Ngày 29-5, tại kỳ họp thứ 3 Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai khóa XIII, các đại biểu đã biểu quyết thông qua chính sách thu hút và ưu đãi đối với bác sĩ, dược sĩ trên địa bàn tỉnh.
Theo chính sách mới của tỉnh Gia Lai, bác sĩ, dược sĩ đáp ứng các điều kiện cụ thể theo quy định sẽ được hưởng mức hỗ trợ một lần cao nhất lên tới 550 – 650 triệu đồng nếu có học vị tiến sĩ, học hàm phó giáo sư, giáo sư.
Đối với bác sĩ chuyên khoa cấp 2, dược sĩ chuyên khoa cấp 2, mức hỗ trợ một lần khi về tỉnh công tác từ 350 – 450 triệu đồng.
Với nhóm thạc sĩ, bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa cấp 1, dược sĩ chuyên khoa cấp 1, mức hỗ trợ từ 250 – 350 triệu đồng.
Còn nhóm bác sĩ, dược sĩ tốt nghiệp hệ chính quy, mức hỗ trợ một lần từ 100 – 250 triệu đồng tùy theo xếp hạng kết quả đào tạo khi ra trường.
Ngoài ra, mức hỗ trợ cụ thể cho từng trường hợp (ngoại trừ nhóm tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư) được xếp theo các nhóm 1, 2, 3 tương ứng với phân nhóm các cơ quan, đơn vị quản lý nhà nước về y tế, cơ sở y tế, cơ sở đào tạo và đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế của tỉnh.
Trong đó, nhóm 1 được hưởng mức ưu đãi cao nhất là cơ sở y tế điều trị bệnh đặc thù như lao phổi, tâm thần; đơn vị sự nghiệp bảo trợ xã hội; trung tâm pháp y; các trung tâm y tế, trạm y tế đóng tại địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, xã đảo, xã biên giới.
Nhóm 2 là khối văn phòng Sở Y tế, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, Chi cục Dân số; Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng Quy Nhơn, Pleiku; Bệnh viện 331; các trung tâm kiểm soát bệnh tật, kiểm nghiệm thuốc, giám định y khoa; các trung tâm y tế khu vực, các trạm y tế không thuộc vùng núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhóm 3 được hưởng ưu đãi mức thấp nhất là các bệnh viện tuyến tỉnh như Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh; Bệnh viện Đa khoa Gia Lai; Bệnh viện Đa khoa khu vực Bồng Sơn; Bệnh viện Mắt; Bệnh viện Nhi; Bệnh viện Sản – Nhi.
Việc hỗ trợ được thực hiện theo nguyên tắc ưu tiên bác sĩ, dược sĩ có trình độ chuyên môn cao; bác sĩ, dược sĩ về công tác tại tuyến y tế cơ sở.
Ngoài chính sách hỗ trợ một lần, tỉnh Gia Lai còn có chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà ở tối đa 5 năm và ưu tiên mua nhà ở xã hội. Nhân lực diện thu hút được ưu tiên bố trí công việc phù hợp với năng lực, sở trường và ngành nghề đào tạo. Được tạo điều kiện môi trường làm việc, đầu tư thiết bị, phương tiện làm việc thuận lợi.
Bên cạnh đó, những bác sĩ, dược sĩ thuộc đối tượng thu hút còn được hưởng chính sách ưu đãi hằng tháng bằng hệ số theo mức tiền lương cơ sở. Trong đó, người có học hàm phó giáo sư, giáo sư được hưởng hệ số tiền lương từ 3 – 3,5 lần, trình độ tiến sĩ từ 1,5 – 2 lần.
Hệ số ưu đãi đối với người có trình độ bác sĩ, dược sĩ cấp 1, cấp 2 và thạc sĩ, bác sĩ nội trú từ 1 – 1,8 lần; bác sĩ, dược sĩ tốt nghiệp hệ chính quy có hệ số ưu đãi 0,8 – 1,3 lần. Ngoài ra, bác sĩ, dược sĩ tốt nghiệp chính quy còn có hệ số phụ cấp khi công tác tại vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trạm y tế xã phường.
Với việc triển khai chính sách hỗ trợ thu hút, ưu đãi như trên, tỉnh dự kiến dành kinh phí 81 tỉ đồng để thực hiện trong năm 2026. Trong đó, 66 tỉ đồng dành cho chính sách ưu đãi bác sĩ, dược sĩ; 12 tỉ đồng cho chính sách thu hút bác sĩ, dược sĩ và 3 tỉ đồng hỗ trợ tiền thuê nhà.
Theo UBND tỉnh Gia Lai, thời gian qua tỉnh đã có những chính sách đãi ngộ thu hút nhân lực ngành y tế, giúp nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe người dân. Nhưng thực trạng nguồn nhân lực y tế hiện nay vẫn còn hạn chế về số lượng, chất lượng, làm ảnh hưởng tới việc cung ứng dịch vụ y tế cho người dân. Đặc biệt là tình trạng thiếu bác sĩ ở các lĩnh vực y tế chuyên khoa, kỹ thuật cao và tuyến y tế cơ sở.
Vi khuẩn này lây truyền qua đường miệng - miệng là chủ yếu, trong khi người Việt Nam còn thói quen khá phổ biến dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung và gắp thức ăn cho người khác, chấm chung một chén nước chấm, uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…
Vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) dân gian gọi là HP, sống ở phần sâu lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, và ở các vùng nối giữa các tế bào này.
Trong các nghiên cứu được công bố gần đây, khoảng một nửa dân số trên thế giới bị nhiễm vi khuẩn H. pylori nhưng hầu hết không có biểu hiện triệu chứng, trong số này chỉ có khoảng 1-2% dân số bị nhiễm sẽ tiến triển thành ung thư dạ dày.
Tại Việt Nam, tỉ lệ người nhiễm H. pylori ở các lứa tuổi khác nhau còn rất cao, trên 80%. Nếu cha mẹ bị nhiễm H. pylori, các con có tỉ lệ nhiễm trên 90%, riêng trẻ < 8 tuổi là 98,6%.Những thói quen ăn uống chưa đúng của chúng ta làm tăng nguy cơ lây nhiễm như dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung, chấm chung một chén nước chấm, dùng đũa/muỗng đang ăn trong miệng của mình để gắp/lấy thức ăn cho người khác; uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…Các thói quen khác như nhai cơm nát đút cho con ăn, dùng nước bọt đếm tiền, lật xem tài liệu... cũng làm tăng nguy cơ nhiễm H. pylori.Nhiễm H. pylori được coi là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày, loét dạ dày, loét tá tràng và bệnh ác tính ở dạ dày bao gồm: ung thư dạ dày, và u lymphoma.Các yếu tố nguy cơ khác như tình trạng viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm teo kèm dị sản ruột (chuyển sản ruột), loạn sản (nghịch sản) có thể được coi là thương tổn tiền ung thư dạ dày.Giả thuyết về nguyên nhân sinh bệnh ung thư dạ dày là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của vi khuẩn H. pylori cùng với các thương tổn tiền ung thư, yếu tố môi trường, chế độ ăn có chứa các chất sinh ung, các đột biến gene…Các yếu tố nguy cơ được chia thành 4 nhóm khác nhau, bao gồm: môi trường, chế độ ăn uống - dinh dưỡng, tại chỗ và di truyền.Liên quan đến chế độ ăn uống và môi trường: thói quen ăn mặn, ăn nhiều thực phẩm như thịt, cá hun khói chứa hàm lượng nitrate cao, nguồn nước không sạch, hút thuốc lá... đều làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.Các yếu tố tại chỗ “đóng vai trò quan trọng”, đặc biệt là nhiễm vi khuẩn H. pylori, cùng với các tình trạng bệnh mạn tính như viêm, viêm teo niêm mạc dạ dày, dị sản ruột, loạn sản, polyp tuyến dạ dày kích thước lớn hơn 2cm, hoặc tiền sử cắt dạ dày trên 15-20 năm. Nam có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nữ.Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khoảng ba lần, và tỉ lệ ung thư dạ dày có tiền sử gia đình ở các nước châu Á cao hơn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bệnh viêm dạ dày phì đại, polyp tuyến dạ dày lớn hơn 2cm có nguy cơ ung thư từ 10 - 20%.Liên quan giữa ung thư dạ dày và các gene bao gồm sự kích hoạt các gene sinh ung thư và đột biến gây bất hoạt các gene áp chế ung thư có vai trò quan trọng, và có liên quan đến việc biến đổi gene ở người.Vi khuẩn H. pylori gây nhiều bệnh ở dạ dày, lây chủ yếu qua đường ăn uống và hiện chưa có vắc xin phòng ngừa, nên phát hiện và điều trị sớm là cần thiết.Theo các đồng thuận thế giới và Việt Nam năm 2024, cũng như tại Hội nghị đồng thuận châu Á - Thái Bình Dương từ năm 2009 đưa ra ba chỉ định điều trị H. pylori liên quan đến ung thư dạ dày gồm: tầm soát và điều trị tiệt trừ H. pylori trong cộng đồng có tần suất ung thư dạ dày cao, tiền sử gia đình có người bị ung thư dạ dày, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.
Nhiễm H. pylori không triệu chứng hiện nay cũng cần điều trị do liên quan đến ung thư dạ dày, nhất là người sống ở vùng dịch tễ nhiễm H. pylori, tỉ lệ ung thư dạ dày cao hoặc gia đình có người ung thư dạ dày…Những người bệnh bắt buộc phải điều trị gồm: viêm dạ dày do nhiễm H. pylori, loét dạ dày - tá tràng do nhiễm H. pylori, sau điều trị các biến chứng của bệnh loét như thủng và chảy máu, u limphoma (MALTs), ung thư dạ dày, gia đình cùng huyết thống có người bị ung thư dạ dày nhiễm H. pylori, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Về điều trị, các phương pháp tiệt trừ H. pylori được đánh giá có hiệu quả và được khuyến cáo chỉ khi đạt tỉ lệ tiệt trừ thành công tối thiểu là 80% (theo ý định điều trị). Để đảm bảo hiệu quả điều trị, cần tuân theo các phác đồ đã được khuyến cáo, uống đủ liều, bác sĩ giải thích tác dụng phụ của thuốc... Sau điều trị kiểm tra lại bằng hơi thở hoặc nội soi dạ dày.Trong trường hợp uống thuốc nhưng không tiệt trừ được vi khuẩn (có thể do uống không đủ liều, cách uống khó khăn, tác dụng phụ của thuốc...), trong đó nguy cơ kháng các thuốc kháng sinh là quan trọng nhất.Về tình trạng tái nhiễm sau khi điều trị sạch vi khuẩn, một thời gian sau người bệnh đau bụng, đầy hơi thì cần kiểm tra nhiễm lại H. pylori. Nguyên nhân thường do tiếp tục ăn uống chung, nhai cơm mớm cho con, dùng tay thấm nước bọt khi đếm tiền hoặc lật tài liệu…Ngoài ra, những người làm nghề đặc thù như bác sĩ nội soi, nha sĩ... cũng có nguy cơ nhiễm và tái nhiễm H. pylori cao hơn do thường xuyên tiếp xúc với mầm bệnh.Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Cỏ mần trầu (tên khoa học Eleusine indica) là loài thực vật thuộc họ Lúa, thường mọc ven đường, bờ ruộng, bãi đất trống hoặc những vùng đất khô cằn. Với khả năng sinh trưởng mạnh, đây được xem là một trong những loại cỏ dại khó diệt trong sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, theo Lương y Nguyễn Đình Cự, trong y học cổ truyền, cỏ mần trầu còn có tên dã kê thảo, tất suất thảo hoặc thanh tâm thảo. Dược liệu này có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, quy vào kinh can, được sử dụng trong nhiều bài thuốc với mục đích thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc và hỗ trợ tăng cường sức khỏe.
Đến nay, nước cỏ mần trầu vẫn được nhiều gia đình nấu uống, đặc biệt trong những ngày nắng nóng.
Hỗ trợ thanh nhiệt, giải khát
Theo Lương y Nguyễn Đình Cự, công dụng được biết đến nhiều nhất của cỏ mần trầu là thanh nhiệt, giải khát.
Theo quan niệm y học cổ truyền, với tính mát, cỏ mần trầu giúp làm dịu cảm giác nóng trong cơ thể, hỗ trợ cân bằng cơ thể khi thời tiết oi bức. Người dân thường nấu cỏ mần trầu lấy nước uống như một loại trà thảo dược.
Theo kinh nghiệm dân gian, để tăng tác dụng thanh nhiệt, còn kết hợp cỏ mần trầu với rau má, mã đề, diếp cá hoặc rễ cỏ tranh.
Lương y Nguyễn Đình Cự cho biết cỏ mần trầu từ lâu đã xuất hiện trong nhiều bài thuốc dân gian dành cho người bị cảm sốt nhẹ hoặc cảm nắng.
Theo kinh nghiệm dân gian, khi xuất hiện các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi hoặc say nắng, cỏ mần trầu thường được sắc cùng rau má hoặc diếp cá để uống.
Hỗ trợ lợi tiểu
Theo y học cổ truyền, cỏ mần trầu còn có tác dụng lợi tiểu nhẹ.
Lương y Nguyễn Đình Cự cho biết nước cỏ mần trầu thường được sử dụng trong các bài thuốc dành cho người có biểu hiện nóng trong, tiểu ít hoặc cảm giác tích nhiệt.
Việc bổ sung đủ nước kết hợp với đặc tính lợi tiểu của dược liệu có thể hỗ trợ quá trình đào thải các chất chuyển hóa trong cơ thể.
Dùng để chăm sóc tóc
Không chỉ dùng để uống, cỏ mần trầu còn được nhiều người sử dụng để chăm sóc tóc.
Theo Lương y Nguyễn Đình Cự, dân gian thường kết hợp cỏ mần trầu với bồ kết, vỏ bưởi hoặc hương nhu để nấu nước gội đầu, giúp làm sạch da đầu và hỗ trợ giảm gãy rụng tóc.
Một số bài thuốc cổ truyền còn phối hợp cỏ mần trầu với thục địa, đỗ trọng hoặc lá dâu nhằm hỗ trợ nuôi dưỡng mái tóc từ bên trong.
Lưu ý khi sử dụng nước cỏ mần trầu
Lương y Nguyễn Đình Cự khuyến cáo, để đảm bảo an toàn, người dân chỉ nên sử dụng cỏ mần trầu được thu hái ở khu vực sạch, tránh nơi có thuốc trừ sâu, hóa chất hoặc nguồn nước ô nhiễm.
Cần rửa sạch dược liệu trước khi nấu, không nên lạm dụng hoặc sử dụng thay hoàn toàn nước lọc trong thời gian dài.
Phụ nữ mang thai, người mắc bệnh mạn tính hoặc đang sử dụng thuốc điều trị nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc thầy thuốc trước khi dùng thường xuyên.
"Nước cỏ mần trầu chỉ có vai trò hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, không thể thay thế thuốc điều trị hay các biện pháp y tế khi mắc bệnh. Cùng với đó, ngừng sử dụng nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường", Lương y Nguyễn Đình Cự nhấn mạnh.
Không có một loại thực phẩm nào có thể chữa khỏi viêm loét dạ dày. Chế độ ăn không phải là nguyên nhân trực tiếp gây loét dạ dày và cũng không có một thực đơn đặc biệt nào có thể điều trị bệnh, theo chuyên trang sức khỏe Medical News Today (Anh).
Phần lớn các trường hợp loét dạ dày và tá tràng là do nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) hoặc tác dụng phụ của thuốc chống viêm không steroid. Với người bị đau dạ dày, điều quan trọng là cần chọn những món ăn dễ tiêu và ít gây kích thích niêm mạc dạ dày.
Khi mới thức dậy buổi sáng, người bị loét dạ dày nên ưu tiên ăn các món nhẹ nhàng, dễ tiêu sau:
Bữa ăn đầu tiên trong ngày nên chọn những món mềm, ít chất béo và không nêm quá nhiều gia vị. Trong những thời điểm dạ dày đang bị kích ứng, ăn những món này sẽ giúp giảm cảm giác khó chịu.
Các món như cháo, yến mạch nấu chín, cơm mềm, bánh mì trắng hoặc khoai tây luộc đều là lựa chọn phù hợp. Chúng cung cấp tinh bột để bổ sung năng lượng sau một đêm dài, đồng thời tương đối dễ tiêu hóa.
Ngoài tinh bột, người bệnh cũng nên bổ sung một lượng protein vừa phải như trứng luộc, thịt gà nạc, cá hấp hoặc đậu phụ. Những thực phẩm này giúp duy trì khối cơ và tạo cảm giác no lâu mà không gây áp lực lớn cho hệ tiêu hóa.
Người bị đau dạ dày thường được khuyên hãy ăn chuối chín. Nguyên nhân là vì chúng có kết cấu mềm, ít a xít và dễ tiêu. Chuối còn chứa pectin, một loại chất xơ hòa tan có lợi cho tiêu hóa, đồng thời cung cấp kali và vitamin B6.
Tuy nhiên, không phải ai cũng phản ứng giống nhau. Một số người có thể cảm thấy đầy bụng sau khi ăn chuối. Vì vậy, nếu sau khi ăn chuối mà các triệu chứng khó chịu tăng lên, người bệnh nên lựa chọn loại trái cây khác phù hợp với cơ thể hơn.
Sữa chua cung cấp protein, canxi và lợi khuẩn, giúp duy trì hệ vi sinh đường ruột khỏe mạnh. Một nghiên cứu đăng trên chuyên san Therapeutic Advances in Gastroenterology cho thấy bổ sung lợi khuẩn có thể giúp tăng khả năng tiêu diệt vi khuẩn H. pylori gây viêm loét dạ dày. Đồng thời, lợi khuẩn cũng giảm các tác dụng phụ liên quan đến kháng sinh, đặc biệt là tiêu chảy.
Với thức uống, đối với đa số người bị viêm hoặc loét dạ dày, một cốc nước ấm sau khi thức dậy là lựa c họn đơn giản và an toàn. Sau đó, nên ăn sáng trong khoảng 30-60 phút thay vì để bụng đói quá lâu, theo Medical News Today.