Đại gia đình tôi có 19 người, tính cả ông bà nội, cô chú, bố mẹ, anh chị em và các cháu thì đó là một gia đình khá đông đúc.
Tôi là con út của ba mẹ, vợ chồng tôi có hai con. Mùa tựu trường tới, đứa út sẽ vào lớp 6. Đứa cháu gọi tôi bằng chú là con của anh trai tôi kết hôn nhiều năm nhưng hiếm muộn, vẫn chưa có con. Những người cháu khác cũng đã lập gia đình, nhưng con của họ đều xấp xỉ tuổi con út tôi.
Nhìn lại cả đại gia đình, tôi chợt nhận ra đã rất lâu rồi chúng tôi không có một em bé mới sinh. Không còn cảnh mọi người chuyền tay nhau bế bồng, không còn tiếng khóc oe oe trong những dịp họp mặt. Đại gia đình thiếu em bé.
Tôi từng nghe một vài cháu nói rằng rất thích trẻ con, nhưng là con của người khác. Thấy em bé thì bế bồng, nựng nịu, chơi đùa rất vui. Nhưng khi hỏi bao giờ sinh con thì câu trả lời thường là: “Để từ từ đã”. Thế nên thích trẻ con không đồng nghĩa với việc muốn sinh con.
Ngày trước, chuyện sinh con dường như là một phần rất tự nhiên của hôn nhân. Còn bây giờ, nhiều người trẻ nhìn việc có con như một quyết định cần cân nhắc rất kỹ. Vì có nhiều nỗi sợ: Sợ không đủ tiền, sợ không đủ thời gian…
Nhưng tôi nghĩ còn một nguyên nhân khác ít được nhắc tới hơn. Đó là môi trường xã hội ngày càng kém thân thiện với trẻ em.
Chỉ cần đưa một đứa trẻ ra ngoài là cha mẹ có thể nhận về vô số ánh nhìn khó chịu. Trẻ chạy nhảy trong quán cà phê bị cho là làm phiền người khác. Trẻ khóc trên máy bay bị xem như một sự quấy rầy. Trẻ hiếu động ở nơi công cộng dễ trở thành đối tượng bị phàn nàn.
Nhiều không gian được thiết kế cho người lớn nhưng lại thiếu sự bao dung với trẻ nhỏ. Dần dần, trẻ em trở thành những “vị khách không được chào đón” trong chính cộng đồng mà các em đang lớn lên.
Người lớn ngày nay cũng quen với cuộc sống gọn gàng, tiện lợi và ít ràng buộc hơn. Một đứa trẻ đồng nghĩa với việc phải thức đêm, phải hy sinh thời gian cá nhân, phải thay đổi nhiều kế hoạch. Trong mắt không ít người, trẻ con trở thành một “gánh nặng” nhiều hơn là một niềm vui. Đó là điều khiến tôi trăn trở vì nếu nhìn xa hơn, đó là câu chuyện của một xã hội đang già đi.
Chúng ta học hành, tìm việc, phấn đấu, kiếm tiền – sẽ có ý nghĩa gì nếu vắng thế hệ kế tiếp?
Bấy lâu nay tôi vẫn không cho rằng giải pháp nằm ở những lời kêu gọi sinh nhiều con. Điều cần thiết là tạo ra một môi trường mà ở đó việc có con không trở thành một cuộc đánh đổi quá lớn. Một môi trường có chi phí nuôi con hợp lý hơn, có nhiều hỗ trợ hơn cho các gia đình trẻ và quan trọng nhất là thân thiện hơn với trẻ em.
"Việc thu phí ôtô vào nội đô là tất yếu để hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân, giúp bớt tắc đường và giảm ô nhiễm. Hiện nay, rất nhiều tuyến cao tốc và quốc lộ đổ về Hà Nội như (cao Tốc Hà Nội - Hải phòng, Hà Nội- Thái Nguyên, Hà Nội - Bắc Giang - Lạng Sơn, Hà Nội - Hòa Bình, Hà Nội - Pháp Vân - Cầu Giẽ, Hà Nội - Lào Cai, quốc lộ 6, quốc lộ 32, quốc lộ 1A...). Khi xe đi qua địa phận Hà Nội nếu đi qua đường vành đai 3.5, vành đai 4 (khi các con đường làm xong) thì vừa xa và vừa gặp trạm thu phí.
Nhưng nếu xe qua địa phận Hà Nội mà đi xuyên qua nội đô sẽ đỡ được nhiều đường và không mất phí. Nên việc tắc đường là đương nhiên vì ngoài xe của những người dân sinh sống ở nội đô, xe của người đi làm từ ngoài vào hàng ngày còn có xe đi qua địa phận Hà Nội theo cách đi xuyên qua nội đô.
Vì vậy, cần thu phí ôtô vào nội đô mới có kinh phí để sau này trả cho các nhà đầu tư để làm hầm hai tầng, ba tầng đi xuyên qua nội đô. Tiền trả cho nhà đầu tư về xây hầm như vậy là phí ôtô vào nội đô, phí thoát nước, phí đỗ xe. Không thu phí ôtô vào nội đô thì không thể phát triển được các đường hầm đi xuyên nội đô và các đường vành đai vùng thủ đô không phát huy được tác dụng. Việc này là cần thiết để có kinh phí chi trả cho phát triển phương tiện công cộng".
Đó là quan điểm của độc giả Ngandkkd khi Hà Nội dự kiến thu phí đối với phương tiện cơ giới đường bộ lưu thông vào nội đô nhằm góp phần giảm ùn tắc và ô nhiễm môi trường cụ thể như sau: khu vực trong vành đai 1 thực hiện từ ngày 1/1/2028; trong vành đai 2 từ ngày 1/1/2030 và trong vành đai 3 từ ngày 1/1/2032. Đây được xem là giải pháp cần thiết nhằm điều tiết nhu cầu sử dụng phương tiện cá nhân, góp phần giảm lưu lượng giao thông và khuyến khích sử dụng phương tiện công cộng.
Đồng tình với đề án thu phí phương tiện vào nội đô, bạn đọc Giainhan nhấn mạnh: "Ô nhiễm không khí tại Hà Nội đã đến mức báo động, không thể chần chừ được nữa. Thay vì chỉ thu phí, thành phố nên mạnh tay áp dụng lệnh cấm phương tiện chạy xăng đi vào khu vực phố cổ hoặc các tuyến đường lõi trong khung giờ cao điểm. Kinh nghiệm từ các nước cho thấy, muốn nhanh thì phải mạnh. Chỉ cần cấm xe xăng là hiệu quả cải thiện chất lượng sống sẽ thấy rõ ngay tức thì".
>> Nên kiểm định khí thải xe máy sản xuất từ 5, 10 hay 15 năm?
Trong khi đó, cho rằng việc thu phí phương tiện vào nội đô cần đi kèm nhiều giải pháp đồng bộ, độc giả Sông Đông bình luận: "Thu phí cũng được, nhưng phải đi kèm hệ thống giao thông công cộng thuận tiện và có thể miễn phí cho người dân đi lại".
"Song song với việc thu phí để hạn chế xe cá nhân, thành phố cần phải đầu tư đồng bộ và mạnh mẽ hơn nữa vào hệ thống giao thông công cộng để người dân có phương án thay thế", bạn đọc Yyuya nói thêm.
Lo ngại lộ trình thu phí phương tiện vào nội đô quá gấp gáp, độc giả Hà Khang phân tích: "Cần có giải pháp đồng bộ cho cả thành phố. Nếu thu phí hoặc cấm xe cơ giới vào Vành đai 1, Vành đai 2 thì áp lực sẽ dồn lên khu vực xung quanh. Về bản chất khu vực đó vẫn thuộc Thủ đô và ô nhiễm, khói bụi, tắc đường vẫn diễn ra".
Bạn đọc Longnt đặt câu hỏi: "Lộ trình mở rộng thu phí từ Vành đai 1 (năm 2028) ra Vành đai 2 (năm 2030) chỉ vỏn vẹn hai năm liệu có quá gấp và thiếu tính khả thi về mặt hạ tầng? Khi siết Vành đai 1, áp lực giao thông tĩnh sẽ dồn vào rìa vành đai này, buộc phải xây các bãi xe trung chuyển lớn. Nếu chỉ hai năm sau đã đẩy vùng thu phí ra Vành đai 2, các bãi xe Vành đai 1 chưa kịp khấu hao, vận hành sẽ bị lãng phí, trong khi quy mô phương tiện ở Vành đai 2 lớn gấp nhiều lần đòi hỏi thời gian chuẩn bị hạ tầng khổng lồ hơn.
Theo tôi, thành phố nên giãn khoảng cách giữa hai giai đoạn này ra ít nhất 5-7 năm để hạ tầng Vành đai 1 kịp thích ứng, tối ưu hóa đầu tư, và chờ hệ thống Metro hoàn thiện để đón dòng người trung chuyển".
"Chỗ tôi ở, khoảng giữa năm 2024 giá căn hộ là khoảng 3,8 tỷ - 4 tỷ đồng một căn 3 phòng ngủ, chưa ra sổ. Chỉ một năm sau, giá tăng lên 4,8 tỷ đồng mà chủ nhà chưa muốn bán mặc dù không có bất kỳ sự đột biến gì (giao thông, tiện ích...).
Tại thời điểm tăng nóng tôi có hỏi một môi giới thì cậu ấy bảo rao với giá vậy thôi chứ thanh khoản thấp lắm. Tôi có trực tiếp gọi dò hỏi một môi giới khác thì nhận được câu trả lời là "hết rồi, mời anh đi xem dự án abc".
Vậy nên cái sự tăng giá ảo này tôi nghĩ là có bàn tay của mấy bạn đầu cơ vùng ven. Rao giá như vậy, họ có mất gì đâu? Cứ đăng tin rao bán đẩy giá căn hộ vùng lõi lên, có người hỏi thì bảo hết hoặc thấy giá cao quá thì người mua sẽ phải dạt ra vùng ven mà mua. Chủ nhà thì lấy đó làm nền giá mới".
Độc giả nickname HoathaiSG bình luận như trên, kể câu chuyện căn hộ nơi đang sống đã từng tăng giá mạnh, dù không có đột phá đáng kể về tiện ích, giao thông.
Bình luận này được viết sau bài Vì sao người mua dè dặt xuống tiền dù chung cư chững giá?. Theo đó, chung cư chững giá nhưng vẫn neo ở mức cao, lãi suất biến động, hiệu suất cho thuê thấp khiến người mua đầu tư và ở thực đều thận trọng xuống tiền.
Phần lớn người mua đang giữ tâm lý chờ đợi và quan sát với kỳ vọng thị trường có nhịp điều chỉnh giá. Nguồn cung hết khan hiếm nhưng 80% nằm ở khu vực ngoại ô khiến người mua ở thực làm việc ở trung tâm "chưa vội vàng ra quyết định".
Theo một thăm dò của VnExpress với gần 8.500 độc giả, hơn 21% người tham gia cho biết tiếp tục thuê nhà và tích lũy tài chính trong bối cảnh giá nhà và lãi suất đều neo cao. Gần 20% độc giả cho biết hoãn kế hoạch mua nhà đầu năm nay và chờ nhịp giảm của thị trường.
Tôi rất đồng cảm với chia sẻ của tác giả bài viết "Đám cưới 'nhạt' vì ăn 30 phút đã đứng dậy ra về". Bản thân tôi cũng để ý vài năm gần đây, đặc biệt ở các thành phố lớn, nhiều đám cưới được tổ chức vào buổi trưa trong tuần. Lý do là để tranh thủ giờ nghỉ trưa nên đồng nghiệp, đặc biệt là dân văn phòng sẽ đến dự đông đủ hơn.
Lần gần nhất, tôi nhận thiệp mời cưới của một người bạn thân. Thời gian tổ chức tiệc là vào 11h30 trưa thứ tư. Hôm đó, tôi xin ra ngoài sớm một chút, vội vàng chạy xe đến nhà hàng. Bên ngoài đông, bên trong cũng đông, nhưng không khí lại khá trầm lặng. Ai cũng ăn mặc chỉnh tề, cười nói xã giao, chụp vài tấm hình rồi nhanh chóng vào bàn.
Tiệc bắt đầu gần như ngay lập tức. Món ăn lên nhanh, khách ăn cũng nhanh. Bàn tôi có người vừa ngồi xuống đã nhìn đồng hồ, nhẩm tính còn bao nhiêu phút trước giờ phải quay lại công ty. Đến giữa buổi, có người xin phép về sớm khi món chính còn chưa dọn hết.
Có lẽ hiểu tâm lý của khách mời nên cô dâu, chú rể cũng đi chào các bàn một cách gấp gáp. Mỗi bàn, họ dừng lại nâng ly, nói vài câu cảm ơn, rồi lại hối hả qua bàn khác. Tôi nhìn bạn mình - nhân vật chính của ngày hôm đó - mà cảm giác như bạn cũng đang "chạy show" trong chính đám cưới của mình, chẳng kịp nói đôi ba câu chuyện với người quen.
Ăn xong (khoảng 45 phút), tôi cũng ra về khi tiệc đã vãn bớt. Trên đường quay lại công ty, trong đầu tôi có một cảm giác hụt hẫng khó gọi tên. Mọi thứ trong đám cưới thực ra vẫn diễn ra đầy đủ: có tiệc, có khách, có nghi thức trang trọng. Nhưng dường như nó lại thiếu một thứ rất quan trọng - cảm giác vui trọn vẹn.
>> Chê cỗ cưới chán dù bỏ 500 K tiền mừng
Tôi nhớ những đám cưới khác, thường tổ chức vào buổi tối hoặc cuối tuần. Khách đến không vội, ngồi lại lâu hơn, câu chuyện cũng dài hơn. Có thể không phải ai cũng ở lại đến cuối, nhưng những người ở lại thì thực sự "dự tiệc" chứ không phải chỉ "ghé qua" điểm danh. Cô dâu chú rể cũng có thời gian trò chuyện, cười nhiều hơn, và đôi khi là mệt theo kiểu rất hạnh phúc.
Tất nhiên, tôi hiểu vì sao mọi người chọn tổ chức cưới vào giờ trưa ngày thường? Cuộc sống ở thành phố bận rộn, ai cũng có công việc, có áp lực riêng. Đồng nghiệp là một phần quan trọng trong các mối quan hệ, và việc tạo điều kiện để họ đến dự là điều dễ hiểu. Với nhiều người, đám cưới cũng dần trở thành một thủ tục cần hoàn thành gọn gàng, hợp lý.
Nhưng có lẽ chính vì sự "hợp lý" đó mà đám cưới đang trở nên công nghiệp hơn. Khách đến đúng giờ, ăn nhanh, chúc vội, về sớm. Niềm vui vì thế cũng bị chia nhỏ theo từng khung giờ, chen vào giữa những cuộc họp, những deadline còn dang dở.
Tôi không cho rằng cách tổ chức đó là đúng hay sai? Mỗi thời mỗi khác, mỗi người một lựa chọn. Nhưng nếu hỏi cảm nhận cá nhân, tôi vẫn thấy tiếc. Tiếc cho một dịp vốn dĩ nên là khoảnh khắc đáng nhớ, để cảm xúc được kéo dài thêm một chút, nhưng đôi khi bị biến thành một cuộc hẹn gấp gáp. Suy cho cùng, đám cưới đâu chỉ là một bữa tiệc.