Trung tâm khí tượng thủy văn nhận định, hôm nay (29.5), nền nhiệt độ tại Bắc bộ và Trung bộ nhìn chung đã có xu hướng giảm so với các ngày trước. Tuy nhiên, các khu vực từ Quảng Trị đến thành phố Đà Nẵng, phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk có nắng nóng với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35 – 36 độ C, có nơi trên 36 độ; độ ẩm tương đối thấp nhất phổ biến từ 55 – 60%.
Đặc biệt, từ chiều tối hôm qua (28.5), Thủ đô Hà Nội và nhiều khu vực tại miền Bắc (bao gồm cả Tây Bắc bộ và Đông Bắc bộ) đã xuất hiện những cơn “mưa giông giải nhiệt” diện rộng. NSMO cho rằng, nhờ trận mưa vàng đó đã chấm dứt chuỗi ngày nắng nóng oi bức, giúp giảm nhiệt sâu và làm dịu mát toàn khu vực.
Ghi nhận lúc 14 giờ 20 phút ngày 28.5, công suất cực đại hệ thống điện quốc gia đạt 55.955 MW, giảm 2084 MW so với ngày 27.5; sản lượng tiêu thụ cũng đạt 1,168 tỉ kWh, giảm 49 triệu kWh so với ngày 27.5. Đặc biệt, công suất cực đại hệ thống điện miền Bắc bắt đầu giảm dần, ghi nhận lúc 13 giờ 25 phút ngày 28.5, với 29.176 MW, tức giảm khoảng 790 MW so với ngày 27.5; sản lượng đạt 592 triệu kWh, giảm 39 triệu kWh so với ngày 27.5.
Mặc dù nền nhiệt và phụ tải điện hôm nay (29.5) đã hạ nhiệt, tuy nhiên, do hệ quả từ đợt nắng nóng kéo dài nhiều ngày qua, một số tổ máy nhiệt điện than đã gặp sự cố, suy giảm công suất và xuất hiện các khiếm khuyết thiết bị cần phải tách lưới để sửa chữa ngắn hạn. Song song với đó, hệ thống đang phải tăng cường tích, giữ nước tại các hồ thủy điện nhằm chuẩn bị nguồn lực dự phòng sẵn sàng cho các đợt cao điểm nắng nóng tiếp theo. Vì vậy, việc chung tay duy trì tiết kiệm điện vào lúc này vẫn là vô cùng thiết yếu.
Tin Gốc: Thanh Niên

Từ tháng 4 đến nay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nhiều lần kêu gọi các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động, qua đó tạo điều kiện hạ lãi suất cho vay. Thế nhưng trên thực tế mặt bằng lãi vay vẫn âm thầm nhích nhẹ.
Ông Lư Nguyễn Xuân Vũ, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tập đoàn Xuân Nguyên, chia sẻ lãi vay của doanh nghiệp (DN) hiện dao động từ 8,5% đến 9,2%/năm đối với các khoản vay có kỳ hạn khoảng 6 tháng, tăng đáng kể so với mức khoảng 7,5%/năm của cùng kỳ năm trước. "Đó là lãi suất cho vay của khối NH thương mại nhà nước, còn NH thương mại cổ phần thì cao hơn, lãi suất ưu đãi đối với DN sản xuất kinh doanh cũng đã trên 10%/năm, thậm chí khoảng 10 - 10,5%/năm", ông Nguyên nói. Theo ông, mức lãi vay này vẫn có thể chấp nhận đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng khó khăn hiện nay không chỉ nằm ở chi phí vốn mà còn ở khả năng tiếp cận tín dụng. Một số NH, nhất là khối NH thương mại có vốn nhà nước đang có dấu hiệu thận trọng hơn trong cấp tín dụng. Dù chưa có thông báo chính thức, nhiều chi nhánh lựa chọn khách hàng kỹ lưỡng hơn và hạn chế giải ngân đối với các khoản vay mới.
Tương tự, ông Trần Thanh Phong, Giám đốc Công ty Thiên Bút (TP.HCM), cho biết lãi suất vay của DN hiện vẫn ở mức gần 10%/năm và hầu như không thay đổi trong vài tháng qua. Do ký khoản vay kỳ hạn 6 tháng từ tháng 4 nên đến nay vẫn chưa đến thời điểm điều chỉnh lãi suất. Dù vậy, ông Phong nói ông không kỳ vọng lãi vay giảm bởi mặt bằng lãi suất huy động của nhiều NH vẫn ở mức trên 8%/năm, cao hơn so với vài tháng trước.
Để giảm chi phí vốn vay, bà Nguyễn Hoa, giám đốc một DN chế biến gỗ dăm xuất khẩu, thay vì vay kỳ hạn 6 tháng với lãi suất 8,5%/năm thì chọn vay kỳ hạn 2 tháng với lãi suất 7,9%/năm. Việc thay đổi thời gian vay buộc DN phải tính toán chặt chẽ dòng tiền để đảm bảo nguồn thu về đúng thời điểm thanh toán khoản vay, nếu không sẽ đối mặt rủi ro phát sinh nợ quá hạn. "Khoản vay hiện nay chủ yếu phục vụ vốn lưu động. Do chi phí vốn còn cao nên DN chưa dám vay để đầu tư mở rộng sản xuất vì rủi ro tài chính khá lớn", bà Hoa nói thêm.
Diễn biến trên thị trường cho thấy mặt bằng lãi suất cho vay đang có xu hướng nhích lên. Vietcombank ghi nhận lãi suất cho vay bình quân tháng 5 đạt 7,2%/năm, đánh dấu tháng tăng thứ tư liên tiếp và cao hơn 0,8% so với tháng 2. Tại BIDV, lãi suất cho vay bình quân đến cuối tháng 5 ở mức 7,06%/năm. Agribank cũng ghi nhận xu hướng tương tự khi lãi suất cho vay bình quân tăng lên 8,63%/năm, cao hơn khoảng 1,7% sau 5 tháng đầu năm. Theo biểu lãi suất của NH này, lãi suất cho vay ngắn hạn hiện từ 6,1%/năm, trong khi các khoản vay trung và dài hạn ở mức khoảng 7,8%/năm. Đây là mức lãi suất cho vay bình quân, đối với từng khoản vay sẽ có mức lãi cao thấp khác nhau, có những khoản vay lên trên 10%/năm.
Ở nhóm NH thương mại cổ phần, mặt bằng lãi suất cho vay cao hơn. Đơn cử tại ACB, lãi suất cho vay bình quân hiện ở mức 9,3%/năm, tăng 1,84 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. KienlongBank công bố lãi suất cho vay bình quân tháng 6 là 8,84%/năm, tăng 0,12 điểm phần trăm so với cuối năm ngoái, còn chênh lệch giữa lãi suất cho vay và huy động ở mức 1,67%/năm.
Lãi suất cho vay mua nhà cũng đã nhích lên đáng kể. Nhiều NH hiện triển khai các gói tín dụng mua nhà với lãi suất ưu đãi quanh 10%/năm. Như BIDV áp dụng lãi suất từ
9,2 - 9,7%/năm trong 6 tháng đầu đối với khoản vay có thời hạn tối thiểu 36 tháng; với khoản vay từ 60 tháng trở lên, lãi suất ưu đãi là 10,3%/năm trong 18 tháng đầu. So với cùng kỳ năm trước, mức lãi suất ưu đãi này đã tăng khoảng 3 - 4%.
Ông Đặng Hồng Anh, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ VN, nói thẳng các NH công bố mức lãi suất bình quân, không có nghĩa mọi DN đều được vay với mức này. Trong thực tế, ngoài lãi suất danh nghĩa, DN còn phải tính đến chi phí định giá tài sản, bảo hiểm, phí tín dụng và một số điều kiện sử dụng dịch vụ đi kèm. Qua phản ánh bước đầu từ một số DN hội viên, mặt bằng lãi suất vay hiện có sự phân hóa khá lớn. Những DN có tình hình tài chính tốt, dòng tiền ổn định và tài sản bảo đảm đầy đủ có thể tiếp cận mức lãi suất thuận lợi hơn. Tuy nhiên, nhiều DN nhỏ và vừa vẫn đang vay với lãi suất khoảng 8 - 10%/năm; một số khoản vay trung, dài hạn hoặc thuộc lĩnh vực được đánh giá có mức độ rủi ro cao có thể trên 10%/năm. "Đây mới là phản ánh bước đầu, chưa phải kết quả khảo sát diện rộng. Mức lãi suất thực tế còn phụ thuộc vào từng NH, kỳ hạn vay, tài sản bảo đảm, lịch sử tín dụng và mức độ tín nhiệm của DN", ông Hồng Anh lưu ý.
Với DN sử dụng nhiều vốn vay, theo ông Đặng Hồng Anh lãi suất tăng thêm 1 - 2% có thể làm giảm đáng kể biên lợi nhuận, thậm chí khiến một phương án đầu tư không còn hiệu quả. Lãi suất không chỉ là một con số trong hợp đồng tín dụng, chi phí này được tính vào từng sản phẩm, từng đơn hàng và từng quyết định đầu tư. Khi chi phí vốn cao, DN buộc phải trì hoãn đầu tư, thu hẹp sản xuất hoặc hạn chế tuyển dụng. Một khó khăn khác là nhiều chương trình ưu đãi chỉ áp dụng trong thời gian ngắn. Sau đó, lãi suất được điều chỉnh theo lãi suất cơ sở cộng biên độ, khiến DN khó dự báo chi phí vốn trong trung và dài hạn.
Từ góc nhìn đó, ông Đặng Hồng Anh đề nghị các NH chủ động rà soát, giảm lãi suất đối với cả dư nợ hiện hữu của những khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả và sử dụng vốn đúng mục đích. Bên cạnh đó, cần hạn chế cạnh tranh huy động vốn bằng lãi suất cao, bởi khi chi phí đầu vào tăng, dư địa giảm lãi suất cho vay sẽ bị thu hẹp. Hội cũng đề nghị các NH đổi mới phương pháp thẩm định tín dụng, giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp, tăng đánh giá dựa trên dòng tiền, hợp đồng, đơn hàng, dữ liệu thuế và tính khả thi của phương án kinh doanh. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả các quỹ bảo lãnh tín dụng cho DN nhỏ và vừa; nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn, hỗ trợ lãi suất có mục tiêu cho sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. "DN hiểu điều hành lãi suất phải gắn với kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống. Tuy nhiên, để thúc đẩy tăng trưởng, vốn phải đi vào sản xuất, kinh doanh với chi phí hợp lý. Lãi suất giảm thực chất, ổn định và minh bạch sẽ giúp DN mạnh dạn đầu tư, tạo thêm việc làm và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế", ông Đặng Hồng Anh nhấn mạnh.
Theo dữ liệu từ NHNN, tính đến cuối tháng 6, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,03 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025, tương đương bổ sung thêm khoảng 1,4 triệu tỉ đồng cho nền kinh tế. Nhìn vào bảng cơ cấu dư nợ tín dụng, dòng vốn vẫn đi khá đúng định hướng. Trong đó, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chiếm 77% tổng dư nợ, riêng lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,09%; DN nhỏ và vừa chiếm 19,84%; bất động sản chiếm 25,73%... Kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 15%, tương đương 2,79 triệu tỉ đồng được bơm ra nền kinh tế. Như vậy, những tháng còn lại của năm sẽ còn khoảng 1,39 triệu tỉ đồng chờ giải ngân.
Theo chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu, lãi vay chỉ giảm khi lãi huy động giảm. Thế nhưng trong bối cảnh huy động vốn khó khăn như hiện nay thì việc giảm lãi suất là khó. Đó là lý do lãi vay với các DN đã nhích lên. "Để tính lãi vay cho các DN, có thể tham chiếu theo nguyên tắc lãi suất huy động bằng mức lạm phát cộng khoảng 2%, còn lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động khoảng 3%. Với giả định lạm phát được kiểm soát quanh 4,5%, lãi suất huy động hợp lý sẽ vào khoảng 6,5 - 7%/năm, còn lãi suất cho vay dao động 9 - 10%/năm. Đây là mức lãi suất mà các DN lớn có thể tiếp cận", ông Hiếu phân tích. Tuy nhiên DN nhỏ và vừa nhiều khả năng phải vay với mức lãi suất cao hơn đáng kể do mức độ rủi ro tín dụng cao hơn.
Ông Nguyễn Trí Hiếu thừa nhận điều kiện hiện nay không thực sự thuận lợi để vừa hạ lãi suất, vừa hỗ trợ DN, vừa kiểm soát lạm phát. Trong bối cảnh đó, DN cần chủ động xây dựng phương án kinh doanh phù hợp, tính toán kỹ dòng tiền và chấp nhận mặt bằng lãi suất hiện nay thay vì kỳ vọng lãi suất sẽ sớm giảm trở lại.
TS Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ quốc gia, cho rằng: Thay vì tập trung vào mục tiêu giảm lãi suất bằng mọi giá, cần ưu tiên các giải pháp tạo điều kiện để mặt bằng lãi suất ổn định và có dư địa giảm một cách bền vững. Trước hết là tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là kiểm soát lạm phát. Đồng thời, tín dụng cần được định hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và những ngành nghề có mức độ rủi ro thấp nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn vốn. Một giải pháp quan trọng khác là đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công. Khi nguồn vốn đầu tư công được giải ngân hiệu quả, dòng tiền sẽ quay trở lại hệ thống NH, góp phần cải thiện thanh khoản và giảm áp lực huy động vốn. Bên cạnh đó, cần tiếp tục tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc đối với hộ kinh doanh và DN, đẩy nhanh tiến độ hoàn thuế, qua đó giúp DN bổ sung nguồn vốn lưu động. Việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, kể cả trong hoạt động chi trả bồi thường, giải phóng mặt bằng, cũng được xem là giải pháp góp phần đưa dòng tiền quay trở lại hệ thống NH, đồng thời giảm chi phí xã hội và hạn chế các rủi ro phát sinh từ giao dịch tiền mặt. Ngoài ra, cần rà soát các quy định về ký quỹ đối với một số ngành nghề để phù hợp hơn với thực tiễn, trên cơ sở phân loại mức độ rủi ro của từng nhóm DN nhằm giảm áp lực về dòng tiền nhưng vẫn bảo đảm an toàn quản lý.
Ông Cấn Văn Lực phân tích thời gian qua NHNN đã triển khai nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ thanh khoản và tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, như điều chỉnh một số quy định liên quan đến hoạt động tín dụng, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát rủi ro. Đối với các NH thương mại, dư địa giảm lãi suất cho vay chủ yếu đến từ việc cắt giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, tăng tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) và nâng cao hiệu quả quản trị. Trên cơ sở đó, các NH có thể giảm lãi suất cho vay đối với một số lĩnh vực ưu tiên hoặc các DN gặp khó khăn nhưng có triển vọng phục hồi, thay vì giảm đồng loạt trên toàn thị trường.
Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối NH đầu tư, Phó giám đốc khối kinh doanh Công ty CP chứng khoán An Bình - ABS, cũng đồng quan điểm: Từ đầu năm đến nay, NHNN đã hỗ trợ thông qua thị trường mở (OMO) và thị trường liên NH khá nhiều nhưng dư địa giảm lãi suất hiện không còn nhiều. Lý do là từ cuối năm ngoái đến nay, huy động vốn từ các NH tăng chậm hơn nhiều. Do vậy giải pháp trong giai đoạn này là các NH tăng bộ đệm vốn, trong đó tăng vốn điều lệ lên để có thể duy trì nguồn vốn cho vay. "Hàng loạt NH tăng vốn gần đây hy vọng sẽ tạo bộ đệm cho hệ thống nhà băng", ông Minh dẫn chứng.
Một giải pháp khác đó là phát hành trái phiếu, đặc biệt là trái phiếu nước ngoài. Điều kiện huy động vốn nước ngoài hiện nay thuận lợi hơn năm 2024 khi lãi suất USD ở mức 4,5 - 5%/năm, thêm vào đó tỷ giá năm nay lại ổn định, nếu có tăng lên thì cao lắm khoảng 2%. Do vậy, huy động vốn từ nước ngoài hiện nay sẽ rẻ hơn so với trong nước. Ông Nguyễn Thế Minh lưu ý dù giải pháp nào đi nữa cũng cần thời gian nên từ nay đến cuối năm lãi suất cho vay ổn định ở mức hiện nay cũng là tốt. Lãi suất cho vay không thể tăng mạnh vì yêu cầu hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế đòi hỏi nguồn vốn cao.
Tin Gốc: Thanh Niên

Cụ thể, một trong những điểm đáng chú ý là Nghị định 278 vẫn giữ nguyên các ngưỡng điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân đã được quy định tại Nghị định 72. Theo đó, hằng năm và trong các đợt rà soát trong năm, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) phải tính toán lại giá bán lẻ điện bình quân để xem xét điều chỉnh theo quy định.
Nếu giá bán lẻ điện bình quân tính toán giảm dưới 1% hoặc tăng dưới 2% so với mức hiện hành, EVN sẽ không được điều chỉnh giá mà phải báo cáo Bộ Công thương để kiểm tra, giám sát.
Trường hợp giá điện cần giảm từ 1% trở lên hoặc tăng từ 2% đến dưới 5%, EVN phải lập phương án giá gửi Bộ Công thương rà soát. Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, Bộ Công thương có ý kiến bằng văn bản về kết quả tính toán giá điện. Sau khi nhận ý kiến này, EVN được quyết định điều chỉnh giá và phải báo cáo trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày thực hiện điều chỉnh.
Các quy định về ngưỡng điều chỉnh và trình tự xử lý cũng được áp dụng tương tự đối với các đợt rà soát, điều chỉnh giá điện trong năm.
Trường hợp giá bán lẻ điện bình quân cần điều chỉnh giảm mà EVN không điều chỉnh giảm, Bộ Công thương có trách nhiệm yêu cầu EVN điều chỉnh giảm giá bán lẻ điện bình quân. EVN có trách nhiệm thực hiện theo yêu cầu bằng văn bản của Bộ Công thương trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Ngoài ra, Nghị định mới cũng siết chặt công tác kiểm tra, công khai chi phí sản xuất kinh doanh điện. Hằng năm, trước ngày 30.6, EVN phải báo cáo chi phí thực tế của năm trước để Bộ Công thương chủ trì kiểm tra, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Công thương được thuê tư vấn độc lập để thẩm tra các khoản chi phí.
Kết quả kiểm tra chi phí sẽ được công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Công thương. Nếu cơ quan có thẩm quyền phát hiện sai sót trong việc tính toán giá bán lẻ điện bình quân, EVN phải cập nhật, điều chỉnh phương án giá trong các lần điều chỉnh tiếp theo.
Nhìn chung, Nghị định 278 không thay đổi ngưỡng điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân so với Nghị định 72, nhưng bổ sung các quy định nhằm tăng tính minh bạch trong xác định chi phí, nâng cao trách nhiệm giải trình của EVN và tăng cường vai trò giám sát của Bộ Công thương trong điều hành giá điện.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Giá vàng hôm nay (10/5): Vàng trong nước đánh dấu tuần giao dịch tăng, thế giới biến động theo xung đột

Giá vàng trong nước tăng 1,5 triệu đồng/lượng
Giá vàng trong nước khép lại tuần giao dịch với diễn biến phục hồi rõ rệt: cả vàng miếng và vàng nhẫn đều tăng 1,5 triệu đồng/lượng so với cuối tuần trước.
Chốt phiên giao dịch tuần, Công ty VBĐQ Sài Gòn SJC niêm yết giá vàng SJC ở ngưỡng 164,5-167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Chênh lệch mua vào - bán ra ở mức 3 triệu đồng/lượng. So với phiên giao dịch đầu tuần (3/5) giá giao dịch 163 triệu đồng/lượng (mua vào) và 166 triệu đồng/lượng (bán ra), giá vàng miếng SJC tại Công ty VBĐQ Sài Gòn SJC tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra.
Trong khi đó, DOJI niêm yết giá vàng SJC ở ngưỡng 164,5-167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Chênh lệch mua vào - bán ra ở mức 3 triệu đồng/lượng. So với phiên giao dịch cuối tuần trước (3/5) giá giao dịch 163 triệu đồng/lượng (mua vào) và 166 triệu đồng/lượng (bán ra), giá vàng miếng SJC tại Công ty VBĐQ Sài Gòn SJC tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra.
Tại Bảo Tín Minh Châu chốt phiên giao dịch tuần niêm yết giá vàng SJC ở ngưỡng 164,5-167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Chênh lệch mua vào - bán ra ở mức 3 triệu đồng/lượng. So với phiên giao dịch cuối tuần trước (3/5), giá giao dịch 163 triệu đồng/lượng (mua vào) và 166 triệu đồng/lượng (bán ra) tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra.
Tại Bảo Tín Mạnh Hải, chốt phiên giao dịch tuần niêm yết giá vàng SJC ở ngưỡng 164,5-167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra). Chênh lệch mua vào - bán ra ở mức 3 triệu đồng/lượng. So với phiên giao dịch cuối tuần trước (3/5) giá giao dịch 163 triệu đồng/lượng (mua vào) và 166 triệu đồng/lượng (bán ra), tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra.
Giá vàng miếng SJC tại Phú Quý chốt phiên giao dịch cuối tuần quanh mức 164,3 - 167,3 triệu đồng/lượng (mua - bán), so với phiên giao dịch cuối tuần trước (3/5), tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra. Chênh lệch giữa 2 chiều mua và bán là 3 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, giá vàng miếng SJC tại PNJ chốt phiên giao dịch cuối tuần quanh mức 163,6 - 166,6 triệu đồng/lượng (mua - bán), so với phiên giao dịch cuối tuần trước (3/5), tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra. Chênh lệch giữa 2 chiều mua và bán là 3 triệu đồng/lượng.
Đối với vàng nhẫn, cùng thời điểm, chốt phiên giao dịch cuối tuần, Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng nhẫn ở ngưỡng 164,5-167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với ngày 3/5. Chênh lệch mua vào - bán ra ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Vàng Bạc Đá Quý Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn ở ngưỡng 164,3-167,3 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,3 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với ngày 3/5. Chênh lệch mua vào - bán ra ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Nếu mua vàng nhẫn vào phiên 3/5 và bán ra vào phiên hôm nay (10/5), người mua tại DOJI lỗ 1,5 triệu đồng/lượng, giá giao dịch chốt tuần ở ngưỡng 164,5-167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).
Tương tự, giá vàng nhẫn trơn của Bảo Tín Minh Châu chốt phiên cuối tuần giao dịch ở mốc 164,5-167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), cũng tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với ngày 3/5 giao dịch ở mức 163 triệu đồng/lượng (mua vào) và 166 triệu đồng/lượng (bán ra). Chênh lệch mua vào - bán ra ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng nhẫn tròn ép vỉ 9999 của Bảo Tín Mạnh Hải chốt phiên cuối tuần giao dịch ở mốc 164,5-167,5 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), cũng tăng 1,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều mua vào và bán ra so với ngày 3/5 giao dịch ở mức 163 triệu đồng/lượng (mua vào) và 166 triệu đồng/lượng (bán ra). Chênh lệch mua vào - bán ra ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thế giới khép tuần biến động mạnh
Tính đến 6h00 ngày 10/5/2026 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đạt 4.713,7 USD/ounce, tăng 28,1 USD/ounce so với phiên trước. Quy đổi theo tỷ giá USD tại Vietcombank (26.367 VND/USD), giá vàng thế giới tương đương khoảng 149,9 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). Giá vàng SJC trong nước hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 17,6 triệu đồng/lượng. Tăng mạnh 101 USD/ounce so với chốt phiên tuần trước đó.
Giá vàng thế giới khép lại tuần giao dịch với nhiều biến động mạnh do ảnh hưởng từ xung đột Mỹ - Iran, giá dầu và kỳ vọng lãi suất của Fed. Đầu tuần, giá vàng có lúc giảm sâu về vùng giữa 4.500 USD/ounce khi giá dầu tăng mạnh, lợi suất trái phiếu Mỹ neo cao và đồng USD duy trì sức mạnh.
Từ giữa tuần, giá vàng bật tăng trở lại khi thị trường kỳ vọng căng thẳng địa chính trị không leo thang thêm. Giá dầu và lợi suất trái phiếu hạ nhiệt, đồng USD suy yếu giúp giá vàng giao ngay có lúc tăng 3,6%, vượt mốc 4.700 USD/ounce.
Cuối tuần, giá vàng chủ yếu tích lũy sau khi Mỹ công bố thêm 115.000 việc làm trong tháng 4, tỷ lệ thất nghiệp giữ ở mức 4,3%. Dù dữ liệu lao động tích cực làm giảm kỳ vọng Fed sớm giảm lãi suất, chỉ số niềm tin tiêu dùng Đại học Michigan giảm xuống 48,2 điểm vẫn hỗ trợ giá vàng giữ vùng cao.
Dữ liệu kinh tế Mỹ cho thấy bức tranh trái chiều với số việc làm tăng mạnh, tỷ lệ thất nghiệp ổn định và tâm lý người tiêu dùng suy yếu.
Báo cáo việc làm phi nông nghiệp tháng 4 ghi nhận nền kinh tế Mỹ tạo thêm 115.000 việc làm, tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức 4,3%. Đà tăng việc làm tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, vận tải và kho bãi, cùng bán lẻ. Việc làm khu vực liên bang tiếp tục giảm.
Chỉ số niềm tin tiêu dùng sơ bộ tháng 5 giảm xuống 48,2 từ mức 49,8 của tháng 4. Kỳ vọng lạm phát một năm hạ xuống 4,5% từ 4,7%, kỳ vọng lạm phát dài hạn giảm nhẹ xuống 3,4% từ 3,5%.
Tổng hợp các dữ liệu trên cho thấy kim loại quý vẫn được hỗ trợ, song chưa tạo ra tín hiệu rõ ràng về xu hướng cắt giảm lãi suất. Báo cáo việc làm giảm rủi ro suy thoái ngắn hạn của thị trường lao động, tâm lý tiêu dùng yếu hơn và kỳ vọng lạm phát hạ nhiệt giúp vàng duy trì trên ngưỡng 4.700 USD.
Về địa chính trị, lệnh ngừng bắn giữa Mỹ và Iran vẫn tồn tại trên danh nghĩa nhưng đang chịu áp lực nghiêm trọng. Lực lượng Mỹ đã tấn công các mục tiêu quân sự của Iran và vô hiệu hóa các tàu chở dầu Iran gần hoặc trong khu vực eo biển Hormuz, sau các báo cáo về những vụ tấn công nhằm vào tàu chiến Mỹ.
Về thương mại, eo biển Hormuz vẫn trong tình trạng gần như bị hạn chế nghiêm trọng hoặc đóng cửa trên thực tế, làm gia tăng rủi ro nguồn cung năng lượng, dù giá dầu đã điều chỉnh giảm nhờ kỳ vọng đạt được thỏa thuận.
Tác động kinh tế rộng hơn không chỉ giới hạn ở giá dầu giao ngay. Hoạt động vận tải tàu chở dầu bị gián đoạn. Các quốc gia nhập khẩu vùng Vịnh và nhà máy lọc dầu châu Á phải đối mặt với chi phí điều hướng lại tuyến vận chuyển và đảm bảo an ninh nguồn cung.
Giá dầu thô WTI giao tháng trên sàn Nymex chốt ở mức khoảng 95,42 USD/thùng, trong khi Brent ở mức 101,29 USD/thùng. Chỉ số đồng USD suy yếu. Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm dao động quanh vùng 4,4%.
Chốt tuần, giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.715 USD/ounce, tăng 28 USD. Giá vàng giao tháng 6/2026 trên sàn Comex New York ở mức 4.724 USD/ounce.
Khảo sát vàng hàng tuần mới nhất của Kitco News cho thấy hai phần ba giới đầu tư Phố Wall và Phố Chính đã quay trở lại với xu hướng mua vàng trong tuần tới sau màn thể hiện mạnh mẽ của thị trường này.
Tuần này, 11 nhà phân tích đã tham gia Khảo sát Vàng của Kitco News, với tâm lý Phố Wall chuyển sang lạc quan mạnh mẽ sau khi giá vàng giữ vững mức hỗ trợ và tăng cao hơn.
Trong đó, 7 chuyên gia, tương đương 64%, dự đoán giá vàng sẽ tăng trong tuần tới, trong khi chỉ có một người, chiếm 9% tổng số, dự đoán giá sẽ giảm. Còn 3 nhà phân tích còn lại, tương đương 27%, dự đoán giá sẽ đi ngang trong tuần tới.
Trong khi đó, cuộc thăm dò trực tuyến của Kitco đã thu được 153 phiếu bầu, cho thấy các nhà đầu tư nhỏ lẻ một lần nữa phản ánh quan điểm của các nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Trong số này, 106 nhà đầu tư cá nhân, tương đương 69%, dự đoán giá vàng sẽ tăng trong tuần tới, trong khi 27 người khác, tương đương 1%, dự đoán kim loại quý này sẽ giảm giá. Còn 20 nhà đầu tư còn lại, chiếm 13% tổng số, dự đoán giá vàng sẽ đi ngang trong tuần tới.
Nhận định giá vàng sẽ tăng trong tuần tới, ông Marc Chandler, giám đốc điều hành tại Bannockburn Global Forex nhận định, giá vàng giữ vững mức hỗ trợ gần 4.500 USD/ounce vào đầu tuần này và nhận được lực mua mạnh vào giữa tuần khi giá dầu giảm, lãi suất hạ và đồng USD suy yếu.
"Tôi thấy giá vàng đã phục hồi kể từ mức đỉnh ngày 17/4 ở gần 4.890 USD/ounce. Số liệu dự trữ của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) cho thấy họ đã mua rất nhiều vàng khi giá giảm vào tháng trước. Mục tiêu trước mắt có thể là 4.850 USD/ounce", ông Chandler nói.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

