Trong các phương pháp điều trị được bác sĩ khuyến nghị, người bệnh chọn y học cổ truyền gồm châm cứu kết hợp thuốc chống viêm. Sau gần 3 tuần điều trị, tay phải bệnh nhân lấy lại được vận động duỗi các ngón tay.
Triệu chứng nhận biết bệnh liệt dây thần kinh quay gồm duỗi cổ tay yếu hoặc mất hoàn toàn – bàn tay rũ xuống như đang cầm một tờ báo; không duỗi được các ngón tay (đặc biệt ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa); tê bì mặt sau cẳng tay và mu bàn tay. Dấu hiệu đặc trưng là người bệnh không thể hướng mu bàn tay lên trên khi dang tay.
Dưới góc nhìn y học hiện đại, nguyên nhân chủ yếu do dây thần kinh bị chèn ép kéo dài. Một số nguyên nhân phổ biến gồm ngủ gục trên cánh tay (liệt đêm thứ bảy), sử dụng nạng chống nách không đúng cách; khối u, phình mạch chèn ép dây thần kinh. Bệnh nhân chấn thương gãy xương cánh tay (đặc biệt gãy 1/3 giữa), sai khớp, vết thương phần mềm. Nguyên nhân cũng có thể do viêm nhiễm hoặc bệnh lý toàn thân như đái tháo đường, viêm đa dây thần kinh, hoặc biến chứng sau tiêm bắp không đúng vị trí.
Theo y học cổ truyền, bệnh thuộc phạm vi “chứng tý” hoặc “bại” (liệt), do kinh lạc bị bế tắc, khí huyết vận hành không thông suốt trên đường kinh Tam Tiêu, Đại trường – nơi dây thần kinh quay đi qua vùng cánh tay. Ngoài ra, các yếu tố như phong, hàn, thấp xâm nhập gây tổn thương kinh cân, hoặc chính khí suy yếu (tỳ vị hư, khí huyết bất túc) cũng làm giảm nuôi dưỡng cân mạch.
Liệu trình điều trị được thực hiện kết hợp giữa y học cổ truyền và hiện đại, bao gồm: cố định, giảm phù nề bằng thuốc chống viêm và vitamin nhóm B (B1, B6, B12); xoa bóp nhẹ nhàng dọc theo cẳng tay; châm cứu với các huyệt Khúc Trì, Thủ Tam Lý, Hợp Cốc, Dương Khê, Ngoại Quan nhằm thông kinh lạc, bổ khí huyết; điện châm xung tần số thấp để kích thích phục hồi dẫn truyền thần kinh – cơ.
Người bệnh cần được phát hiện và điều trị càng sớm càng tốt, đặc biệt trong 3-6 tháng đầu – giai đoạn vàng để phục hồi. Đồng thời, cần kiên trì tập phục hồi chức năng mỗi ngày, tránh các tư thế gây chèn ép thần kinh như gác tay khi ngủ, đeo balo quá chặt vùng nách. Việc phối hợp điều trị giữa chuyên khoa Nội thần kinh, Phục hồi chức năng và Y học cổ truyền sẽ giúp đạt hiệu quả tối ưu.
Tin Gốc: Vnexpress
Sức Khỏe
Nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể gây ung thư dạ dày, phòng lây nhiễm thế nào?

Nỗi lo này càng tăng lên khi được giải thích rằng đây là các thương tổn tiền ung thư dạ dày.
Tuổi Trẻ Online xin giới thiệu ý kiến của GS.TS Trần Thiện Trung về mối liên quan và cách phòng bệnh.
Viêm dạ dày do nhiễm vi khuẩn H. pylori có thể đưa đến viêm teo niêm mạc, dị sản ruột, loạn sản.
Đây là yếu tố nguy cơ quan trọng của ung thư dạ dày, đặc biệt là ở những chủng H. pylori có biểu hiện với gene cagA và vacA-dương tính, trong đó gene vacA m1 có liên quan đến mức độ biệt hóa của ung thư, đến viêm teo niêm mạc và dị sản ruột trên người bệnh Việt Nam ở khu vực phía Nam và TP.HCM.
Vi khuẩn H. pylori được Robin Warren và Barry Marshall tìm ra tại Perth, phía Tây Úc vào tháng 4-1982, kể từ đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vi khuẩn này gây bệnh trên người.
Ngày 3-10-2005, sau 23 năm phát hiện vi khuẩn H. pylori, hai giáo sư người Úc là Robin Warren và Barry Marshall được trao giải Nobel Y học và Sinh lý học vì đã có những khám phá to lớn cho khoa học về vi khuẩn H. pylori gây bệnh viêm dạ dày, loét dạ dày - tá tràng và ung thư dạ dày.
Năm 1994, Tổ chức Quốc tế nghiên cứu về ung thư (IARC: International Agency for Research on Cancer), và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp H. pylori là nguyên nhân hàng đầu hay là nhóm 1 gây ung thư biểu mô tuyến dạ dày.
Theo phân loại viêm dạ dày của hệ thống Sydney (1990) và Sydney cập nhật (1994) tại Houston, Texas, Hoa Kỳ, cập nhật các tiêu chuẩn về sự phân chia các mức độ và các thương tổn của viêm dạ dày có hoặc không kèm theo viêm teo niêm mạc cũng như các thương tổn “tiền ung thư” khác như: dị sản ruột/chuyển sản ruột (intestinal metaplasia) và loạn sản/nghịch sản (dysplasia).
Các thương tổn trên được coi là tiền ung thư nhưng không phải tất cả đều gây bệnh ung thư dạ dày. Trên thế giới, liên quan giữa bệnh nhân có dị sản ruột hay chuyển sản thì nguy cơ ung thư dạ dày sẽ tăng lên gấp 6 -10 lần. Tại Việt Nam, tỉ lệ này là 5,3 lần.
Về chẩn đoán các thương tổn tiền ung thư dạ dày cần phải dựa trên mô bệnh học niêm mạc dạ dày (giải phẫu bệnh), nội soi chỉ có tính gợi ý quan sát. Vì vậy ghi chẩn đoán các thương tổn trên ở đơn thuốc ngay sau khi nội soi dạ dày là chưa chính xác, điều đó làm cho người bệnh thêm lo lắng, hoang mang.
Điều trị tiệt trừ H. pylori thành công có thể ngăn ngừa được sự tiến triển thành ung thư dạ dày, các thương tổn viêm teo niêm mạc, tiền ung thư đều giảm, và có khả năng phục hồi bình thường của niêm mạc dạ dày.
Tuy nhiên đối với ung thư dạ dày, một vấn đề quan trọng đặt ra cho đến nay là còn chưa biết rõ tiến trình viêm teo niêm mạc - dị sản ruột - loạn sản - ung thư dạ dày xảy ra khi nào, vào thời điểm nào, và sau khi điều trị tiệt trừ H. pylori thì có thay đổi, đảo ngược được tiến trình này hay không? Có thể phòng ngừa hoàn toàn được ung thư dạ dày hay không?
Vì vậy cần có những nghiên cứu tiếp tục theo nhiều hướng khác nhau, và người bệnh cần phải được theo dõi lâu dài để làm sáng tỏ thời điểm, nguồn gốc phát sinh cũng như các điều kiện để viêm dạ dày tiến triển thành các thương tổn tiền ung thư và ung thư dạ dày như đã được biết đến trong những nghiên cứu của các thập kỷ qua.
Cách ăn uống đúng cách có vai trò quan trọng trong phòng bệnh, vì phòng bệnh hiệu quả hơn chữa bệnh. Với các bệnh dạ dày, mục tiêu chữa trị không chỉ là hết triệu chứng mà còn giúp người bệnh ăn uống trở lại bình thường.
Để làm được điều này, mỗi gia đình từ ông bà, cha mẹ đến con cháu cần biết và quyết tâm thay đổi thói quen ăn uống. Vì dùng đũa, muỗng (thìa) của mình đang ăn để lấy/gắp thức ăn chung hoặc lấy thức ăn cho người khác, uống chung... là nguồn lây bệnh chủ yếu.
Tùy điều kiện sinh hoạt, có thể áp dụng cách ăn uống phù hợp nhằm hạn chế nguy cơ lây nhiễm và tái nhiễm vi khuẩn H. pylori.
- Cách thứ nhất: Dọn mỗi người một phần ăn riêng hoặc một khay ăn riêng như ở Pháp, Nhật Bản..., và gần đây đang được áp dụng tại Việt Nam.
- Cách thứ hai: Ngồi ăn chung, mỗi người một chén nước chấm riêng, mỗi món ăn có muỗng chung, đũa chung để lấy thức ăn, không dùng đũa/muỗng mình đang ăn gắp/lấy thức ăn.
- Cách thứ ba: Cách ăn ở một số nơi là dùng đũa gắp/lấy thức ăn chung, và dùng muỗng/thìa của mình để ăn.
- Cách thứ tư: Cách ăn dọn từng món của người Pháp và các nước tiên tiến gần đây được dùng trong các nhà hàng Việt Nam.
- Cách thứ năm: Khi ăn chung, gắp thức ăn chung, phải trở đầu đũa hay còn gọi là “ăn đũa hai đầu”.
Bên cạnh đó, sinh hoạt ăn uống điều độ, đúng giờ. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, thức ăn rau sống rửa không sạch, nên nấu chín. Ăn nhiều rau xanh, trái cây, hạn chế ăn mặn, thịt cá ướp muối, hun khói, thực phẩm được bảo quản bằng nitrat…
Trong khi điều trị ở giai đoạn viêm dạ dày cấp, có thể hạn chế các thức ăn cay, chua. Sau điều trị cần cho người bệnh ăn uống bình thường.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Sức Khỏe
50 năm thành phố mang tên Bác: Y tế chuyên sâu 'phủ sóng' khắp 168 phường, xã, đặc khu

Sau khi mở rộng địa giới hành chính, khoảng cách địa lý từng bước được thu hẹp bằng mạng lưới y tế hiện đại, kết nối đồng bộ và hiện diện trên toàn bộ 168 phường, xã của TP.HCM.
Đó không chỉ là sự mở rộng về quy mô hệ thống y tế, mà còn là bước hiện thực hóa tinh thần chỉ đạo của Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Phước Lộc: "Không để khoảng cách địa lý cản trở việc chăm sóc sức khỏe người dân".
Từng phải vượt biển vào đất liền để chạy thận, nhiều bệnh nhân ở Côn Đảo nay đã được điều trị ngay tại quê nhà. Đằng sau những ca chạy thận đầu tiên trên đảo là hành trình đưa thành tựu y tế chuyên sâu đến với người dân nơi "đầu sóng ngọn gió".
Nhớ lại khoảng thời gian trước đây anh H.V.T. (44 tuổi, người dân Côn Đảo) chia sẻ cùng Tuổi Trẻ, đầu năm 2025, anh bất ngờ mắc suy thận mạn giai đoạn cuối và phải chạy thận nhân tạo 2-3 lần mỗi tuần. Thế nhưng, Côn Đảo lúc đó lại chưa có đơn vị chạy thận nên anh buộc phải vào đất liền để thuê trọ tiện cho việc đi lại.
Vì phải chạy thận liên tục, anh T. hiếm khi được về nhà. Mỗi lần trở về là một lần đắn đo vì chi phí đi lại quá lớn. Nhiều lúc tàu chở khách ra Côn Đảo ngừng hoạt động, máy bay trở thành phương tiện gần như duy nhất. Thế nhưng một chuyến khứ hồi cùng các chi phí ăn ở, đi lại có thể ngốn gần 4 triệu đồng.
Trong khi đó, anh hiện không có việc làm. Biến cố bệnh tật lại càng khiến gánh nặng thêm chồng chất. "Lúc đó tôi chỉ mong Côn Đảo sớm có máy chạy thận để bà con không phải vất vả. Nhưng bây giờ giấc mơ đã thành hiện thực", anh T. nói.
Ngay sau khi sáp nhập, đầu tháng 7-2025 lãnh đạo Thành ủy TP.HCM cùng đoàn công tác của Sở Y tế TP.HCM đã có nhiều chuyến khảo sát và làm việc nhằm đưa ra giải pháp đưa y tế chuyên sâu đến đặc khu Côn Đảo.
Phó bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Phước Lộc đã chỉ đạo Ngành Y tế phải phát triển y tế chuyên sâu ngay tại Côn Đảo, không chỉ vì an sinh cho dân cư đảo mà còn là nhiệm vụ chiến lược của TP.HCM mở rộng.
Đây là bước đi thể hiện trách nhiệm chính trị, nhân văn sâu sắc và phù hợp với định hướng phát triển toàn vùng sau hợp nhất.
Chỉ trong 1 tháng sau, Ngành Y tế TP.HCM đã chính thức có đoàn bác sĩ chuyên khoa của bệnh viện đầu ngành TP.HCM đầu tiên đến luân phiên công tác, chuyển giao kỹ thuật cao. Đến nay đã có hàng trăm bác sĩ đến từ nhiều đợt khác nhau.
Hàng chục ca phẫu thuật đã được thực hiện, trong đó có nhiều ca cấp cứu nặng, phức tạp, điều mà trước đây gần như chỉ có thể chuyển khẩn vào đất liền. Nhiều kỹ thuật chuyên sâu lần đầu tiên được triển khai tại Côn Đảo, với sự hỗ trợ hội chẩn từ xa và những chuyến bay khẩn cấp của các chuyên gia từ đất liền ra đảo.
Không chỉ vậy đến tháng 5-2026, đơn vị chạy thận nhân tạo đã được thiết lập tại Trung tâm Y tế Quân dân y đặc khu Côn Đảo cho 3 người bệnh suy thận mạn đầu tiên, y tế Côn Đảo đã "thay da đổi thịt".
Nối tiếp nâng cao năng lực y tế cho Côn Đảo, tháng 12-2025 Ngành Y tế TP.HCM cũng đã đánh dấu một cột mốc đặc biệt khi Bệnh viện Từ Dũ cơ sở 2 với quy mô 300 giường đã chính thức ra mắt tại Cần Giờ.
Trong nhiều năm, người dân Cần Giờ vẫn phải di chuyển quãng đường dài vào trung tâm để được tiếp cận các dịch vụ y tế chuyên sâu. Nhất là trong những tình huống khẩn cấp, hành trình ấy không chỉ tốn thời gian, chi phí mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Bệnh viện Từ Dũ 2 ra đời đã thay đổi điều đó: người dân được khám, điều trị, cấp cứu, phẫu thuật và sinh con ngay tại địa phương, bởi đội ngũ y bác sĩ từ các bệnh viện đầu ngành của thành phố.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, bác sĩ Trần Ngọc Hải, Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, nhận định việc đưa y tế về gần dân là rất cần thiết, giảm áp lực di chuyển cho người dân thành phố. Trong 6 tháng đưa vào hoạt động, bệnh viện đã khám gần 30.000 người, phẫu thuật gần 500 trường hợp, giảm đáng kể chuyển tuyến.
Tiếp nối chi viện cho y tế vùng xa, từ ngày 1-6, Trung tâm Y tế khu vực Hồ Tràm tiếp nhận đợt hỗ trợ chuyên môn đầu tiên với 9 bác sĩ và 2 điều dưỡng đến từ Bệnh viện Nhi đồng 1, Bệnh viện Đa khoa Thủ Đức, Bệnh viện An Bình và Bệnh viện Mắt Bà Rịa - Vũng Tàu.
Bác sĩ Vũ Văn Nam, Giám đốc Trung tâm Y tế khu vực Hồ Tràm, cho biết thay đổi lớn nhất là người dân được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ khám, chữa bệnh cơ bản với các chuyên khoa cần thiết. Nếu trước đây trung tâm không có bác sĩ chuyên khoa mắt thì nay người dân đã được khám, điều trị ngay tại địa phương.
PGS Tăng Chí Thượng, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM, chia sẻ sau sáp nhập, ngành y tế TP.HCM xác định tinh thần phục vụ: "Y tế TP.HCM không chỉ mở rộng về không gian địa lý mà còn lan tỏa về tinh thần trách nhiệm đến những vùng xa nhất như Côn đảo".
TP.HCM ưu tiên mọi nguồn lực để rút ngắn khoảng cách thụ hưởng y tế giữa trung tâm và vùng xa, trong đó Côn Đảo là một trọng điểm. Đây cũng là minh chứng sinh động cho định hướng phát triển hệ thống y tế TP.HCM theo mô hình "đa tầng – đa cực – đa trung tâm", trong đó người dân ở vùng biển đảo, vùng xa vẫn phải được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng ngay tại địa phương mình sinh sống.
Ông Thượng cho biết thêm, ngay sau hợp nhất, hàng loạt bệnh viện đầu ngành của TP.HCM đã được phân công hỗ trợ toàn diện cho các bệnh viện khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu. Từ chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nhân lực, hỗ trợ quản trị đến trực tiếp tham gia điều trị các ca bệnh khó, hoạt động hỗ trợ đã tạo ra những chuyển biến rõ nét.
TS.BS Nguyễn Hoài Nam, Phó Giám đốc Sở Y tế TP.HCM, cho biết sau khi mở rộng địa giới hành chính, TP.HCM cũng đang nghiên cứu hình thành thêm các cụm y tế chuyên sâu tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương bên cạnh cụm y tế Tân Kiên, cụm y tế Thủ Đức, cụm Y tế Trung tâm. Riêng tại Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM định hướng phát triển một cụm y tế chuyên sâu đặt tại Bà Rịa.
Mục tiêu là hình thành cụm y tế chuyên sâu đủ năng lực cung cấp các dịch vụ kỹ thuật cao cho người dân khu vực phía Đông Nam Bộ, góp phần giảm áp lực cho các bệnh viện tại khu vực trung tâm TP.HCM.
Đối với khu vực Bình Dương cũ, hiện có các cơ sở y tế lớn như Bệnh viện Đa khoa Bình Dương, Bệnh viện Y học cổ truyền và Bệnh viện Phục hồi chức năng. TP.HCM đang nghiên cứu bổ sung thêm bệnh viện sản và bệnh viện nhi để hoàn thiện mạng lưới y tế khu vực.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Sức Khỏe
Bệnh ‘sốt đất’ làm 23 người chết tại Thái Lan: Bộ Y tế cảnh báo, đưa ra các biện pháp phòng ngừa

Mới đây, Thái Lan cảnh báo khẩn bệnh "sốt đất" sau khi ghi nhận 732 ca mắc, 23 ca tử vong, chủ yếu ở người làm nông, tiếp xúc đất và nước.
Trước nguy cơ dịch bệnh bùng phát tại Thái Lan, Cục Phòng bệnh khuyến cáo người dân chủ động phòng bệnh, nhận biết các triệu chứng sớm, đến cơ sở y tế kịp thời.
Theo Cục Phòng bệnh, Whitmore là bệnh ít gặp, chủ yếu liên quan đến phơi nhiễm từ môi trường, không phải là bệnh lây truyền phổ biến từ người sang người. Bệnh ghi nhận nhiều tại khu vực Đông Nam Á và Bắc Úc.
Tại Việt Nam, hằng năm vẫn ghi nhận một số ca bệnh rải rác, thường tăng nguy cơ sau mưa lớn, ngập lụt, bão lũ.
Theo đó, bệnh Whitmore (còn gọi là Melioidosis) là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Burkholderia pseudomallei gây ra. Vi khuẩn này tồn tại tự nhiên trong đất, bùn và nước bề mặt bị ô nhiễm.
Người có thể mắc bệnh khi tiếp xúc với đất, bùn, nước có chứa vi khuẩn qua các vết trầy xước, vết thương hở trên da; do hít phải bụi hoặc giọt nước bị nhiễm khuẩn; hoặc do sử dụng nguồn nước, thực phẩm bị ô nhiễm.
Bệnh Whitmore có biểu hiện lâm sàng đa dạng, dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác, gây khó khăn cho chẩn đoán sớm.
Bệnh có thể diễn biến nặng với các biểu hiện như viêm phổi, áp xe ở nhiều cơ quan, nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng và có nguy cơ tử vong nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.
Những người có bệnh nền như đái tháo đường, bệnh gan, bệnh thận, bệnh phổi mạn tính, suy giảm miễn dịch và người thường xuyên tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn là nhóm có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.
Để chủ động phòng bệnh Whitmore, Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện 8 biện pháp sau:
1. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với đất, bùn, nước đọng, nước bẩn, nhất là tại khu vực ô nhiễm, khu vực bị ngập úng sau mưa lớn, bão lũ.
2. Sử dụng phương tiện bảo hộ phù hợp như giày, ủng, găng tay khi lao động, làm ruộng, làm vườn, dọn vệ sinh môi trường, thu gom rác thải, bùn đất sau mưa lũ hoặc khi phải thường xuyên tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn.
3. Che kín và chăm sóc tốt các vết thương hở, vết loét, vết bỏng; tránh để vết thương tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn. Trường hợp bắt buộc phải tiếp xúc, cần băng kín bằng vật liệu chống thấm và vệ sinh sạch sẽ ngay sau đó.
4. Không đi chân trần tại khu vực đất ẩm ướt, bùn lầy, vùng ngập nước; hạn chế tắm, bơi, ngụp lặn ở ao, hồ, sông, kênh rạch, vùng nước đọng nghi bị ô nhiễm, đặc biệt khi có vết thương hở.
5. Giữ gìn vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng và nước sạch sau khi lao động, sau khi tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn và trước khi ăn, uống.
6. Sử dụng nước sạch trong sinh hoạt, ăn uống; bảo đảm an toàn thực phẩm, không sử dụng nguồn nước hoặc thực phẩm nghi bị ô nhiễm.
7. Người có bệnh nền như đái tháo đường, bệnh thận, bệnh phổi mạn tính, bệnh gan, suy giảm miễn dịch cần đặc biệt lưu ý thực hiện các biện pháp phòng bệnh nêu trên và chủ động bảo vệ các vết thương trên da để hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn.
8. Sau khi tiếp xúc với đất, bùn, nước bẩn, nhất là sau mưa bão, ngập lụt, nếu có biểu hiện sốt, ho, đau ngực, khó thở, nổi áp xe, nhiễm trùng da hoặc tình trạng nhiễm trùng kéo dài, cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, tư vấn, chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế khuyến cáo người dân không hoang mang, nhưng cần chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh, bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

