Mới đây, ngày 18.5, trang Egde Malaysia nhận định VN đang đáp ứng đầy đủ các tiêu chí quan trọng của mô hình “Con hổ châu Á” cổ điển: tỷ lệ tiết kiệm nội địa cao, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Một chuyển biến quan trọng là cơ cấu xuất khẩu đã thay đổi rõ rệt, tỷ trọng hàng chế tạo và công nghệ cao tăng nhanh. VN hiện trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu với sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ lớn. Đáng chú ý, vai trò khu vực tư nhân trong nước đang tăng lên nhanh chóng. Điều này cho thấy mô hình tăng trưởng của VN đang chuyển dần từ “Nhà nước dẫn dắt trực tiếp” sang “Nhà nước kiến tạo phát triển”, tập trung đầu tư hạ tầng để thúc đẩy sản xuất.
Trang tin này cũng nêu rằng một trong những nền tảng giúp VN duy trì tốc độ tăng trưởng cao là lợi thế nhân khẩu học với lực lượng lao động trẻ, dồi dào và ngày càng có chất lượng cao hơn. Một điểm được đánh giá cao là việc VN duy trì kỷ luật tài khóa khá chặt chẽ trong nhiều năm qua. Nợ công còn 32,9% năm 2024, được xem là mức tương đối an toàn so với nền kinh tế mới nổi.
Trước đó vào đầu năm nay, trang The McGill International Review (MIR) của Canada cũng có bài nhận định rằng VN dù vẫn đối mặt với nhiều thách thức nội tại đã đạt được tốc độ tăng trưởng đáng chú ý và đang nổi lên như một ứng cử viên nặng ký cho danh hiệu “Con hổ châu Á” trong giai đoạn phát triển mới. Mô hình phát triển của VN hiện nay được định hình bởi hai trụ cột quan trọng. Một là vai trò sở hữu và kiểm soát của nhà nước trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Hai là đường lối đối ngoại linh hoạt, cho phép VN duy trì thế cân bằng chiến lược trong quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ – hai cường quốc có ảnh hưởng sâu rộng đến khu vực. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng kinh tế của VN trong nhiều năm liên tiếp đã tiệm cận mức 7 – 10%/năm, ngưỡng tăng trưởng từng làm nên tên tuổi của các “con hổ châu Á” trong giai đoạn đỉnh cao công nghiệp hóa…
PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐHQG-HCM, Trường ĐH Kinh tế – Luật, nhận định: bên cạnh những yếu tố mà báo chí nước ngoài thường nhắc đến thì có 2 yếu tố quan trọng khác khiến VN có thể tiến tới trở thành “con hổ châu Á”, đó là chất lượng thể chế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Hiện nay, chất lượng điều hành và thể chế ở VN đang có sự chuyển động mạnh theo hướng kiến tạo phát triển. Điểm đáng chú ý là VN không còn chỉ tập trung vào tăng trưởng ngắn hạn mà đang tái cấu trúc bộ máy và mô hình quản trị để tạo ra dư địa lớn cho sự phát triển dài hạn. VN đang bước vào một giai đoạn cải cách thể chế và tổ chức không gian phát triển có quy mô rất lớn trong nhiều năm trở lại đây, trong đó nổi bật là tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính và hình thành các cực tăng trưởng có quy mô lớn hơn.
Đồng thời, từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã thông qua các nghị quyết về khoa học, công nghệ (KH-CN), hội nhập quốc tế, cải cách pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, năng lượng, giáo dục và y tế. Điểm chung của các nghị quyết này là chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển đã thể hiện tầm nhìn dài hạn và tư duy phát triển hệ thống. VN cũng đang chuyển đổi mạnh mẽ mô hình tăng trưởng từ dựa vào vốn và lao động giá rẻ sang dựa chủ yếu vào KH-CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là yếu tố quyết định để VN vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”.
Ông Đỗ Phú Trần Tình nhấn mạnh: VN hiện nay định hướng không chỉ là công xưởng gia công, mà đang đầu tư mạnh vào các ngành công nghệ cao như bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, kinh tế số… Đồng thời, cả nước đang triển khai hàng loạt siêu dự án hạ tầng như tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam trị giá khoảng 67 tỉ USD và chương trình phát triển năng lượng hạt nhân để bảo đảm an ninh năng lượng cho giai đoạn phát triển mới. Đây chính là dấu hiệu đặc trưng của một nền kinh tế đang tiến tới mô hình “con hổ châu Á”.
Nhìn lại lịch sử kinh tế hơn hai thập niên trước, VN thường xuất hiện trên các mặt báo tài chính quốc tế với định danh khiêm tốn: một quốc gia hưởng lợi từ “cổ tức dân số”, một điểm đến lý tưởng cho các ngành thâm dụng lao động nhờ giá nhân công rẻ. Những nhận định cũ giai đoạn trước thường xoáy sâu vào các lĩnh vực dệt may, da giày hay lắp ráp đơn giản. Khi đó, thế giới nhìn nhận VN như một “trạm dừng chân” tạm thời cho các dây chuyền sản xuất cần tối ưu chi phí. Thế nhưng giờ đây cục diện đã thay đổi.
Trong bài báo đăng ngày 13.5, tờ Nikkei Asia (Nhật Bản) phản ánh, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu về nhân lực công nghệ ngày càng gia tăng, Tập đoàn bán dẫn Qualcomm (Mỹ) đang đẩy mạnh mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển tại VN, coi đây là mắt xích quan trọng trong chiến lược xây dựng trung tâm kỹ thuật toàn cầu. Điều này cho thấy VN giữ vai trò ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển toàn cầu của tập đoàn này.
Tương tự, trang The Interpreter (Úc) ngày 15.5 cũng cho rằng VN hy vọng trở thành trung tâm bán dẫn toàn cầu, thu hút sự quan tâm rộng rãi từ các chính phủ và các nhà lãnh đạo công nghệ. VN coi đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là chìa khóa vàng để mở ra giai đoạn phát triển mới. Điều làm nên sự khác biệt của VN so với các cường quốc tầm trung khác là chiến lược ngành bán dẫn được định hướng theo các mục tiêu rõ ràng, đồng bộ nhằm củng cố các yếu tố khác nhau của hệ sinh thái chip phức tạp.
Trên thực tế, lĩnh vực bán dẫn của VN đã có những chuyển động mạnh mẽ. Không chỉ là sự tham gia của hàng loạt “ông lớn” FDI như Intel, Samsung, Qualcomm… mà mới nhất vào đầu năm nay, hai tập đoàn công nghệ lớn của VN là Viettel và FPT đồng loạt kích hoạt các dự án tỉ USD. Việc Viettel khởi công nhà máy chế tạo chip tại Hòa Lạc (Hà Nội) và FPT vận hành nhà máy kiểm thử, đóng gói tại Bắc Ninh không đơn thuần mở rộng quy mô sản xuất vật lý, mà được xem như hai mảnh ghép tạo nên hệ sinh thái khép kín đầu tiên của người Việt: Viettel dấn thân vào khâu chế tạo phôi chip phức tạp, còn FPT đảm nhận khâu hoàn thiện sản phẩm cuối cùng.
Như vậy với việc xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn tại Hòa Lạc được kỳ vọng sẽ “khép kín” toàn bộ quy trình sản xuất chip ngay tại VN, bởi trước đó vẫn còn công đoạn chế tạo chip là khâu phức tạp và then chốt nhất vẫn chưa thể thực hiện trong nước. Ngoài ra, vấn đề đất hiếm – nguyên liệu chiến lược về sản xuất chất bán dẫn – mà theo số liệu của Cơ quan Khảo sát địa chất của Mỹ trước đó, VN hiện đứng thứ 2 thế giới về trữ lượng và tài nguyên đất hiếm với khoảng 22 triệu tấn, chỉ sau Trung Quốc (44 triệu tấn).
Đặc biệt, VN cũng là quốc gia duy nhất ngoài Trung Quốc có chuỗi cung ứng nam châm đất hiếm tích hợp theo chiều dọc và đã thu hút sự quan tâm từ các công ty trong nhiều lĩnh vực…Như vậy có thể thấy rằng nhiều yếu tố cộng hưởng khiến cho cơ hội phát triển ngành bán dẫn của VN vươn lên mạnh mẽ.
Theo PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, để thúc đẩy và tạo ra sự khác khác biệt trong lĩnh vực KH-CN nói chung và bán dẫn nói riêng thì cần vượt ra khỏi tư duy “thu hút đầu tư” đơn thuần để chuyển sang tư duy “xây dựng năng lực công nghệ quốc gia”. Đây được xem là một vấn đề cốt lõi. Đầu tiên là cần xây dựng chiến lược nhân lực bán dẫn quốc gia. Không chỉ đào tạo kỹ sư số lượng lớn, mà phải phân tầng theo các nhóm: kỹ sư thiết kế vi mạch, kỹ sư vật liệu, kỹ sư đóng gói – kiểm thử, chuyên gia AI phần cứng, chuyên gia tự động hóa, chuyên gia sở hữu trí tuệ và quản trị chuỗi cung ứng bán dẫn.
Tiếp theo, cần chọn đúng phân khúc chiến lược, như trước mắt nên tập trung vào thiết kế chip, đóng gói – kiểm thử, vi mạch cho thiết bị thông minh, AI, ô tô điện, năng lượng và các ứng dụng công nghiệp. Song song cần phát triển doanh nghiệp công nghệ nội địa; xây dựng hệ sinh thái đại học – viện nghiên cứu – doanh nghiệp và cần hoàn thiện thể chế cho đổi mới sáng tạo.
“Bán dẫn không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà còn liên quan đến sở hữu trí tuệ, thuế, đất đai, nhập khẩu thiết bị, tiêu chuẩn kỹ thuật, an ninh dữ liệu, hợp tác quốc tế và thị trường vốn. Nếu thể chế cải cách không đủ nhanh, VN sẽ khó nắm bắt cơ hội”, PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình chia sẻ thêm.
Nói về cuộc chuyển mình ấn tượng về hình ảnh của VN trên trường quốc tế, chuyên gia kinh tế Trần Anh Tùng (Trường ĐH Kinh tế – Tài chính TP.HCM) nhìn nhận: VN hiện nay không còn chỉ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu ở tầng thấp như dệt may hay gia công đơn giản, mà đã trở thành mắt xích chiến lược trong chuỗi điện tử và công nghệ. FDI cũng đang thay đổi về chất: trước đây vốn ngoại chủ yếu tập trung vào dệt may hoặc bất động sản, còn hiện nay các tập đoàn như Samsung, Apple, LG, Foxconn, Amkor, Nvidia hay Intel đều đã mở rộng hiện diện tại VN. Samsung hiện xuất khẩu từ VN khoảng 50 – 60 tỉ USD/năm, tương đương gần 15% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia. Apple cũng đang đẩy mạnh dịch chuyển chuỗi cung ứng AirPods, iPad, MacBook sang VN; Amkor đầu tư tổ hợp bán dẫn hơn 1,6 tỉ USD ở Bắc Ninh.
Cũng theo vị chuyên gia này, VN đang có đột phá mạnh ở 3 lĩnh vực: thứ nhất là điện tử và bán dẫn khi xuất khẩu nhóm máy vi tính, điện tử và linh kiện đã vượt 70 tỉ USD/năm. Thứ hai là năng lượng xanh và xe điện, với VinFast đang mở rộng sang Mỹ, Ấn Độ, Indonesia và kéo theo hệ sinh thái pin, linh kiện, trạm sạc phát triển nhanh. Thứ ba là kinh tế số khi quy mô kinh tế số VN đã vượt 30 tỉ USD và thuộc nhóm tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á.
Điều quan trọng là chúng ta đang hưởng lợi từ xu hướng “Trung Quốc + 1”, tức các tập đoàn toàn cầu muốn đa dạng hóa chuỗi cung ứng ngoài Trung Quốc. Nhờ vị trí địa lý, chi phí cạnh tranh, độ mở thương mại cao và mạng lưới hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng, VN đang dần chuyển từ vai trò “công xưởng chi phí thấp” sang trung tâm sản xuất – logistics – công nghệ mới.
Tuy nhiên, để thực sự trở thành “con hổ châu Á”, ông Trần Anh Tùng khuyến nghị VN vẫn cần phải cố gắng để thu hẹp khoảng cách. Điểm yếu hiện nay là giá trị gia tăng nội địa còn thấp. Dù xuất khẩu điện tử rất lớn nhưng phần linh kiện lõi, chip, công nghệ nền và sở hữu trí tuệ vẫn nằm chủ yếu trong tay doanh nghiệp nước ngoài. Nghĩa là, chúng ta đang mạnh về “quy mô sản xuất” nhưng chưa mạnh tương xứng về “năng lực công nghệ”. Giai đoạn tới, VN phải chuyển từ lợi thế lao động giá rẻ sang năng suất cao và công nghệ cao. Muốn vậy, cần tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ nội địa để tăng tỷ lệ nội địa hóa; đồng thời đầu tư mạnh vào nhân lực công nghệ, AI, bán dẫn và quan trọng nhất cải cách thể chế để giảm chi phí logistics, thủ tục, vốn.
Chốt phiên cuối tuần qua, cổ phiếu (CP) VIC của Tập đoàn Vingroup đạt 228.000 đồng - giảm nhẹ so với mức kỷ lục sát 230.000 đồng một ngày trước đó. Tuy nhiên, đây vẫn là vùng đỉnh lịch sử của CP này khi tổng cộng đã tăng 58.400 đồng so với mức 169.600 đồng thời điểm khép phiên cuối cùng năm 2025, tương ứng tăng hơn 34% và gần gấp 3 lần so với một năm trước.
Không chỉ VIC, một số CP của các công ty con thuộc Tập đoàn Vingroup cũng liên tục đi lên như mã VHM của Vinhomes lên 158.000 đồng, tăng hơn 27% so với đầu năm và tăng gần gấp 3 lần sau một năm; VRE của Vincom Retail đạt 34.000 đồng, không thay đổi so với đầu năm nhưng ghi nhận tăng 36% sau một năm. Đà tăng liên tục của VIC và các cổ phiếu liên quan đã đóng góp tích cực đưa VN-Index vượt ngưỡng 1.900 điểm trong tuần qua.
Không bỏ lỡ cơ hội, nhiều nhà đầu tư, nhất là các cổ đông tổ chức, đã tích cực mua vào. Có thể kể đến như trong tháng 4, một số quỹ thuộc Dragon Capital đã mua thêm vài triệu cổ phiếu VIC và các mã VHM, VRE. Cụ thể, Quỹ đầu tư Chứng khoán năng động DC (DCDS) cuối tháng 4 sở hữu 3,21 triệu cổ phiếu VIC, tăng thêm hơn 2,24 triệu đơn vị so với cuối tháng 3. Mã VHM cũng tăng từ 1,26 triệu đơn vị lên 2,53 triệu đơn vị, tăng thêm gần 1,27 triệu CP trong tháng 4. Song song, quỹ đầu tư còn mua vào 1,66 triệu cổ phiếu VRE trong khi trước đó chưa ghi nhận mã này. Trong báo cáo tháng 4, DCDS cho biết quỹ đã chủ động gia tăng tỷ trọng vào VIC và VHM để nắm bắt đà tăng, nâng tổng tỷ trọng 2 mã lên khoảng 17% giá trị tài sản ròng vào cuối tháng. Tương tự, Quỹ đầu tư cổ phiếu Tập trung cổ tức DC (DCDE) cũng ghi nhận sự xuất hiện của các cổ phiếu "họ Vin" trong tháng 4 khi mua 514.900 cổ phiếu VHM và 601.800 cổ phiếu VRE. Hay quỹ Vietnam Enterprise Investments Limited (VEIL) cũng gia tăng tỷ trọng 2 mã VIC và VHM trong danh mục đầu tư vào cuối tháng 4 lên 12,6%.
Ông Võ Nguyễn Khoa Tuấn, Giám đốc Nghiệp vụ cấp cao lĩnh vực chứng khoán tại Dragon Capital, trong chương trình Fund Insider do Fmarket tổ chức mới đây đã lý giải khi một CP tăng mạnh, tâm lý chung của thị trường thường mặc định đó là vùng đỉnh. Tuy nhiên, nhận định này khá chủ quan. Trong chiến lược của quỹ DCDS, 2 yếu tố then chốt được đặt lên hàng đầu là "không thành kiến" và "mang tính kịp thời". Việc quay trở lại với nhóm CP "họ Vin" trong năm 2025 đem lại tăng trưởng cho nhà đầu tư (NĐT). Bằng chứng DCDS là một trong vài quỹ tăng trưởng trên 30% trong năm 2025 và tăng trưởng vượt trội so với các quỹ khác. "Tại thị trường chứng khoán Hàn Quốc trong 3 năm qua, cổ phiếu Hosun tăng 55 lần, hay HD Hyundai Electric và SK tăng khoảng 25 lần, thì cổ phiếu Vingroup mới chỉ tăng khoảng 7-8 lần từ vùng đáy không phải là điều gì vô lý, nhất là đối với một doanh nghiệp vận hành với hết tốc lực và quyết liệt như Vingroup", ông Tuấn nhấn mạnh.
Lý giải về sự tăng trưởng của các CP "họ Vin", ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Khối Ngân hàng đầu tư Công ty Chứng khoán An Bình, nói trên bất kỳ thị trường chứng khoán (TTCK) nào cũng có hiện tượng một vài CP vốn hóa lớn chiếm tỷ trọng cao trong chỉ số chung của thị trường. Chẳng hạn CP của Tập đoàn TSMC - tập đoàn sản xuất chip bán dẫn lớn nhất thế giới - đang chiếm 13% trong rổ cổ phiếu tính chỉ số của TTCK Đài Loan. Hay tại Mỹ, nhóm 7 cổ phiếu vốn hóa lớn cũng chiếm hơn 50% vốn hóa chỉ số S&P 500. Vì vậy, cũng thường xảy ra hiện tượng chỉ số chứng khoán vẫn đi lên nhưng chỉ có một số mã chứng khoán tăng còn nhiều CP khác vẫn giảm. Đối với nhóm cổ phiếu Vingroup, nhất là mã VIC của tập đoàn mẹ đã tăng mạnh trong năm 2025 đến nay bởi nhiều lý do. Đầu tiên là nhiều cơ chế, chính sách của Đảng, Chính phủ đưa ra để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong đó, Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo nhiều điều kiện để các tập đoàn tư nhân lớn, có xu hướng tiến ra toàn cầu phát triển mạnh mẽ. Từ đó nhiều NĐT kỳ vọng vào sự phát triển của Vingroup - tập đoàn hàng đầu VN với nhiều lĩnh vực như VinFast, Green SM - là điều dễ hiểu. "Không chỉ thực hiện hàng loạt đại dự án của đất nước, mới đây việc tái cấu trúc tài sản liên quan đến VinFast và các hoạt động của Vingroup cũng khiến NĐT tin rằng tập đoàn này sẽ tăng trưởng mạnh hơn trong tương lai", ông Minh nói.
Bên cạnh đó, từ tháng 3, khi chiến sự Mỹ - Iran diễn ra, kéo giá xăng dầu thế giới tăng cao thì mảng xe điện của VinFast cũng có nhiều cơ hội mở rộng hơn. Ngoài ra, một yếu tố khác là đến tháng 9 tới, việc TTCK được nâng hạng có hiệu lực cũng mang lại lợi thế rất lớn cho những CP blue-chips. Trong đó, nhóm CP "họ Vin" đều được ước tính sẽ nằm trong danh mục đưa vào rổ FTSE Global All Cap. Điều này cũng góp phần thúc đẩy giá các CP đi lên. Kết quả kinh doanh quý 1/2026 của Vingroup và các công ty cùng hệ sinh thái tăng mạnh là minh chứng cho những kỳ vọng của NĐT. "Không phải những CP đã tăng cao rồi là không tăng nữa. Chẳng hạn, CP Tập đoàn Nvidia tại Mỹ hay TSMC tại Đài Loan đã tăng cao nhưng vẫn liên tục lập kỷ lục mới. Đầu tư vào CP là đầu tư vào câu chuyện của tương lai. Khi NĐT còn tin tưởng doanh nghiệp phát triển thì việc mua CP là dễ hiểu", ông Nguyễn Thế Minh chia sẻ.
Đồng tình, chuyên gia tài chính, TS Nguyễn Trí Hiếu cho rằng trong bối cảnh VN đưa ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển, nhất là kinh tế tư nhân được "cởi trói" thì các doanh nghiệp lớn càng có nhiều cơ hội tăng tốc. Bản thân Tập đoàn Vingroup đã đưa ra những kế hoạch kinh doanh mạnh mẽ, mục tiêu doanh thu và lợi nhuận đều tăng trưởng cao. Chẳng hạn các dự án bất động sản của Vingroup mới công bố đều lớn với nhiều chính sách hấp dẫn, trở nên vượt trội hơn và được nhiều khách hàng đón nhận. Hay các đại dự án phát triển hạ tầng, đô thị, tham gia lĩnh vực năng lượng, công nghệ sẽ tạo ra những động lực tăng trưởng mới cho doanh nghiệp. Muốn kinh tế chung của cả nước tăng trưởng mạnh thì các tập đoàn kinh tế lớn phải dẫn đầu thị trường. Trong đó, Vingroup tiếp tục là một tập đoàn lớn và được dự kiến sẽ đóng góp đáng kể vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của VN trong năm nay cũng như nhiều năm tới. "TTCK luôn phản ánh trước tiềm năng của nền kinh tế và giá CP cũng được xem là "hàn thử biểu" cho sức khỏe của doanh nghiệp. Những công ty lớn, có kế hoạch kinh doanh vượt trội, tiềm năng tăng trưởng cao thì sẽ thu hút được NĐT quan tâm", ông Hiếu nhấn mạnh.
Sáng 25/4, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank – mã: TCB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 tại Hà Nội, với các tờ nội dung đáng chú ý liên quan đến phương án trả cổ tức và tăng vốn điều lệ.
Tính đến 9h, đại hội ghi nhận 266 cổ đông tham dự, đại diện hơn 5 tỷ cổ phiếu, tương ứng 76,06% tổng số phiếu biểu quyết. Với tỉ lệ này, đại hội đủ điều kiện tiến hành theo quy định.
Tại đại hội, HĐQT Techcombank trình cổ đông phương án tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu và phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP).
Cụ thể, ngân hàng dự kiến phát hành hơn 4,28 tỷ cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu cho cổ đông hiện hữu với tỉ lệ phát hành 60% (cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu sẽ nhận thêm 60 cổ phiếu mới). Phương án này sẽ giúp vốn điều lệ của Techcombank tăng thêm 42.517 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, Techcombank cũng phát hành hơn 35,8 triệu cổ phiếu ESOP với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm 358,7 tỷ đồng. Số cổ phiếu trên sẽ bị hạn chế chuyển nhượng trong vòng 1 năm.
Trong tài liệu được công bố trước đó, Techcombank chỉ dự kiến trình cổ đông phương án phát hành hơn 17 triệu cổ phiếu theo ESOP để tăng vốn lên 71.032 tỷ đồng. Sau khi hoàn tất hai đợt phát hành, vốn điều lệ của Techcombank dự kiến sẽ tăng thêm 42.876 tỷ đồng, từ 70.862 tỷ đồng lên 113.738 tỷ đồng.
Tính đến thời điểm hiện tại, đây là kế hoạch tăng vốn mạnh nhất trong số các ngân hàng đã công bố kế hoạch năm 2026. Trước đó, ĐHĐCĐ VPBank đã thông qua việc tăng vốn lên hơn 106.200 tỷ đồng được cho là mức cao nhất hệ thống ngân hàng.
Về kế hoạch kinh doanh năm 2026, Techcombank đã xây dựng 2 kịch bản do bối cảnh môi trường kinh doanh còn nhiều yếu tố bất định.
Kịch bản 1, xung đột tại Iran được nhanh chóng giải quyết. Ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tăng 15% so với cùng kỳ lên 37.500 tỷ đồng. Dư nợ tín dụng theo phê duyệt của NHNN, hạn mức được cấp thời điểm hiện tại là 849.000 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2025.
Kịch bản 2 khi xung đột kéo dài với tác động kinh tế dai dẳng, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế tăng trưởng ít hơn so với kịch bản trước đó là 35.000 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ.
Quý I/2026, ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 8.900 tỷ đồng, tăng 22,6% so với cùng kỳ và là mức cao kỷ lục trong quý I của ngân hàng.
Tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng cũng tăng gần 18% lên 13.700 tỷ đồng, phản ánh đà tăng trưởng ổn định của các mảng kinh doanh cốt lõi.
HĐQT Techcombank trình ĐHĐCĐ phương án chia cổ tức bằng tiền mặt tỉ lệ 7% (tương ứng 1 cổ phần nhận 700 đồng). Số tiền dự kiến chi trả cổ tức là 4.960 tỷ đồng.
Nguồn thực hiện từ lợi nhuận chưa phân phối của ngân hàng sau khi trích lập các quỹ tính đến thời điểm ngày 31/12/2025 căn cứ trên Báo cáo tài chính riêng và Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025 đã được kiểm toán của Techcombank.
Thời điểm thực hiện dự kiến trong quý II hoặc quý III/2026. Thời gian cụ thể sẽ do HĐQT quyết định đảm bảo phù hợp quy định của pháp luật và các điều kiện thực tế của Ngân hàng.
Techcombank cho biết với kết quả kinh doanh khả quan ngay cả trong tình hình kinh tế nhiều biến động, ngân hàng tin tưởng rằng, việc duy trì chính sách chi trả cổ tức từ nguồn lợi nhuận giữ lại, trong khi vẫn tiếp tục đà tăng trưởng kinh doanh cao trên mức trung bình ngành và đảm bảo tỉ lệ an toàn vốn cấp 1 trên ngưỡng 14% là hoàn toàn khả thi.
Chính sách cổ tức là cam kết của ngân hàng nhằm mang lại giá trị vượt trội và sự gắn kết với cổ đông. Với việc đầu tư vào Techcombank, cổ đông vừa có thu nhập trực tiếp đến từ cổ tức tiền, trong khi vẫn tối ưu hóa lợi ích từ tiềm năng tăng giá dựa trên vị thế dẫn đầu của Ngân hàng tại thị trường tài chính Việt Nam và trong khu vực.
Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép của Hòa Phát cũng đạt 3 triệu tấn, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao ghi nhận 1,4 triệu tấn, tăng 20% so với cùng kỳ 2025 và tăng 8% so với quý cuối năm trước. Thép Hòa Phát duy trì thị phần số 1 Việt Nam với 36% và có mặt tại hơn 45 quốc gia, vùng lãnh thổ khắp năm châu lục trên thế giới.
Thép Hòa Phát được sử dụng rộng rãi trong các công trình trọng điểm, tiêu biểu như: dự án mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Phú Quốc, đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, cao tốc Bắc - Nam, cao tốc Long Thành - Dầu Giây, cầu Mỹ Thuận 2, cầu đi bộ qua sông Sài Gòn, các dự án cầu mới qua sông Hồng (cầu Trần Hưng Đạo, Ngọc Hồi)...
Đối với thép cuộn cán nóng (HRC), sản lượng bán hàng đạt hơn 1,4 triệu tấn, tăng 48% so với quý đầu năm 2025. Hiện tại, sản lượng tiêu thụ HRC ở thị trường trong nước chiếm gần 80%, còn lại là xuất khẩu. Hòa Phát đã xuất khẩu HRC đến 20 quốc gia, vùng lãnh thổ tại châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi.
Hòa Phát còn sản xuất và cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu nhiều loại sản phẩm chế biến sau thép như ống thép, tôn mạ, thép dự ứng lực các loại. Trong quý đầu năm, Tập đoàn cung cấp 241.000 tấn ống thép, 106.000 tấn tôn mạ, tăng tương ứng 30% và 19% so với quý đầu năm 2025. Thép dự ứng lực, thép rút dây các loại đạt hơn 62.000 tấn, tăng 63% so với cùng kỳ năm trước.
Tập đoàn Hòa Phát hiện là nhà sản xuất thép lớn nhất Đông Nam Á với công suất 16 triệu tấn thép thô từ cuối năm 2026. Trong đó, trên 60% sản lượng là các loại thép chất lượng cao, phục vụ các ngành công nghiệp cơ khí chế tạo, sản xuất ô tô, đóng tàu, dầu khí, đồ gia dụng, kết cấu thép, năng lượng. Hiện tại, Hòa Phát là doanh nghiệp Việt Nam duy nhất đầu tư sản xuất được thép cuộn cán nóng HRC.
Hòa Phát đang quyết liệt triển khai dự án Nhà máy sản xuất thép ray và thép đặc biệt tại KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Sau 3 tháng từ ngày khởi công, Nhà máy đã hoàn thành 35% tiến độ xây dựng, dự kiến bắt ra sản phẩm thép ray vào năm 2027, phục vụ các dự án đường sắt trọng điểm của Việt Nam và xuất khẩu ra thị trường quốc tế.