Quỹ bảo lãnh tín dụng đầu tư (CGIF), quỹ tín thác của Ngân hàng Phát triển châu Á, đã bảo lãnh đợt phát hành trái phiếu đầu tiên của Công ty Cổ phần Đầu tư SCommerce – trái phiếu có lãi suất cố định trả dần kỳ hạn 7 năm trị giá 580 tỉ đồng (tương đương 22,3 triệu USD). Trái phiếu được phát hành với lãi suất coupon 6,70%/năm. Giao dịch này đánh dấu trái phiếu được CGIF bảo lãnh trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam, đồng thời là lần phát hành trái phiếu đầu tiên của SCommerce – một cột mốc quan trọng trong chiến lược tài chính của công ty. Kỳ hạn 7 năm cung cấp cho SCommerce nguồn vốn ổn định, dài hạn, phù hợp hơn với dòng tiền dự án trong khi vẫn duy trì thanh khoản cho nhu cầu vốn lưu động.
Nguồn vốn từ trái phiếu sẽ được dùng để xây dựng một trung tâm phân loại hàng hóa tại khu vực phía Nam Việt Nam, mở rộng cơ sở hạ tầng logistics của SCommerce và hỗ trợ ngành thương mại điện tử và kinh tế số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại Việt Nam. Maybank Investment Bank (“Maybank”) đóng vai trò là Đơn vị thu xếp duy nhất cho giao dịch này.
Là một tổ chức đa phương tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, CGIF tiến hành thẩm định kỹ lưỡng đối với các tổ chức phát hành tiềm năng – bao gồm đánh giá tài chính, rà soát quản trị doanh nghiệp và kiểm toán Môi trường, Xã hội và Quản trị (ESG) nhiều vòng theo khung Tiêu chuẩn thực hiện của ADB, bao gồm điều kiện lao động, quản lý rủi ro môi trường, hiệu quả sử dụng tài nguyên và sức khỏe – an toàn cộng đồng.
Đối với một công ty logistics hoạt động với quy mô như SCommerce, với hàng nghìn nhân viên kho bãi, hàng chục nghìn nhân viên giao hàng trên toàn quốc, và mạng lưới trải rộng hơn 1.000 bưu cục và hơn 100 kho hàng tại 34 tỉnh thành – việc đáp ứng các tiêu chuẩn này đặt ra những thách thức mà hầu hết các doanh nghiệp logistics tại Việt Nam chưa từng phải đối mặt. Mô hình lao động phân tán, kết hợp giữa nhân viên chính thức, nhà thầu và lao động thời vụ, đòi hỏi các tiêu chuẩn an toàn lao động ở mọi cấp độ phải được áp dụng nhất quán. Chuỗi vận hành trải dài trên khắp các khu vực địa lý yêu cầu việc quản lý rủi ro không còn giới hạn trong phạm vi nội bộ công ty mà mở rộng đến hàng trăm đối tác và nhà thầu phụ. Lực lượng lao động hoạt động hàng ngày tại các trung tâm phân loại và trên đường phố đòi hỏi cơ chế khiếu nại minh bạch, dễ tiếp cận và được giám sát độc lập .
SCommerce đã triển khai một nỗ lực có hệ thống, kéo dài nhiều năm để giải quyết từng thách thức này, xây dựng Hệ thống Quản lý môi trường và xã hội (ESMS) toàn diện với tám khung quản trị liên kết chặt chẽ: từ cam kết chính sách và nhận diện rủi ro, đến xây dựng năng lực tổ chức, quy trình ứng phó khẩn cấp, tham vấn các bên liên quan, và cơ chế khiếu nại minh bạch dành cho cả người lao động lẫn cộng đồng xung quanh các cơ sở vận hành. Mỗi khung không chỉ được xây dựng như một bài tập tuân thủ, mà còn như một hệ thống chặt chẽ với các chỉ số đo lường được, trách nhiệm được xác định rõ ràng và được ban lãnh đạo đánh giá hàng năm. Kết quả là một bộ hồ sơ tuân thủ toàn diện, thể hiện không chỉ cam kết mà còn cả năng lực vận hành, đây là yếu tố then chốt để một tổ chức như CGIF quyết định có cấp bảo lãnh hay không.
Bà Noriko Nasu, Giám đốc Điều hành của CGIF, phát biểu: “Chúng tôi vui mừng được hỗ trợ đợt phát hành trái phiếu đầu tiên của SCommerce, đánh dấu trái phiếu được CGIF bảo lãnh đầu tiên trong lĩnh vực logistics tại Việt Nam. Giao dịch này cho phép SCommerce – một tổ chức phát hành lần đầu – tiếp cận nguồn tài chính dài hạn bằng đồng nội tệ với kỳ hạn 7 năm, phù hợp với dòng tiền của dự án đầu tư trung tâm phân loại. Đợt phát hành nhấn mạnh cam kết liên tục của CGIF trong việc thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân tại Việt Nam, mở rộng đa dạng ngành nghề trên thị trường trái phiếu nội tệ, và giúp các tổ chức phát hành lần đầu tiếp cận nguồn vốn dài hạn hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng chiến lược của họ.”
Nguồn vốn từ trái phiếu sẽ tài trợ cho việc xây dựng một trung tâm phân loại hiện đại tại Tân Kim, tỉnh Tây Ninh – một trung tâm trọng yếu nằm ở cửa ngõ khu vực phía nam Việt Nam, với lễ khởi công dự kiến vào tháng 8 năm 2026. Trung tâm phân loại này sẽ đóng vai trò là điểm neo phía Nam trong mạng lưới logistics toàn quốc của SCommerce, mở rộng đáng kể năng lực vận hành để đáp ứng nhu cầu của nền thương mại điện tử và kinh tế số đang tăng trưởng nhanh chóng của Việt Nam.
Khoản đầu tư này tiếp nối thành công của GHN Express trong việc đưa vào vận hành một trung tâm phân loại tự động quy mô lớn tại tỉnh Hưng Yên vào đầu năm 2026, thiết lập tiêu chuẩn mới về công nghệ logistics tại miền Bắc Việt Nam. Trung tâm phân loại Tân Kim mang cùng trình độ tự động hóa tiên tiến và xuất sắc vận hành vào khu vực phía nam hoàn thiện một hành lang logistics năng lực cao trải dài khắp đất nước, định vị SCommerce là lớp hạ tầng không thể thiếu của nền kinh tế số Việt Nam.
Ông Lương Duy Hoài, Tổng giám đốc SCommerce, phát biểu: “Đợt phát hành trái phiếu này đánh dấu một cột mốc quan trọng trong hành trình tăng trưởng của SCommerce. Với sự bảo lãnh của CGIF, chúng tôi có thể tiếp cận nguồn tài chính dài hạn bằng đồng nội tệ, không chỉ tối ưu hóa cấu trúc vốn mà còn đặt nền tảng vững chắc cho đầu tư sâu hơn vào cơ sở hạ tầng logistics. Trung tâm phân loại Tân Kim tại khu vực phía nam là sự phản ánh cụ thể tầm nhìn của SCommerce: xây dựng một hệ sinh thái logistics công nghệ cao có khả năng theo kịp tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử của Việt Nam trong thập kỷ tới”.
Bên cạnh giao dịch này, SCommerce công bố việc tái định vị thương hiệu chiến lược toàn diện cho mảng logistics B2B thành Giao Hàng Nặng, phục vụ khách hàng doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp, với toàn bộ dịch vụ và đầu tư công nghệ tập trung vào vận chuyển hàng nặng B2B.
Về mặt vận hành, Giao Hàng Nặng đã đạt tỷ lệ hàng hư hỏng dưới 1% và tỷ lệ giao hàng đúng hạn trên 98%, được hậu thuẫn bởi hệ thống giám sát kho hàng bằng AI trên toàn bộ mạng lưới cơ sở. Định tuyến đội xe và điều phối được quản lý thông qua các công cụ tối ưu hóa độc quyền được xây dựng riêng cho điều kiện đường bộ và môi trường pháp lý của Việt Nam – cung cấp độ chính xác lập kế hoạch mà các giải pháp thông thường không thể đáp ứng ở quy mô lớn. Tài xế được trang bị hệ thống dẫn đường chặng cuối do nội bộ xây dựng, được thiết kế sát với thực tế đường phố và hạ tầng đô thị tại Việt Nam, trong khi nền tảng thông minh vận hành được hỗ trợ bởi AI cung cấp cho mọi thành viên trong nhóm quyền truy cập tức thời vào dữ liệu thời gian thực trên toàn chuỗi logistics.
Ngày 13.5, Tập đoàn Masan công bố công ty con mà Masan sở hữu 100% vốn đã hoàn tất việc bán gần 22 triệu cổ phiếu, tương đương 2% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của Công ty CP Masan High-Tech Materials (mã chứng khoán MSR), thông qua các giao dịch trên hệ thống UPCoM theo đúng quy định hiện hành. Sau giao dịch, tỷ lệ sở hữu của Tập đoàn MSN tại MSR giảm từ khoảng 94,89% xuống 92,89%, đồng thời tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng (free float) của MSR tăng lên 7,11%.
Việc chuyển nhượng thành công 2% cổ phần MSR trong bối cảnh nhu cầu đăng ký mua vượt số lượng chào bán, qua đó giúp duy trì điều kiện công ty đại chúng, gia tăng tỷ lệ free float, cải thiện thanh khoản để chuẩn bị cho kế hoạch chuyển niêm yết của MSR từ UPCoM sang HOSE vào năm 2027. Cán bộ nhân viên Masan tham gia với cam kết hạn chế chuyển nhượng trong 3 tháng.
Ông Danny Le, Tổng giám đốc Tập đoàn Masan chia sẻ: Khoáng sản chiến lược không còn là câu chuyện của ngành khai khoáng, đó là câu chuyện của an ninh quốc gia và cuộc đua công nghệ toàn cầu. MSR không đơn thuần là công ty khai thác vonfram. MSR kiến tạo nền tảng vật liệu vonfram khan hiếm, đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng chip AI, quốc phòng và các ngành công nghiệp chế tạo công nghệ cao. Tài nguyên vonfram hữu hạn. Nhu cầu không giới hạn. Đó là lý do MSR là tài sản cốt lõi, mang tầm vóc toàn cầu, không thể thay thế và giá trị của nó sẽ tăng theo thời gian, tạo ra dòng tiền mạnh, bền vững, dài hạn.
Theo công bố ngày 1.4, Masan dự kiến bán tối đa 5% số cổ phiếu đang lưu hành của MSR, tương đương gần 55 triệu cổ phiếu trong vòng 12 tháng. Giao dịch này đánh dấu bước khởi đầu trong lộ trình gia tăng giá trị của MSR. Các đợt bán cổ phần tiếp theo có thể mở rộng sang nhà đầu tư chiến lược, tổ chức và nhà đầu tư cá nhân, trong bối cảnh nhu cầu đối với MSR ngày càng gia tăng khi doanh nghiệp sở hữu một trong số rất ít nền tảng vonfram quy mô lớn ngoài Trung Quốc.
Trong quý 1/2026, MSR ghi nhận doanh thu thuần đạt 2.993 tỉ đồng, tăng 114,9% so với cùng kỳ năm trước và lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số đạt mức kỷ lục 537 tỉ đồng. Lợi nhuận quý 2/2026 được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng, đưa MSR tiến gần hơn tới khả năng hoàn thành hoặc vượt kế hoạch năm 2026 với doanh thu 20.300 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số đạt 2.500 tỉ đồng.
Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam vừa có công văn gửi Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng kiến nghị nhiều nội dung liên quan tới nguồn vàng nguyên liệu.
Một trong số đó là kiến nghị ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về cơ chế, cách thức huy động, thu mua nguồn vàng trong dân làm nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, chế tác vàng trang sức, mỹ nghệ.
Trong đó, cho phép các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vàng trang sức được vay vàng trong dân với lãi suất thỏa thuận phù hợp với pháp luật dân sự để sản xuất vàng trang sức mỹ nghệ.
Không đồng tình với đề xuất trên, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, về bản chất, cho phép doanh nghiệp vay vàng trực tiếp từ người dân với lãi suất thỏa thuận chính là mở lại kênh tín dụng bằng vàng dưới một hình thức khác, lợi bất cập hại.
Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro vĩ mô như: rủi ro hệ thống, làm suy yếu vai trò của tiền đồng; hình thành một thị trường tín dụng ngầm bằng vàng rất khó kiểm soát. Nhà nước không thể giám sát quy mô, dòng tiền, mức độ rủi ro.
"Doanh nghiệp vay vàng nhưng doanh thu lại bằng tiền đồng. Khi giá vàng biến động mạnh, doanh nghiệp không chỉ chịu rủi ro kinh doanh mà còn gánh thêm rủi ro tài chính. Nếu mất khả năng trả nợ, thiệt hại sẽ chuyển sang phía người dân.
Đáng chú ý, khi vàng trở thành công cụ sinh lãi, người dân có xu hướng nắm giữ vàng thay vì gửi tiết kiệm bằng tiền. Điều này đi ngược nỗ lực củng cố niềm tin vào tiền đồng của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân lý giải.
Vị chuyên gia nhấn mạnh, trước kia, Việt Nam từng trải qua giai đoạn "vàng hóa" nền kinh tế rất nặng nề. Khi đó, hệ thống ngân hàng huy động vàng, cho vay vàng. Doanh nghiệp vay vàng để kinh doanh, trong khi người dân coi vàng như phương tiện thanh toán song song với tiền.
Điều này gây nhiều hệ quả như: chính sách tiền tệ bị suy yếu, tỷ giá chịu áp lực lớn... Năm 2012, Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng ra đời với mục tiêu chính là chấm dứt tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế, đưa vàng ra khỏi lưu thông tín dụng. Không có lý gì hiện tại lại cho phép tái diễn.
"Vấn đề cốt lõi hiện nay không phải là tạo điều kiện để doanh nghiệp vay vàng trong dân mà là tìm cách chuyển hóa nguồn vàng trong dân thành nguồn lực cho nền kinh tế một cách an toàn, thông qua hệ thống tài chính chính thức, dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước", ông Nhân nói.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường ĐH Nguyễn Trãi), nhìn nhận, đề xuất cho phép doanh nghiệp vay vàng từ người dân để phục vụ sản xuất vàng trang sức nếu hiện thực hóa sẽ giúp giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu và cung cấp nguyên liệu ổn định cho ngành chế tác.
Tuy nhiên, vấn đề lãi suất vay thỏa thuận có thể dẫn đến các rủi ro về pháp lý, tài chính nếu không được giám sát chặt chẽ.
"Khi doanh nghiệp gặp phải vấn đề tài chính hoặc rủi ro kinh doanh, việc không thể hoàn trả vàng vay có thể dẫn đến người dân không thu hồi được tài sản.
Ngoài ra, khi doanh nghiệp gặp vấn đề về nhân sự hoặc hoạt động kinh doanh không ổn định, thu hồi vàng vay từ doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn, tạo ra sự mất cân bằng trong các giao dịch", ông Huy phân tích.
Đánh giá kiến nghị huy động vàng trong dân để làm nguyên liệu sản xuất trang sức hợp lý về mặt lý thuyết, song chuyên gia vàng Trần Duy Phương nhấn mạnh, điều này rất khó hiện thực hóa.
Vàng trong dân tồn tại dưới nhiều dạng như vàng miếng, vàng nhẫn, vàng trang sức. Việc kiểm định chất lượng vàng không hề đơn giản. Hiện nay, trừ vàng miếng có thương hiệu, phần lớn vàng nhẫn, vàng trang sức trên thị trường không đồng nhất về tiêu chuẩn.
"Doanh nghiệp sẽ huy động loại vàng nào, có chấp nhận tất cả. Người dân cho vay vàng miếng, vàng nhẫn... khi nhận lại sẽ nhận vàng dưới hình thức ra sao... Tất cả đều không đơn giản", ông Phương nêu vấn đề.
Băn khoăn quan trọng khác được ông Phương đề cập là rủi ro lớn về cân đối trạng thái của doanh nghiệp kinh doanh vàng. Giả sử, doanh nghiệp huy động vàng ở vùng giá 170 - 175 triệu đồng/lượng, song đến khi đáo hạn, giá đã tăng lên 200 triệu đồng/lượng. Khi đó, việc cân đối nguồn để trả nợ trở nên rất khó khăn.
Nghị quyết này quy định thí điểm một số chính sách trong triển khai lộ trình sử dụng xăng E10 bao gồm: thuê dịch vụ thử nghiệm để kiểm tra chất lượng xăng dầu; xác định xăng E10 RON95 mức 3 (E10RON95-III) là mặt hàng xăng sinh học tiêu dùng phổ biến do nhà nước công bố giá; xác định các yếu tố hình thành giá xăng E10 RON95-III; xử lý lượng xăng không chì còn tồn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Cụ thể, Nghị quyết quy định thương nhân đầu mối sản xuất xăng dầu và thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu thực hiện pha chế xăng dầu được thuê dịch vụ thử nghiệm từ các tổ chức thử nghiệm được chỉ định theo quy định của pháp luật để kiểm tra chất lượng xăng dầu theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Hợp đồng thuê dịch vụ thử nghiệm với tổ chức thử nghiệm được chỉ định theo quy định của pháp luật có giá trị thay cho tài liệu thuyết minh về năng lực phòng thử nghiệm hiện có tại cơ sở pha chế.
Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành (16.6.2026 - 15.6.2028), xăng E10 RON95-III được thí điểm xác định là mặt hàng tiêu dùng phổ biến, do Nhà nước công bố giá cơ sở thay thế xăng RON95-III. Bộ Công thương, Bộ Tài chính xác định các yếu tố cấu thành trong công thức giá cơ sở xăng dầu và công bố giá cơ sở đối với xăng E10 RON95-III.
Nghị quyết nêu, đối với lượng xăng không chì thành phẩm còn tồn trước ngày 1.6.2026, khuyến khích thương nhân kinh doanh xăng dầu mua, bán, chuyển giao giữa các thương nhân để phục vụ cho hoạt động pha chế xăng dầu và phải hoàn thành trước ngày 31.7.2026.
Thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu chịu trách nhiệm trước pháp luật về số lượng xăng không chì mua, bán, chuyển giao quy định ở trên, báo cáo Bộ Công thương trước ngày 15.8.2026 để theo dõi.
Thương nhân phân phối xăng dầu, thương nhân nhận quyền bán lẻ xăng dầu, đại lý bán lẻ xăng dầu, chịu trách nhiệm trước pháp luật về số lượng xăng không chì mua, bán, chuyển giao quy định ở trên, báo cáo sở công thương trên địa bàn thương nhân kinh doanh và đặt trụ sở chính trước ngày 15.8.2026 để theo dõi.
Chính phủ giao Bộ Công thương trong quá trình triển khai thực hiện lộ trình sử dụng xăng E10, căn cứ tình hình thực tế về kinh tế, xã hội, kỹ thuật, công nghệ, cung, cầu, giá cả và những biến động khác có liên quan, chủ trì phối hợp với các bộ, ngành báo cáo Chính phủ xem xét điều chỉnh các nội dung tại Nghị quyết này.
Đồng thời, Bộ Công thương cũng chủ trì điều phối nguồn cung etanol và xăng nền để pha chế, phối trộn xăng E10; phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ kiểm tra, giám sát lộ trình pha chế, phối trộn, kinh doanh xăng E10 và chất lượng xăng E10; rà soát, hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy chuẩn về xây dựng, cải tạo hạ tầng kho chứa, trạm phối trộn xăng sinh học đảm bảo an toàn và đúng quy định.
Bộ Khoa học và Công nghệ tăng cường kiểm tra, kiểm soát, giám sát việc thực hiện các quy định quản lý về đo lường, chất lượng xăng E10 trong sản xuất, pha chế, nhập khẩu và lưu thông trên thị trường.
Bộ Tài chính nghiên cứu đề xuất điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường cụ thể cho các mặt hàng xăng sinh học nhằm khuyến khích người dùng xăng sinh học (nếu cần thiết).
Bộ Xây dựng phối hợp với Bộ Công thương rà soát, hướng dẫn các tiêu chuẩn, quy chuẩn về xây dựng, cải tạo hạ tầng kho chứa, trạm phối trộn xăng sinh học đảm bảo an toàn và đúng quy định.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, đề xuất cơ chế phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học. Đánh giá và công bố các chỉ số về giảm phát thải khi sử dụng xăng sinh học để phục vụ công tác truyền thông.
Ngoài ra, Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ quan chuyên môn tại địa phương hỗ trợ doanh nghiệp trong việc xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp hạ tầng lưu chứa, phân phối xăng E10; tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng xăng E5, E10 lưu thông trên địa bàn quản lý.