Theo Đề cương, giai đoạn 2024 – 2025, quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của TP.HCM đạt khoảng 100 tỉ USD, dân số thực tế (tính cả người nhập cư chưa đăng ký thường trú) dao động khoảng 10 – 14 triệu người và GRDP bình quân đầu người ở mức gần 7.500 USD/người/năm. Với mục tiêu GRDP dự kiến đến năm 2050 đạt khoảng 1.200 tỉ USD, đồng nghĩa nền kinh tế TP trong 25 năm tới tăng vọt gấp khoảng 12 lần. Về thu nhập bình quân đầu người, đến năm 2030 nếu đạt 14.000 USD thì mức tăng đạt gấp gần 2 lần hiện nay, đến năm 2035 chạm mốc 25.000 USD – gấp gần 3,5 lần, và đến năm 2045 tương đương mức tăng gấp 10 lần hiện nay, đạt 75.000 USD.
TS Nguyễn Văn Điển, Trưởng khoa Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị khu vực II, đánh giá: mục tiêu tăng trưởng quy mô kinh tế và thu nhập bình quân đầu người của TP.HCM theo đề án tuy tham vọng nhưng hoàn toàn khả thi. Cơ sở cho niềm tin này đến từ những lợi thế địa kinh tế, địa chính trị và đặc biệt là bước đột phá về mặt thể chế khi T.Ư đã cho phép TP xây dựng luật Đô thị đặc biệt.
Ông Nguyễn Văn Điển chỉ rõ: TP.HCM hiện đã được phê duyệt đề án khu thương mại tự do, khu logistics thông minh tích hợp, rồi đã hình thành Trung tâm tài chính quốc tế. Đây không chỉ là những “cỗ máy” tạo ra giá trị thặng dư rất cao mà còn là hấp lực hút dòng vốn đầu tư mạnh mẽ từ các nền kinh tế lớn. Trong bối cảnh nhiều nước đã phải đối mặt với tình trạng thiếu nhân công lao động, già hóa dân số nên nguồn lực sẽ được đẩy về địa chỉ năng động với dân số trẻ, dân số “vàng” như TP.HCM. Các nguồn vốn, nguồn lực từ Singapore, Hồng Kông, Nhật Bản hoặc Mỹ cũng sẽ đổ về đây.
Cùng với đó, TP.HCM với vị thế chiến lược cho phép phát triển mạnh kinh tế biển chất lượng cao tại Cần Giờ, Cái Mép – Thị Vải; kết hợp cùng hạ tầng kết nối giữa đường sắt, đường sắt cao tốc, đường bộ, đường thủy sẽ tạo nên những “hub” kinh tế biển thu hút dân cư, nguồn lực, dòng vốn chất lượng cao. Đây sẽ là một trong những động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng rất nhanh. Ngoài ra, TP.HCM cũng quy tụ được nguồn kiều hối lớn đổ về mỗi năm, tạo lực đẩy tăng trưởng đầu tư.
“Một lưu ý nữa là đối với những nước đang phát triển và có dư địa phát triển, dân số trẻ cùng tiềm năng thuận lợi thì tốc độ tăng trưởng luôn cao hơn các nước đã phát triển như Nhật Bản hoặc Mỹ. Tốc độ tăng trưởng của các cường quốc trung bình chỉ khoảng 1 – 3%/năm. Nghĩa là giai đoạn các nước phát triển trong 50 năm tới, TP.HCM vẫn hoàn toàn có thể đạt tới mức thu nhập bình quân đầu người vào top đầu của châu Á”, TS Nguyễn Văn Điển nói.
TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương TP.HCM, nhận xét việc TP.HCM vừa phê duyệt Đề cương quy hoạch là một bước đi rất đặc biệt, bởi đây không còn là một bản quy hoạch thông thường mà là một chiến lược định vị tương lai của đô thị lớn nhất cả nước. Theo đề cương, TP đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân tối thiểu 10%/năm trong suốt giai đoạn 2025 – 2050 và quy mô GRDP đến năm 2050 dự kiến đạt khoảng 1.200 tỉ USD. Nếu đặt trong tương quan quốc tế, mục tiêu GRDP 1.200 tỉ USD là rất tham vọng. Con số này cao gấp nhiều lần quy mô kinh tế hiện nay của TP.HCM và tương đương với GDP của nhiều nền kinh tế phát triển trên thế giới. Điều đó cho thấy TP không còn đặt mục tiêu trở thành trung tâm kinh tế lớn nhất VN mà đang hướng đến vị thế của một cực tăng trưởng có tầm ảnh hưởng khu vực.
Tuy nhiên, TS Trần Việt Anh cho rằng vấn đề quan trọng không phải là GRDP đạt bao nhiêu mà là chất lượng của GRDP thế nào. Trong quy hoạch được Thủ tướng phê duyệt trước đó, TP.HCM đặt mục tiêu đến năm 2030 GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 14.800 – 15.400 USD, khu vực dịch vụ chiếm trên 60% GRDP, kinh tế số đóng góp trên 40% GRDP, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp khoảng 60% vào tăng trưởng. Đây mới là những chỉ số phản ánh chất lượng phát triển và năng lực cạnh tranh thực sự của TP.
Điều đặc biệt của quy hoạch lần này là tầm nhìn 100 năm. Trên thế giới, rất ít đô thị xây dựng chiến lược phát triển với khoảng thời gian dài như vậy vì đòi hỏi tư duy vượt ra khỏi giới hạn của các nhiệm kỳ quản lý và các chu kỳ đầu tư thông thường. Theo đề cương mới, TP.HCM được định vị là đầu mối giao thương quốc tế, cửa ngõ kết nối ra biển của quốc gia, vận hành theo mô hình siêu đô thị đa trung tâm với hệ thống hạ tầng hiện đại và quản trị thông minh. Vì thế theo TS Trần Việt Anh, trong tầm nhìn 100 năm, TP.HCM cần xác định ba mục tiêu chiến lược. Thứ nhất, trở thành trung tâm tài chính và đổi mới sáng tạo hàng đầu châu Á. Nếu chỉ so với các địa phương trong nước thì tầm nhìn sẽ quá nhỏ. Đối tượng so sánh của TP.HCM phải là các trung tâm như Singapore, Thượng Hải (Trung Quốc) hay Seoul (Hàn Quốc).
Thứ hai, chuyển từ mô hình “thành phố đơn cực” sang “siêu vùng đô thị”. Sau khi mở rộng không gian phát triển, phạm vi nghiên cứu quy hoạch TP.HCM đã bao trùm khu vực khoảng 6.772 km2 và liên kết với các địa phương xung quanh như Tây Ninh, TP.Đồng Nai, Đồng Tháp, Lâm Đồng cùng không gian biển liên quan. Đây là cơ sở để hình thành một đại đô thị vùng thay vì chỉ là một đô thị trung tâm như trước đây.
Thứ ba, lấy con người làm trung tâm. Theo quy hoạch hiện hành, dân số thường trú của TP.HCM dự kiến đạt khoảng 11 triệu người vào năm 2030 và khoảng 14,5 triệu người vào năm 2050. Một số kịch bản quy hoạch tổng thể mới còn dự báo quy mô dân số có thể lên tới khoảng 22 triệu người trong dài hạn. Điều đó cho thấy áp lực rất lớn về nhà ở, giao thông, giáo dục, y tế và môi trường sống.
“Tôi cho rằng giá trị lớn nhất của quy hoạch 100 năm không nằm ở mục tiêu GRDP 1.200 tỉ USD hay tăng trưởng hai con số. Những con số đó có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển. Điều quan trọng hơn là TP.HCM đang bắt đầu trả lời một câu hỏi lớn hơn: Đến cuối thế kỷ 21, TP.HCM muốn được thế giới biết đến như một TP nào? Nếu câu trả lời là một trung tâm tài chính quốc tế, một cực đổi mới sáng tạo hàng đầu châu Á và một đô thị đáng sống của khu vực, thì mọi quy hoạch về hạ tầng, không gian đô thị, giáo dục, khoa học, công nghệ và thu hút nhân tài từ hôm nay đều phải được thiết kế để phục vụ mục tiêu đó. Đó mới là tinh thần cốt lõi của một quy hoạch 100 năm, không phải dự báo tương lai, mà là kiến tạo tương lai”, TS Trần Việt Anh kỳ vọng.
Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn - SJC giảm giá vàng miếng 500.000 đồng mỗi lượng, mua vào còn 154 triệu đồng, bán ra 157 triệu đồng. ACB giảm giá vàng miếng SJC mỗi lượng 1 triệu đồng, mua vào 153,5 triệu đồng, bán ra 156,5 triệu đồng. Công ty Mi Hồng giảm giá mua vàng miếng 700.000 đồng, xuống 154,8 triệu đồng; bán ra giảm 400.000 đồng, còn 156,8 triệu đồng… Vàng nhẫn cũng giảm 500.000 đồng mỗi lượng, Công ty SJC mua vào 153,8 triệu đồng, bán ra 156,8 triệu đồng.
Giá vàng thế giới sau khi tăng mạnh lên 4.542 USD/ounce trong phiên giao dịch Mỹ (đêm 2.6) đã sụt giảm liên tục sau đó, xuống 4.470 USD/ounce vào sáng 3.6. Vàng khá chật vật giữ mức 4.500 USD/ounce khi thị trường lao động Mỹ khá ổn định, với số lượng việc làm sẵn có tăng nhiều hơn dự kiến trong tháng 4. Theo Khảo sát Việc làm và Tỷ lệ luân chuyển lao động hàng tháng (JOLTS) của Bộ Lao động, số lượng việc làm cần tuyển trong tháng 4 (thước đo nhu cầu lao động) đã tăng lên 7,62 triệu, cao hơn so với con số 6,89 triệu của tháng 3. Các nhà kinh tế trước đó dự đoán con số này sẽ tương đối không thay đổi, ở mức 6,87 triệu. Số lượng việc làm sẵn có đã tăng khoảng nửa triệu so với tháng 4 năm 2025. Theo một số nhà phân tích, dữ liệu thị trường lao động có thể gây áp lực lên giá vàng, vì thị trường lao động ổn định tạo điều kiện cho Cục Dự trữ liên bang tập trung vào mối đe dọa lạm phát dai dẳng và có khả năng tăng lãi suất vào cuối năm.
Trong báo cáo thường niên phân tích vai trò quốc tế của đồng euro, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) lưu ý rằng, mặc dù nhu cầu vàng của các ngân hàng trung ương đã chậm lại vào năm ngoái, nhưng vẫn đủ để đẩy vàng vượt qua trái phiếu kho bạc Mỹ, trở thành tài sản dự trữ chiếm tỷ trọng lớn nhất trên toàn cầu. Trong báo cáo xu hướng vàng vật chất cuối năm, Hội đồng Vàng Thế giới cho biết, các ngân hàng trung ương đã tăng dự trữ vàng chính thức thêm 863 tấn, giảm nhẹ so với hơn 1.000 tấn được mua trong mỗi năm của ba năm trước đó. ECB cho rằng bên cạnh vai trò là công cụ đa dạng hóa, các ngân hàng trung ương cũng coi kim loại quý này như một công cụ phòng ngừa rủi ro địa chính trị.
Chương trình mang đến nhiều ưu đãi về thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại và giải pháp tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành và tăng năng lực cạnh tranh.
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế là nghiệp vụ cốt lõi, gắn liền với nhiều giao dịch như phát hành và thanh toán thư tín dụng (L/C), nhờ thu, chuyển tiền quốc tế và xử lý chứng từ. Mỗi nghiệp vụ phát sinh các loại phí riêng, phụ thuộc vào giá trị và tần suất giao dịch của từng doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp có quy mô giao dịch lớn hoặc phát sinh thanh toán thường xuyên, các chi phí này không còn mang tính đơn lẻ mà trở thành một cấu phần vận hành đáng kể khi cộng dồn theo thời gian, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI.
Ở chiều xuất khẩu, thời gian thu tiền phụ thuộc nhiều vào phương thức thanh toán và quá trình xử lý chứng từ. Việc phát sinh thêm chi phí hoặc kéo dài thời gian xử lý có thể ảnh hưởng trực tiếp đến vòng quay vốn và hiệu quả sử dụng dòng tiền của doanh nghiệp. Trong khi đó, doanh nghiệp nhập khẩu cần đồng thời đảm bảo thanh toán đúng hạn cho đối tác nước ngoài và kiểm soát chi phí để tối ưu giá vốn hàng hóa.
Trong bối cảnh biên lợi nhuận ngày càng thu hẹp, chi phí thanh toán quốc tế không còn là chi phí giao dịch đơn thuần mà gắn trực tiếp với hiệu quả sử dụng vốn và năng lực quản trị dòng tiền của doanh nghiệp. Đây cũng là lý do nhiều doanh nghiệp bắt đầu rà soát kỹ hơn các khoản phí ngân hàng phát sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, Eximbank triển khai chương trình CIB Trade Return 2026 với trọng tâm tối ưu chi phí tại các nghiệp vụ thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại có tần suất sử dụng cao.
Cụ thể, đối với doanh nghiệp xuất khẩu, chương trình áp dụng chính sách miễn phí nhận tiền, phí xử lý chứng từ và phí thông báo L/C, đồng thời giảm đến 70% phí thanh toán L/C và nhờ thu. Việc tối ưu chi phí tại các khâu giao dịch giúp doanh nghiệp cải thiện vòng quay vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng dòng tiền và tăng tính chủ động trong hoạt động thương mại quốc tế.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, Eximbank miễn phí chuyển tiền quốc tế và ký hậu vận đơn, đồng thời giảm đến 70% phí phát hành L/C, phí thanh toán L/C và nhờ thu. Cấu trúc ưu đãi được thiết kế theo nhu cầu giao dịch thực tế, hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát chi phí nhập khẩu, tối ưu kế hoạch tài chính và nâng cao hiệu quả vận hành.
Chương trình CIB Trade Return 2026 được triển khai xuyên suốt năm 2026, từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31.12.2026, áp dụng cho khách hàng doanh nghiệp lớn (có doanh thu từ 1.000 tỷ đồng trở lên) và doanh nghiệp FDI bao gồm các khách hàng mới hoặc chưa phát sinh doanh số thanh toán quốc tế tại Eximbank trong vòng 6 tháng gần nhất, cũng như các khách hàng hiện hữu đang giao dịch tại ngân hàng.
Trong bối cảnh doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần kiểm soát chi phí để duy trì biên lợi nhuận, các giải pháp tối ưu chi phí giao dịch và vận hành dòng tiền đang trở thành yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp có tần suất giao dịch cao và nhu cầu thanh toán thường xuyên.
Sau nhịp giảm trong phiên sáng, thị trường chứng khoán bất ngờ hồi phục mạnh về cuối ngày 8/5 khi dòng tiền quay trở lại nhóm cổ phiếu vốn hóa lớn, giúp VN-Index đảo chiều tăng hơn 6 điểm và lấy lại mốc 1.915 điểm.
Trong phiên sáng, VN-Index mở cửa tăng nhẹ nhưng nhanh chóng quay đầu giảm khi sắc đỏ chiếm ưu thế trên bảng điện tử. Tuy vậy, áp lực bán không quá lớn nên biên độ điều chỉnh của thị trường vẫn được kiểm soát. Thanh khoản trong phần lớn thời gian giao dịch ở trạng thái thận trọng.
Đến cuối phiên sáng, đà giảm có phần nới rộng khi một số cổ phiếu thuộc nhóm Vingroup suy yếu, trong khi các mã trụ khác chưa đủ lực nâng đỡ thị trường.
Chốt phiên sáng, VN-Index giảm 9,27 điểm, tương ứng 0,49%, xuống 1.899,74 điểm. Trên HOSE, có 82 mã tăng và 205 mã giảm.
Tuy nhiên, diễn biến trong phiên chiều thay đổi đáng kể khi lực cầu gia tăng mạnh tại nhiều nhóm ngành, đặc biệt ở nhóm tài chính và bất động sản. VN-Index có thời điểm tiến sát mốc 1.920 điểm trước khi thu hẹp nhẹ biên độ về cuối phiên do rung lắc ngắn hạn.
Kết phiên, VN-Index tăng 6,26 điểm, tương ứng 0,33%, lên 1.915,37 điểm. Tổng khối lượng giao dịch trên HOSE đạt hơn 944 triệu cổ phiếu, tương ứng giá trị hơn 28.137 tỷ đồng. Trong đó, giao dịch thỏa thuận đóng góp khoảng 103,4 triệu đơn vị.
Xét theo nhóm ngành, cổ phiếu công nghệ dẫn dắt đà tăng khi chỉ số ngành tăng 0,83%. Dù cổ phiếu FPT giảm 1,51%, một số mã khác như GEE tăng 4,83% góp phần giữ sắc xanh cho nhóm này.
Nhóm tài chính là động lực quan trọng của thị trường với giá trị giao dịch hơn 10.123 tỷ đồng, cao nhất toàn sàn.
Nhiều cổ phiếu chứng khoán và ngân hàng tăng tích cực như VIX tăng 5,08%, MSB tăng 3,85%, BID tăng 3,79%, SHB tăng 1,06% và CTG tăng 1,12%. Trong đó, VIX dẫn đầu thanh khoản toàn thị trường với gần 79,5 triệu cổ phiếu được sang tay.
Nhóm bất động sản cũng giao dịch khởi sắc, đóng góp tích cực vào diễn biến chỉ số. NVL tăng 3,93% với thanh khoản hơn 41 triệu cổ phiếu, trong khi VHM tăng 1,55% và VIC tăng 0,89%. Một số mã khác như DXG đứng giá, còn CEO, DIG, PDR hay VRE điều chỉnh nhẹ.
Ở chiều ngược lại, nhóm viễn thông là ngành giảm mạnh nhất thị trường khi chỉ số ngành mất 1,44%. VGI giảm 2,15%, trong khi một số mã như FOX hay VTC giữ được sắc xanh.
Nhóm dịch vụ hạ tầng cũng chịu áp lực điều chỉnh với nhiều cổ phiếu điện, khí giảm sâu. POW giảm 2,44%, GAS giảm 1,71%, còn NT2 mất tới 5,54%.
Trong nhóm hàng tiêu dùng và nông nghiệp, MSN, VNM, DBC, SAB đồng loạt giảm điểm. Ngược lại, HAG tăng 0,91%, trong khi VHC và KDC đứng tham chiếu.