trong khi vẫn duy trì giờ học, thực hành dày đặc tại bệnh viện.
Nguyễn Trọng Tấn, sinh viên năm thứ ba, là thành viên nhỏ tuổi nhất nhóm, gia nhập dự án trước đó một năm. Phụ trách phân tích số liệu và tham gia viết phần thảo luận, nam sinh cho biết gặp nhiều khó khăn khi đề tài thiên về dịch tễ trong khi mình theo hướng lâm sàng.
"Khó nhất là phải qua được sự nghiêm khắc của thầy hướng dẫn", Tấn nhìn nhận, nói trưởng thành hơn nhờ sự dẫn dắt của giảng viên và anh, chị đi trước.
Theo Bắc, Tấn có khả năng đọc tài liệu tiếng Anh y khoa nhanh, xử lý dữ liệu tốt và nhiều lần giúp nhóm phát hiện lỗi. Việc sinh viên Y tham gia nghiên cứu khoa học từ năm hai như Tấn cũng là điều hiếm thấy.
Ngoài khâu nghiên cứu, để đăng trên các tạp chí quốc tế, nhóm phải trải qua quy trình xét duyệt khắt khe từ khâu hoàn thiện bản thảo, gửi bài đến phản biện. Do đó, nhóm cho rằng sinh viên nên bắt đầu làm nghiên cứu từ năm thứ nhất hoặc hai, vì lúc này khối lượng kiến thức chưa quá nặng. Đến năm thứ tư, việc học và đi viện rất bận, sinh viên khó theo đuổi nghiên cứu liên tục.
Ngoài ra, đây cũng là một cách để tiếp cận cơ hội nghiên cứu, kết nối với giảng viên và các đề tài thực tế.
Sự xuất hiện của một tân sinh viên U.60 tại Trường CĐ Kỹ thuật Công nghệ Quy Nhơn (Gia Lai) năm học 2025 - 2026 khiến nhiều người chú ý. Giữa lớp học phần lớn là sinh viên gen Z, ông Tín cần mẫn ngồi vào bàn học, bắt đầu lại từ những bài giảng đầu tiên, với cây đàn và những trang vở mới.
Quyết định trở lại giảng đường của ông không phải là một cuộc "dạo chơi tuổi già", mà là sự tiếp nối hành trình đã âm ỉ từ rất lâu.
Trong 33 năm làm giáo dục, dấu ấn sâu sắc nhất của ông là 14 năm gắn bó với Trường chuyên biệt Hy vọng Quy Nhơn, nơi nuôi dạy trẻ khuyết tật. Khi ông nhận nhiệm vụ hiệu trưởng, ngôi trường mới thành lập, gần như khởi đầu từ con số không. Học sinh (HS) là những em nhỏ mang khiếm khuyết về vận động, ngôn ngữ; có em khiếm thính, tự kỷ nặng. Trong khi đó, đội ngũ giáo viên chưa có chuyên môn chăm sóc trẻ khuyết tật. Việc giảng dạy học vốn đã khó, việc xây dựng nền nếp lại càng gian nan. Ông nhớ lại có những buổi học, HS rơi vào trạng thái hoảng loạn. Thậm chí, có em bỏ chạy khỏi trường, thầy cô phải chia nhau tìm kiếm suốt đêm dọc bãi biển mới đưa được học trò trở về an toàn.
Là hiệu trưởng, ông không chỉ điều hành mà còn trực tiếp đứng lớp, cùng giáo viên kiên nhẫn dìu dắt HS từ những kỹ năng nhỏ nhất. Chính trong những ngày tháng ấy, ông nhận ra sức mạnh đặc biệt của âm nhạc. Những giai điệu nhẹ nhàng có thể xoa dịu tâm trạng, giúp các em bình tĩnh hơn, giảm căng thẳng và dần mở ra cánh cửa giao tiếp.
Rời Trường chuyên biệt Hy vọng Quy Nhơn, ông về công tác tại Sở GD-ĐT tỉnh Bình Định (nay sáp nhập thành tỉnh Gia Lai), giữ chức phó chánh văn phòng. Năm 2025, khi nghỉ hưu, ông đưa ra một quyết định bất ngờ: đi học lại. Dù đã sở hữu 4 bằng đại học và 1 bằng thạc sĩ, ông Tín cho rằng những tấm bằng trước phục vụ công việc, còn lần này là dành cho đam mê.
Sự xuất hiện của ông Tín nhanh chóng trở thành điểm nhấn đặc biệt trong lớp học. Khoảng cách tuổi tác dường như được xóa nhòa bởi sự điềm đạm, gần gũi và tinh thần học tập nghiêm túc. Ông không chỉ học cho riêng mình mà còn truyền cảm hứng cho các bạn trẻ về ý nghĩa của việc học suốt đời.
Ban đầu, quyết định đi học khiến gia đình ông không khỏi lo lắng, nhất là khi vợ mong ông nghỉ ngơi sau nhiều năm cống hiến. Nhưng rồi chính niềm say mê của ông đã tạo nên một "hiệu ứng ngược" đầy tích cực: người con trai, dù đã tốt nghiệp đại học và đi làm, cũng quyết định quay lại giảng đường để tiếp tục học tập. Hình ảnh hai cha con cùng là sinh viên trở thành câu chuyện đẹp về tinh thần hiếu học ngay trong một gia đình.
Phía sau hành trình ấy là một dự định dài hơi. Ông Tín ấp ủ sau khi tốt nghiệp sẽ mở lớp dạy nhạc cho trẻ khuyết tật. Với kinh nghiệm nhiều năm trong giáo dục chuyên biệt, ông nhận thấy nhiều em sau cấp tiểu học thiếu môi trường để tiếp tục phát triển năng khiếu. Ông mong muốn tạo ra một không gian nơi âm nhạc không chỉ là môn học, mà còn là liệu pháp chữa lành, giúp các em tự tin hơn trong cuộc sống.
Ông Phạm Văn Tường, Hiệu trưởng Trường CĐ Kỹ thuật Công nghệ Quy Nhơn, chia sẻ: "Hành trình của ông Tín là minh chứng rõ ràng cho việc không bao giờ là quá muộn để bắt đầu. Ở tuổi nghỉ hưu, ông vẫn chọn học tập, có thể xem là tấm gương điển hình về tinh thần học suốt đời. Không chỉ đam mê, ông còn học tốt, tích cực tham gia các kỳ thi kỹ năng nghề và hoạt động phong trào, biểu diễn của trường".
Hội nghị diễn ra trực tiếp tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng (TP.HCM) cùng hơn 400 điểm cầu trực tuyến từ các trường ĐH trong cả nước.
Tham dự hội nghị, đại diện lãnh đạo và cán bộ phụ trách tuyển sinh của nhiều cơ sở đào tạo ĐH đã có nhiều ý kiến thắc mắc, góp ý cho công tác tuyển sinh trong năm nay.
GS-TS-BS Nguyễn Vũ Quốc Huy, Hiệu trưởng Trường ĐH Y dược (ĐH Huế), đề xuất nên có chiến lược, khung tuyển sinh ĐH và CĐ sư phạm cho một giai đoạn công bố cho xã hội để tránh những điều chỉnh từ năm này qua năm khác. "Năm ngoái chúng ta cũng trao đổi rất nhiều về những điều chỉnh tuyển sinh, năm nay các dự thảo so với các văn bản vừa ban hành cũng có sự khác biệt. Điều này dẫn đến sự bối rối của phụ huynh và học sinh (HS), không chỉ với HS lớp 12 mà với HS lớp 9, lớp 10", GS Huy nhấn mạnh.
GS-TS-BS Nguyễn Vũ Quốc Huy phân tích thêm: "Chúng tôi nêu lên những điều này vì đó là một sự thật mà các em HS đều quan tâm. Ví dụ việc cộng điểm với thí sinh (TS) có chứng chỉ ngoại ngữ, mỗi năm có mức riêng và thay đổi qua từng năm là điều dễ hiểu. Nhưng sự thay đổi lớn quá từ 3 điểm xuống còn 2 điểm hay 1,5 điểm thì phụ huynh sẽ hiểu và diễn giải như thế nào, nhất là phụ huynh chuẩn bị cho con em trong tương lai sẽ tham gia kỳ thi này ra sao? Nếu chúng ta đặt mình vào vị trí của từng phụ huynh, từng HS thì sẽ hiểu được những khó khăn, bối rối của họ".
Từ đó, GS Huy cho rằng: "Các chính sách tuyển sinh nên có tính ổn định và tính dự báo. Những khuyến cáo, định hướng đưa ra cho HS lớp 9 chuẩn bị vào lớp 10 năm nay để các em có sự chuẩn bị trong vòng 3 năm. Điều này nhằm đảm bảo công bằng xã hội và đảm bảo tính giải trình xã hội. Về lâu về dài, ít nhất trong chu kỳ từ 3 - 5 năm cần có định hướng ổn định. Thực tế chứng minh cách làm trong những năm vừa qua là ổn định và xã hội chấp nhận được, thì nên giữ vững tính ổn định đó".
Về vấn đề này, GS-TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), cho rằng hoạt động tuyển sinh nhìn tổng thể là sự kế thừa và cố gắng ổn định từ nay đến năm 2030. Một số quy định mới được ban hành là văn bản dưới luật khi có các luật mới. Một số điều chỉnh là cần thiết, ví dụ chính sách ưu tiên TS có chứng chỉ ngoại ngữ. Năm trước, TS có chứng chỉ ngoại ngữ vừa được cộng điểm vừa được quy đổi, mỗi trường quy đổi theo cách khác nhau, gây ra những bất cập. Năm nay, Bộ quy định công thức quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ cần có sự thống nhất theo 5 mức và giữ ổn định trong thời gian ít nhất 2 năm. Bộ muốn quy định này giữ ổn định trong 5 năm nhưng sau thời gian thực hiện nếu xảy ra bất cập, có thể tiếp tục điều chỉnh để phù hợp hơn sau đó.
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Lê Quân cũng khẳng định quy chế tuyển sinh năm 2026 cơ bản theo hướng ổn định. Bộ GD-ĐT đã tính toán để giữ định hướng đến năm 2030, đồng thời từng bước tăng quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo. Những điều chỉnh năm nay chủ yếu mang tính kỹ thuật như giới hạn số lượng nguyện vọng còn 15, chuẩn hóa cách quy đổi điểm giữa các phương thức xét tuyển... Còn việc quy đổi điểm, Thứ trưởng Lê Quân cho rằng Bộ chỉ ở vai trò hướng dẫn, còn các trường phải dựa trên dữ liệu thực chứng.
Bên cạnh đó, một số cơ sở đào tạo cũng ý kiến cần có hướng dẫn về cách thức quy đổi điểm giữa các phương thức xét tuyển, quy đổi điểm chứng chỉ ngoại ngữ…
Liên quan đến chứng chỉ ngoại ngữ, tiến sĩ Lê Văn Tường Lân, Trưởng ban Đào tạo và công tác sinh viên ĐH Huế, đặt vấn đề: Bộ đã có quy định về chính sách ưu tiên với TS có chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh, tuy nhiên thực tế cho thấy có TS dùng 2 loại chứng chỉ tiếng Anh khác nhau (IELTS và V-STEP) khi tham gia xét tuyển, 1 chứng chỉ cộng điểm và 1 chứng chỉ quy đổi, thì có được không?
Giải đáp băn khoăn này, GS Nguyễn Tiến Thảo khẳng định, TS chỉ có thể áp dụng điều kiện vừa cộng điểm vừa quy đổi điểm nếu có 2 chứng chỉ của 2 ngoại ngữ khác nhau. Với TS có 2 chứng chỉ cùng một ngoại ngữ, như bảng quy đổi các trường ĐH đã công bố và trong quy chế cũng đã thể hiện, TS chỉ được quyền lựa chọn chứng chỉ có mức ưu tiên cao nhất. Điều này theo ông Thảo là cần thiết để tránh tình trạng TS thi nhiều loại chứng chỉ khác nhau trong cùng một ngoại ngữ không cần thiết.
Liên quan vấn đề trên, từ nhóm xét tuyển miền Bắc, đại diện ĐH Bách khoa Hà Nội đặt câu hỏi: "Năm ngoái có tình trạng TS tự cung cấp minh chứng chứng chỉ ngoại ngữ lên hệ thống xét tuyển từ tài khoản TS, không nộp về trường theo quy định của cơ sở đào tạo. Điều này dẫn đến việc nhiều TS cung cấp minh chứng không đúng quy định, gây khó khăn cho công tác xét tuyển. Vậy năm nay Bộ có chủ trương cho phép TS thực hiện thao tác này không, nếu có thì trong giai đoạn nào?".
Đại diện ĐH Bách khoa Hà Nội cũng bày tỏ băn khoăn liên quan đến tiêu chí phụ trong xét tuyển. Theo đó, lâu nay trong quy chế tuyển sinh chỉ có một tiêu chí phụ mặc định là thứ tự nguyện vọng, các tiêu chí phụ khác phù hợp với chương trình đào tạo là do các cơ sở đào tạo quy định. Tuy nhiên, nguyên tắc xét tuyển năm nay có quy định mới liên quan đến tiêu chí phụ bắt buộc. Cụ thể, nguyên tắc xét chọn bình đẳng theo từng phương thức, tổ hợp xét tuyển, không phụ thuộc thứ tự ưu tiên của nguyện vọng đăng ký trừ 2 trường hợp. Thứ nhất là cùng điểm xét ở cuối danh sách, thứ tự xét ưu tiên đối với các TS có điểm cộng thấp hơn. Thứ hai là cùng điểm xét ở cuối danh sách, điểm cộng bằng nhau, ưu tiên nguyện vọng cao hơn.
Với quy định này, đại diện ĐH Bách khoa Hà Nội băn khoăn: "Điểm cộng này có tính điểm ưu tiên không?". Ngoài ra, đại diện ĐH này đề xuất nên chăng không áp dụng tiêu chí phụ bắt buộc mà để các trường lựa chọn tiêu chí phù hợp để tuyển lựa TS cùng mức điểm theo mong muốn.