Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ngày 29/5 phát biểu dẫn đề về hòa bình, an ninh quốc tế và khu vực tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 23 ở Singapore. Đây là lần đầu tiên lãnh đạo cao nhất của Việt Nam phát biểu khai mạc Đối thoại Shangri-La, diễn đàn an ninh hàng đầu châu Á, với sự tham dự của khoảng 500 đại biểu từ hơn 40 quốc gia.
Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung cho hay bài phát biểu là điểm nhấn của sự kiện, thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tình hình thế giới hiện nay, những thách thức đặt ra và những kiến nghị, đề xuất quan trọng, nhận được sự quan tâm và phản hồi tích cực của dư luận trong và ngoài khu vực.
Khẳng định vị thế mới
Theo nhiều học giả quốc tế, bài phát biểu cho thấy Việt Nam đang tự tin tự định vị mình ở vị thế cao hơn trước đây, với khả năng đóng góp vào định hình môi trường an ninh khu vực.
“Đây là sự khẳng định rất rõ ràng về khát vọng của Việt Nam trở thành một cường quốc khu vực chủ động và một ‘quốc gia tầm trung’ trên trường quốc tế, có khả năng định hình an ninh khu vực cũng như truyền tải một cách rõ ràng, nhất quán tầm nhìn của mình về trật tự an ninh khu vực mong muốn”, Hunter Marston, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á và Trưởng dự án Chỉ số Sức mạnh Châu Á, thuộc Viện Lowy của Australia, nói với VnExpress.
Thông điệp “Chủ động kiến tạo hòa bình, ổn định, phát triển trong một thế giới nhiều biến động” được đưa ra trong bối cảnh khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đang chứng kiến cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt giữa các cường quốc, khủng hoảng lòng tin và áp lực tái cấu trúc chuỗi an ninh – kinh tế toàn cầu.
Theo Marston, bài phát biểu được thiết kế phù hợp với bối cảnh các nước Đông Nam Á đang tìm cách theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập hơn, đa dạng hóa quan hệ với hai siêu cường là Mỹ và Trung Quốc. Các quốc gia đồng thời mong muốn đảm bảo an ninh và ổn định khu vực trước các cuộc khủng hoảng toàn cầu, những thách thức kinh tế và an ninh, cũng như áp lực kinh tế từ các nước lớn.
“Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã làm rất tốt trong việc đại diện cho lợi ích khu vực, dù đó không hẳn là nhiệm vụ chính của một bài phát biểu khai mạc. Nó đã nhấn mạnh được lợi ích và tầm nhìn của Việt Nam, đồng thời tạo ra khuôn khổ tham chiếu hữu ích cho các phát biểu tiếp theo”, chuyên gia này nói.
Marston đồng thời cho rằng sự tham gia của Việt Nam tại sự kiện lần này cho thấy sự phát triển trong tư duy đối ngoại của đất nước: từ “tham gia tích cực” sang “chủ động kiến tạo” trật tự khu vực.
Ông nhận định rằng chính sách này đang trở nên “đa tầng, phức tạp và chủ động hơn” khi Việt Nam nâng vai trò của mình trên trường quốc tế. Việt Nam muốn thể hiện mình là đối tác đáng tin cậy, một bên liên quan có trách nhiệm và quốc gia trung lập mà “cả cường quốc lẫn nước nhỏ đều có thể hợp tác”.
Phát triển gắn liền với an ninh
Cách tiếp cận này được thể hiện rõ trong cấu trúc lập luận bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, trong đó lãnh đạo Việt Nam cho rằng thế giới đang đồng thời đối mặt ba cuộc khủng hoảng liên hệ mật thiết với nhau, gồm: khủng hoảng trật tự quốc tế, khủng hoảng mô hình phát triển và khủng hoảng lòng tin chiến lược.
Việc nhìn nhận các bất ổn khu vực dưới góc nhìn “ba cuộc khủng hoảng đồng thời” cho thấy cách tiếp cận mang tính hệ thống của Việt Nam đối với an ninh khu vực, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi Lê Phương Hòa nói trong cuộc phỏng vấn với TTXVN.
Bà cho rằng bài phát biểu đã đưa ra một cách tiếp cận “mang tính lý luận sâu sắc” về quan hệ giữa an ninh và phát triển. Theo bà, trong một thế giới đầy biến động, không thể có an ninh bền vững nếu kinh tế và các mô hình phát triển bị đứt gãy bởi cạnh tranh chiến lược.
“Đối với rất nhiều quốc gia, phát triển không phải là lựa chọn thứ yếu đặt sau an ninh. Phát triển chính là nền tảng của an ninh bền vững. Nếu quá trình phát triển bị gián đoạn, nếu các nước đang phát triển bị thu hẹp cơ hội vươn lên, thì sự ‘tròng trành’ về kinh tế rất dễ chuyển hóa thành bất ổn về xã hội, chính trị và thậm chí bất định về chiến lược”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh trong bài phát biểu.
Thông điệp này cũng phản ánh ưu tiên chiến lược của Việt Nam là đặt phát triển làm nền tảng của an ninh, theo chuyên gia Marston. Ông cho rằng, đối với Việt Nam, năng lực đảm bảo đời sống của người dân và tăng trưởng kinh tế mới là nền tảng quan trọng nhất của an ninh quốc gia.
Lãnh đạo Việt Nam cũng tái khẳng định mạnh mẽ trong bài phát biểu về vai trò trung tâm của ASEAN và nói rằng các sáng kiến khu vực không được biến Đông Nam Á thành đấu trường đối đầu giữa các cường quốc. Ông cho rằng khu vực cần “sự cam kết có trách nhiệm”, chứ không đơn thuần là sự hiện diện hay vắng mặt của bất kỳ cường quốc nào.
Theo Marston, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra những cụm từ rất quan trọng với toàn bộ khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng.
“Việt Nam muốn hợp tác với nhiều đối tác khác nhau và đặc biệt mong muốn khu vực không bị riêng một cường quốc nào chi phối. Sự hiện diện của cả Mỹ và Trung Quốc góp phần duy trì thế cân bằng quyền lực. Sự vắng mặt của một trong hai bên cũng có thể gây mất ổn định tương tự”, ông nói.
Marston cho rằng điều Việt Nam muốn thấy là một thế giới mà Mỹ và Trung Quốc cùng tồn tại, vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bởi Việt Nam là đối tác quan trọng của cả hai nước. “Do vậy, Việt Nam mong muốn một thế cân bằng ổn định cùng sự can dự mang tính xây dựng từ cả hai cường quốc”, ông nhận định.
Điểm sáng từ thông điệp ‘ngoại giao phòng ngừa’
Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu quốc tế và chính sách công (IISPP) Neak Chandarith, thuộc Đại học Hoàng gia Phnom Penh (RUPP), bài phát biểu còn cho thấy Việt Nam kiên định ủng hộ một cấu trúc khu vực mở, bao trùm và dựa trên luật lệ quốc tế.
Chuyên gia Campuchia đánh giá 6 đề xuất mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đưa ra tại Đối thoại Shangri-La sẽ góp phần xây dựng cấu trúc an ninh khu vực bảo vệ lợi ích của các quốc gia nhỏ và vừa.
Đáng chú ý là lời kêu gọi tăng cường “ngoại giao phòng ngừa” và xây dựng các “lối thoát ngoại giao” trước khi khủng hoảng leo thang. Việt Nam đề xuất thiết lập mạng lưới tham vấn và cơ chế truyền thông giữa quốc phòng, lực lượng thực thi pháp luật trên biển, học giả và doanh nghiệp nhằm ngăn nguy cơ xung đột vượt tầm kiểm soát.
Marston cũng đồng tình rằng khái niệm “lối thoát ngoại giao” là một trong những điểm thú vị nhất trong bài phát biểu. Theo ông, điều này cho thấy Việt Nam đang suy nghĩ sáng tạo hơn về cách tăng sức chống chịu khu vực và duy trì các kênh liên lạc chiến lược giữa các bên.
Ông nhắc lại việc Hà Nội từng tổ chức hội nghị thượng đỉnh giữa ông Donald Trump và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un vào năm 2019 như minh chứng cho năng lực trung gian đối thoại của Việt Nam. Chuyên gia này cho rằng Việt Nam hiện đã đạt được vị thế “gần tương đương Singapore” trong điều phối và làm cầu nối ngoại giao.
Bà Hòa cho rằng lợi thế lớn nhất của Việt Nam không nằm ở sức mạnh quân sự hay kinh tế, mà ở “vị thế chính trị và lòng tin chiến lược” mà đất nước đã xây dựng với nhiều đối tác quốc tế. Theo bà, mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều nước tạo cơ sở để Việt Nam phát huy vai trò cầu nối thúc đẩy đối thoại và hợp tác.
Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng được chú ý trong bối cảnh các nước khu vực ngày càng lo ngại nguy cơ chạy đua vũ trang. Chuyên gia của Viện Lowy cảnh báo việc các cường quốc thúc ép tăng chi tiêu quốc phòng có thể làm gia tăng bất ổn khu vực, nhất là khi Đông Nam Á vẫn ưu tiên phát triển thay vì đối đầu an ninh.
Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam tái khẳng định chính sách quốc phòng “bốn không” được xem là thông điệp nhằm duy trì cân bằng chiến lược và tránh bị cuốn vào cạnh tranh giữa các cường quốc. Ông Chandarith cho rằng điều này thể hiện “sự khước từ quyết đoán” của Việt Nam trước nguy cơ trở thành công cụ đối đầu giữa các khối quyền lực.
“Càng có nhiều sự ủng hộ dành cho tầm nhìn mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đưa ra tại Đối thoại Shangri-La 2026 thì trật tự an ninh khu vực càng có nhiều cơ hội thành công hơn”, Marston nhận định.
Nga cho biết hôm 27/5 rằng họ đã cảnh báo Armenia rằng Moscow sẽ đình chỉ hoặc chấm dứt việc cung cấp dầu, khí đốt và kim cương thô giá rẻ nếu Yerevan tiếp tục thúc đẩy nỗ lực gia nhập EU.
Moscow đưa ra cảnh báo trước thềm cuộc bầu cử quốc hội ngày 7/6, trong bối cảnh các cuộc thăm dò cho thấy đảng Civil Contract của Thủ tướng Nikol Pashinyan đang nắm lợi thế so với các đối thủ. Ông Pashinyan đã tăng cường quan hệ với phương Tây trong thời gian qua.
“Đại sứ quán Nga đã chính thức chuyển một bức thư nêu rõ rằng nếu tiến trình gia nhập EU của Armenia tiếp tục, phía Nga sẽ đình chỉ hoặc đơn phương chấm dứt Thỏa thuận Hợp tác về cung cấp khí đốt tự nhiên, sản phẩm dầu mỏ và kim cương thô”, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova nói với hãng tin RIA.
Armenia, quốc gia không giáp biển với khoảng 3 triệu dân, từ lâu có quan hệ chặt chẽ với Nga và là thành viên của Liên minh Kinh tế Á-Âu do Nga dẫn dắt.
Nước này có các căn cứ quân sự của Nga trên lãnh thổ và phụ thuộc lớn vào nguồn cung năng lượng từ Moscow. Theo Interfax, 82% lượng khí đốt mà Armenia nhập khẩu năm ngoái đến từ Nga.
Moscow cho rằng việc gia nhập EU sẽ không tương thích với tư cách thành viên của Armenia trong Liên minh Kinh tế Á-Âu.
Thỏa thuận hợp tác mà Nga cảnh báo có thể chấm dứt cho phép Armenia mua dầu, khí đốt và kim cương thô mà không phải chịu thuế xuất khẩu, đồng thời được hưởng các điều kiện ưu đãi rất lớn.
Moscow cho biết thư cảnh báo do Bộ trưởng Năng lượng Nga Sergei Tsivilev gửi tới Bộ Quản lý Lãnh thổ và Cơ sở hạ tầng Armenia. Theo nội dung bức thư được báo Kommersant của Nga đăng tải, ông Tsivilev cho rằng xu hướng ngả về EU của Armenia “không phù hợp với bản chất quan hệ đối tác giữa chính phủ và các thực thể kinh tế của 2 nước”.
Armenia lên tiếng
Phát biểu tại một cuộc vận động tranh cử, ông Pashinyan cho biết Armenia chưa có kế hoạch rời Liên minh Kinh tế Á-Âu và việc là thành viên của khối này không mâu thuẫn với nguyện vọng gia nhập EU.
“Hiện tại, Armenia có thể vừa là thành viên Liên minh Kinh tế Á-Âu vừa tiến hành các cải cách để đạt tiêu chuẩn châu Âu. Chúng tôi đang đi theo con đường đó”, các hãng tin Nga dẫn lời ông.
“Khi đến lúc phải lựa chọn, chúng tôi sẽ lựa chọn. Chúng tôi cần có một phương án thay thế để không ai có thể nói về Armenia rằng, ai cần nước này, và nước này đang đi đâu?”, ông nói.
Quan hệ giữa Moscow và Yerevan bị ảnh hưởng sau khi Azerbaijan giành được quyền kiểm soát khu vực Karabakh vào tháng 9/2023. Khu vực này được cộng đồng quốc tế công nhận là lãnh thổ của Azerbaijan, nhưng khi đó là nơi sinh sống của cộng đồng gốc Armenia. Sau sự việc, cộng đồng người gốc Armenia đã di tản khỏi khu vực nói trên.
Khi đó, Armenia tỏ ra không hài lòng vì cho rằng Nga đã không bảo vệ đồng minh. Kể từ đó, Armenia đã tìm cách tăng cường quan hệ với phương Tây, đồng thời đình chỉ tham gia một liên minh phòng thủ khu vực do Nga dẫn đầu.
Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio đã thăm Yerevan hồi đầu tuần và ký thỏa thuận đối tác chiến lược, cho thấy quan hệ song phương đang ấm lên. Armenia năm ngoái cũng đã thông qua luật khởi động tiến trình gia nhập EU.
Tổng thống Donald Trump viết trên mạng xã hội hôm 27/5 rằng ông Pashinyan có "sự ủng hộ hoàn toàn" của mình trong cuộc bầu cử ngày 7/6, gọi ông là “một người bạn tuyệt vời và một nhà lãnh đạo xuất sắc”.
Sứ mệnh Artemis II không chỉ là cột mốc lịch sử của NASA, mà còn phản ánh cuộc cạnh tranh địa chính trị gay gắt giữa các cường quốc trong kỷ nguyên không gian mới.
Đúng 18h35 ngày 1-4 (giờ miền Đông nước Mỹ), tức sáng 2-4 theo giờ Việt Nam, tên lửa Space Launch System (SLS) rời bệ phóng 39B tại Trung tâm Vũ trụ Kennedy (bang Florida), đưa tàu Orion cùng bốn phi hành gia tiến vào quỹ đạo.
Đây là lần đầu tiên kể từ sứ mệnh Apollo 17 năm 1972, con người rời khỏi quỹ đạo thấp của Trái đất để thực hiện hành trình tiếp cận Mặt trăng - một khoảnh khắc mà phi hành gia Reid Wiseman cho là điều nước Mỹ và cả thế giới đã chờ đợi từ rất lâu.
Hơn 400.000 người đã tập trung dọc bờ biển Florida nín thở theo dõi tàu vũ trụ bay lên bầu trời rực sáng trên nền lửa cuộn trào. Tổng thống Donald Trump gọi đây là "một kỳ tích" trong bài phát biểu ngày 1-4 (giờ Mỹ), chúc mừng đội ngũ NASA và các phi hành gia.
Theo Hãng tin Reuters, phi hành đoàn Artemis II gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), cùng hai chuyên gia Christina Koch (NASA) và Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada - CSA).
Ngay sau khi đạt tốc độ khoảng 28.000km/h để vào quỹ đạo, phi hành đoàn bắt đầu đánh giá khả năng vận hành của tàu.
Các kiểm soát viên tại Houston xác nhận toàn bộ bốn tấm pin năng lượng mặt trời đã được triển khai thành công, đảm bảo cung cấp điện liên tục trong suốt hành trình.
Theo báo Guardian, tên lửa sẽ bay quanh quỹ đạo Trái đất (có thể trong vòng một ngày) cho đến khi động cơ được kích hoạt để thực hiện cú đẩy chuyển quỹ đạo, đưa tàu tiến vào hành trình dài khoảng 384.000km tới Mặt trăng.
Chuyến bay thử nghiệm kéo dài 10 ngày này tuy không hạ cánh xuống Mặt trăng nhưng đánh dấu nhiều cột mốc quan trọng. Bà Christina Koch và ông Victor Glover lần lượt trở thành người phụ nữ đầu tiên và người da màu đầu tiên bay vào không gian cận Mặt trăng. Ông Jeremy Hansen từ Cơ quan Vũ trụ Canada sẽ là người không mang quốc tịch Mỹ đầu tiên thực hiện hành trình này.
Nhiều công nghệ trên tàu Orion cũng lần đầu được thử nghiệm ngoài không gian, như hệ thống liên lạc quang học Orion Artemis II - sử dụng tia laser để gửi và nhận dữ liệu từ Trái đất, phục vụ liên lạc cho căn cứ tại Mặt trăng trong tương lai.
Đến ngày thứ sáu của hành trình, phi hành đoàn dự kiến đạt khoảng cách gần 407.000km tính từ Trái đất, vượt kỷ lục 400.000km từng được Apollo 13 thiết lập năm 1970 - đưa con người vươn tới vị trí ở xa Trái đất hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử.
Artemis II được xem là nền tảng cho một chuỗi sứ mệnh tham vọng trong thập niên tới. Theo trang Axios, sứ mệnh Artemis III dự kiến thực hiện năm 2027 sẽ đưa tàu Orion ghép nối trên quỹ đạo với các tàu đổ bộ Mặt trăng - gồm hệ thống của Blue Origin (thuộc sở hữu tỉ phú Jeff Bezos) và Starship của SpaceX (tỉ phú Elon Musk điều hành).
Artemis IV dự kiến tiếp nối vào năm 2028, hướng tới hạ cánh tại cực Nam của Mặt trăng - địa điểm mà phi hành đoàn Artemis II sẽ chụp ảnh lần đầu tiên từ độ cao 6.000 - 10.000km trong chuyến đi này. Đến năm 2030, Artemis V có thể mở rộng hạ tầng lâu dài - bao gồm căn cứ nghiên cứu, khu định cư, robot tự hành và trạm đổ bộ hàng hóa, hướng đến sự hiện diện bền vững - và xa hơn nữa là sao Hỏa.
Song hành trình đó không diễn ra trong "chân không địa chính trị". Như nhà khoa học Robert Braun từ phòng thí nghiệm vật lý ứng dụng của Đại học Johns Hopkins mô tả, nhu cầu tài nguyên và sự phát triển công nghệ đã biến Mặt trăng thành "vị trí chiến lược tối thượng" của các cường quốc. Theo trang Live Science, nếu trước đây Mỹ chỉ cạnh tranh với Liên Xô thì nay đối thủ "đáng gờm" nhất là Trung Quốc.
Theo Đài PBS News, Bắc Kinh đã phát triển chương trình thám hiểm Mặt trăng bài bản với chương trình Hằng Nga (Chang'e), tập trung vào thiết lập sự hiện diện lâu dài, bao gồm kế hoạch xây dựng trạm nghiên cứu và đưa người lên Mặt trăng vào năm 2030.
Các sứ mệnh robot của Trung Quốc cũng đã hạ cánh xuống phía xa của Mặt trăng và mang về các mẫu vật.
Dù Hiệp ước Artemis Accords do Mỹ khởi xướng - cho phép khai thác tài nguyên và lập "vùng an toàn" riêng - với hơn 60 nước đã ký kết, Trung Quốc vẫn từ chối tham gia và chủ động xây liên minh cùng Nga và các đối tác khác. Một số chuyên gia thậm chí dự đoán Trung Quốc có khả năng đưa người lên Mặt trăng trước Mỹ.
Hai cách tiếp cận đối lập giữa Washington và Bắc Kinh tạo ra thế đối đầu với hai "luật chơi" khác nhau, phản ánh cuộc cạnh tranh địa chính trị toàn cầu hơn là mục tiêu khoa học thuần túy.
Đáng chú ý, bên cạnh các chính phủ, khu vực tư nhân cũng đang nổi lên mạnh mẽ thúc đẩy hình thành "nền kinh tế Mặt trăng" bao gồm khai thác tài nguyên, vận tải không gian và du lịch vũ trụ.
Nhà sử học NASA Brian Odom nhận định: "NASA, nước Mỹ và cả thế giới đang thực hiện một bước tiến vô cùng lớn trong hành trình trở thành một xã hội du hành không gian".
Còn Giám đốc NASA Jared Isaacman đúc kết ngắn gọn hơn: "Thành công hay thất bại sẽ được đo bằng tháng, chứ không phải bằng năm".
Tính đến ngày 31.3, nợ công của Mỹ là 31.265 tỉ USD trong khi GDP trong năm trước đó là 31.216 tỉ USD, tờ The Wall Street Journal dẫn số liệu được công bố ngày 30.4 cho biết.
Như vậy, nợ công của Mỹ đang ở mức 100,2% GDP, tăng lên từ mức 99,5% vào cuối năm tài khóa gần nhất (bắt đầu từ ngày 1.10.2024 và kết thúc vào ngày 30.9.2025).
Tỷ lệ nợ so với GDP của Mỹ leo lên mức cao kỷ lục vào năm 1946 là 106,1%. Tỷ lệ này giảm dần đều trong thập niên sau đó nhờ tăng trưởng bùng nổ hậu Thế chiến 2, lạm phát và giảm chi tiêu quân sự. Năm 1957, nợ công của Mỹ chỉ bằng 50% GDP.
Năm 2008, nợ công dưới mức 40% GDP. Từ đó, Mỹ bắt đầu vay nhiều để vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính và sau này là đại dịch Covid-19.
Quốc hội Mỹ giảm thuế vào các năm 2013, 2017 và 2025, mở rộng chương trình bảo hiểm y tế và phúc lợi cho cựu binh nhưng ít có hành động để điều chỉnh các chương trình chi tiêu lớn.
Trong thời kỳ đại dịch Covid-19 năm 2020, nợ công của Mỹ đã vượt quá 100% GDP trong một thời gian ngắn, khi GDP giảm và chính phủ vay nợ nhiều để hỗ trợ các hộ gia đình Mỹ. Tỷ lệ này sau đó đã giảm xuống khi các biện pháp kích thích kinh tế kết thúc, tăng trưởng kinh tế phục hồi và lạm phát cao đã đẩy mức GDP danh nghĩa lên.
Hiện tại, chính phủ Mỹ đang chi 1,33 USD cho mỗi USD thu được. Theo dự báo, thâm hụt ngân sách năm nay sẽ là 1.900 tỉ USD. Tình hình hầu như không thay đổi so với năm 2025 khi các khoản giảm thuế của đảng Cộng hòa có hiệu lực trước khi những khoản cắt giảm chi tiêu được thực hiện. Con số cuối cùng sẽ còn phụ thuộc vào chi phí cho xung đột Iran, hoàn trả thuế quan và sức mạnh của nền kinh tế.
Theo The Wall Street Journal, cột mốc tương quan nợ công và GDP có thể dao động trong những quý tới khi thu thuế tăng lên, tiền hoàn thuế quan được chi trả và GDP biến động theo lạm phát và các điều chỉnh.
Tuy nhiên, việc tỷ lệ này chạm mức 3 con số là một biểu tượng cho thấy những áp lực tài chính mà Mỹ đã phải đối mặt trong nhiều thập niên qua. Các nghị sĩ thuộc cả hai đảng đều bày tỏ sự lo ngại nhưng ưu tiên việc cắt giảm thuế và tăng chi tiêu vì những lợi ích chính trị ngắn hạn rõ ràng hơn.