Sáng 2.6, hơn 151.000 thí sinh tại TP.HCM bước vào thi môn toán trong kỳ tuyển sinh lớp 10 năm học 2026 – 2027. Tại nhiều điểm thi, phụ huynh có mặt từ sớm, chờ đón con giữa cái nắng đầu hè với tâm trạng hồi hộp, lo lắng.
Tin Gốc: Thanh Niên

Đó là một trong những điều có thể rút ra khi đọc Bước nhảy vọt kinh tế Việt Nam – Nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo và con đường trở thành nước có thu nhập cao (NXB Công Thương, Hà Nội, 2026) của tiến sĩ Đinh Trường Hinh và GS-TS Nguyễn Trọng Hoài.
Việt Nam đã đi được một chặng đường dài từ một quốc gia nghèo trở thành nước có thu nhập trung bình. Nhưng chặng đường còn lại để bước vào nhóm quốc gia thu nhập cao có thể khó hơn tất cả những gì đã đi qua. Đó cũng chính là câu hỏi trung tâm mà cuốn sách Bước nhảy vọt kinh tế Việt Nam-Nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo và con đường trở thành nước có thu nhập cao của tiến sĩ Đinh Trường Hinh và GS-TS Nguyễn Trọng Hoài đặt ra.
Theo số liệu được dẫn trong sách, năm 2024 thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam theo phương pháp Atlas của Ngân hàng Thế giới đạt khoảng 4.180 USD, trong khi ngưỡng để được xếp vào nhóm quốc gia thu nhập cao hiện nay là 14.005 USD. Điều đó có nghĩa chúng ta mới đi được khoảng một phần ba chặng đường. Vấn đề đặt ra không chỉ là tăng trưởng nhanh hay chậm, mà là tăng trưởng dựa vào đâu.
Một trong những luận điểm quan trọng nhất của cuốn sách là Việt Nam khó có thể trở thành quốc gia thu nhập cao nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư và lao động.
Các tác giả cho thấy đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), yếu tố phản ánh trình độ công nghệ, chất lượng quản trị và hiệu quả sử dụng nguồn lực, còn thấp và thiếu ổn định. Một nhận định đáng suy ngẫm là nếu TFP của Việt Nam trong các thập niên qua đạt mức trung bình của những nền kinh tế mới nổi thì thu nhập bình quân đầu người hiện nay có thể cao hơn thực tế khoảng 30%. Đó là một con số biết nói. Nó cho thấy bẫy thu nhập trung bình, xét đến cùng, là bẫy năng suất.
Một quốc gia có thể tăng trưởng nhanh trong một thời gian nhờ vốn đầu tư, tài nguyên hay lao động giá rẻ. Nhưng để trở thành quốc gia thu nhập cao, tăng trưởng phải dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Cuốn sách dành nhiều dung lượng để phân tích công nghiệp hóa và vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Hai thập niên qua, Việt Nam đã trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng của thế giới. Xuất khẩu dệt may tăng trung bình khoảng 16,6% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2020; ngành chế tạo tăng trên 15% mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại trong nước lại chưa tăng tương xứng. Nghịch lý ấy phản ánh thực tế rằng Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng vẫn chủ yếu ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp.
Vì vậy, thông điệp xuyên suốt của cuốn sách là Việt Nam cần chuyển từ "Made in Vietnam" sang "Created in Vietnam". Đó không chỉ là câu chuyện của trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn hay công nghệ cao. Đối với một nền kinh tế đang phát triển, đổi mới sáng tạo trước hết là khả năng tiếp thu, thích nghi, cải tiến và nâng cấp công nghệ; là năng lực học hỏi để tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực. Đó cũng là con đường mà Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay Singapore đã đi qua.
Ở góc độ này, điều đáng chú ý là dù cuốn sách được hoàn thành từ năm 2024, nhiều phân tích và khuyến nghị của các tác giả đã "liên kết mạnh mẻ" với các chủ trương lớn được Việt Nam ban hành gần đây, như Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, hay Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy thách thức lớn nhất thường không nằm ở việc xác định đúng chiến lược. Điều khó hơn là xây dựng được môi trường thể chế đủ thuận lợi để doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn cho nghiên cứu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Điều khiến tôi chú ý nhất là các tác giả dành hơn một phần ba dung lượng cuốn sách cho vốn nhân lực. Từ giáo dục, thị trường lao động, di cư ngược, già hóa dân số đến vai trò của lao động nữ. Đây không phải là một phần phụ của cuốn sách; Ngược lại, đó có lẽ là phần sâu sắc nhất.
Trong nhiều năm, chúng ta thường nhìn giáo dục như một chính sách xã hội. Nhưng dưới góc nhìn của cuốn sách, giáo dục trước hết là một chính sách phát triển. Giáo dục tạo ra vốn nhân lực. Vốn nhân lực nâng cao năng suất. Năng suất quyết định khả năng vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Các số liệu được đưa ra khá đáng suy nghĩ. Năm 2020, chỉ khoảng 11,1% lực lượng lao động Việt Nam có trình độ ĐH trở lên, trong khi khoảng 76% chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Năm 2021, Việt Nam chỉ có khoảng 55 sinh viên ngành STEM (khoa học-kỹ thuật-công nghệ-toán học) trên 10.000 dân, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia phát triển.
Đáng chú ý hơn, dù số lượng công bố khoa học quốc tế của các trường ĐH đã tăng nhanh, đạt khoảng 17.625 bài năm 2021, nhưng tỷ lệ đăng ký sáng chế từ các cơ sở giáo dục ĐH mới khoảng 15,5%. Khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa công nghệ vẫn còn khá xa.
Cuốn sách dành riêng một chương cho "di cư ngược", cho thấy các tác giả nhìn nguồn nhân lực không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trong mạng lưới tri thức Việt Nam toàn cầu.
Nếu Nghị quyết 68 đặt doanh nghiệp tư nhân vào vị trí động lực tăng trưởng, Nghị quyết 57 coi khoa học công nghệ là đột phá chiến lược, thì Nghị quyết 71 về giáo dục và đào tạo chính là nền tảng để hiện thực hóa các mục tiêu đó. Bởi doanh nghiệp cần nhân lực. Đổi mới sáng tạo cần tri thức; Công nghệ cần nghiên cứu; Và tất cả đều gặp nhau ở giáo dục và ĐH.
Điểm đáng giá nhất của Bước nhảy vọt kinh tế Việt Nam-Nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo và con đường trở thành nước có thu nhập cao không phải là nêu ra những vấn đề hoàn toàn mới, mà là kết nối năng suất, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp tư nhân, giáo dục và vốn nhân lực thành một hệ logic phát triển thống nhất. Dĩ nhiên, không phải giải pháp nào cũng dễ thực hiện. Việt Nam không thiếu những chiến lược đúng. Điều khó hơn là thực thi nhất quán và đủ dài hạn.
Nhưng chính vì vậy cuốn sách trở nên đáng đọc. Nó không hứa hẹn những con đường tắt. Nó nhắc chúng ta rằng muốn có bước nhảy vọt về kinh tế phải có bước nhảy vọt về năng suất; muốn có bước nhảy vọt về năng suất phải có bước nhảy vọt về tri thức. Và muốn có bước nhảy vọt về tri thức, Việt Nam phải bắt đầu từ con người, từ giáo dục và từ một hệ thống ĐH đủ mạnh để trở thành động lực của đổi mới sáng tạo và phát triển quốc gia.
Một quốc gia có thể đi nhanh nhờ vốn và công nghệ, nhưng chỉ có thể đi xa bằng con người.
Tin Gốc: Thanh Niên

Những ngày qua, video ghi lại cảnh một nam sinh đi xe đạp điện trở về nhà sau lễ bế giảng với hàng loạt huy chương đeo kín cổ đã thu hút sự chú ý. Nhiều người không khỏi tò mò trước thành tích học tập “khủng” cùng vẻ ngoài điềm tĩnh của nam sinh này.
Nhân vật trong clip là em Lê Thiện Khôi (18 tuổi), học sinh trường THPT chuyên Lê Thánh Tông (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng).
Chia sẻ với phóng viên Dân trí, chị Dương Thị Như Hiền (mẹ của Khôi) cho biết video được chị quay lại vào ngày 20/5 khi con tham dự lễ bế giảng năm học.
Theo chị Hiền, Thiện Khôi là học sinh xuất sắc nhất khối 12 năm học 2025-2026, giải nhì học sinh giỏi quốc gia môn Tin học. Trước đó, Khôi cũng giành nhiều giải thưởng về môn Tin học như Huy chương Vàng Olympic Tin học miền Trung - Tây Nguyên, Huy chương Vàng kỳ thi Olympic truyền thống 30/4 do Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong (TPHCM) tổ chức.
"Trong lễ bế giảng năm học cuối nên con đã mang và đeo lại các huy chương, giấy khen tới trường để lưu giữ kỷ niệm thời học sinh nên gia đình ghi lại khoảnh khắc tuyệt vời đó”, chị Hiền nói.
Ngoài những tấm huy chương gây chú ý, nhiều người còn tò mò về chiếc vali được Khôi chở phía trước xe đạp. Theo chị Hiền, đây là phần quà nhà trường trao tặng cho danh hiệu học sinh xuất sắc nhất khối, kèm theo một khoản tiền thưởng.
Nói thêm về con trai, chị Hiền cho biết Khôi sớm bộc lộ năng khiếu với môn Tin học từ bậc tiểu học, chủ yếu tự tìm tòi, học hỏi. Từ cấp 2, em bắt đầu theo học lớp chuyên tin và tham gia nhiều kỳ thi học sinh giỏi.
“Giống nhiều bạn cùng tuổi, Khôi cũng thích chơi game và đôi lúc chưa thật sự tập trung học tập. Vợ chồng tôi thường xuyên động viên, nhắc nhở để con không sa đà. May mắn là con rất ngoan và thay đổi nhanh”, chị Hiền chia sẻ.
Chị Hiền cũng cho biết, Khôi đã được xét tuyển thẳng đại học và nhận nhiều lời mời từ các trường danh tiếng. Tuy nhiên để theo đuổi niềm yêu thích dành cho công nghệ, nam sinh đang cân nhắc Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia TPHCM, Đại học Công nghệ TPHCM hoặc Đại học Bách khoa TPHCM.
Ông Lê Thành Vinh, Hiệu trưởng Trường chuyên Lê Thánh Tông, cho biết trong lễ bế giảng năm học 2025-2026, nhà trường đã tổ chức lễ vinh danh các học sinh trong đó có em Lê Thiện Khôi là học sinh xuất sắc nhất khối 12. Nhà trường rất vinh dự khi có một học sinh như em Khôi.
Tin Gốc: Dân Trí

Với gần 2,6 triệu học sinh (HS) và khoảng 180.000 cán bộ, giáo viên (GV), nhân viên tại 3.428 cơ sở giáo dục các cấp, hệ thống giáo dục của TP.HCM có quy mô lớn nhất cả nước và đang đứng trước áp lực kép từ việc sáp nhập và biến động dân số.
Tính trung bình mỗi năm TP.HCM tăng cơ học từ 50.000-60.000 HS và khoảng 24% HS không thường trú. Điều này dẫn tới quá tải cục bộ ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới; từ đó phá vỡ sĩ số chuẩn, cản trở mục tiêu học 2 buổi/ngày và chỉ tiêu trường đạt chuẩn quốc gia.
Ông Nguyễn Văn Hiếu, Giám đốc Sở GD-ĐT, cho biết tính đến nay tỷ lệ trung bình toàn TP đạt con số 277 phòng học/10.000 dân. Tuy nhiên số trung bình này đang che lấp sự đứt gãy hạ tầng tại khu vực Bình Dương cũ và các vành đai công nghiệp.
Cụ thể, theo thống kê từng khu vực của Sở GD-ĐT TP.HCM, khu vực 1 (TP.HCM cũ) đã tiệm cận chuẩn, đạt 297 phòng/10.000 dân và "điểm nóng" rơi vào địa bàn các quận 12, Gò Vấp, các huyện Hóc Môn, Bình Chánh trước sáp nhập.
Khu vực 2 (Bình Dương cũ) chỉ đạt khoảng 200 phòng/10.000 dân, được coi là "báo động đỏ", mất cân đối trầm trọng với tốc độ tăng dân số cơ học cực cao do địa phương có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất.
Trong khi đó, khu vực 3 (Bà Rịa-Vũng Tàu cũ) đã vượt chuẩn với tỷ lệ 316 phòng/10.000 dân và chỉ thiếu hụt cục bộ ở một số ít phường, xã.
Số liệu của Sở GD-ĐT TP.HCM cho thấy sau sáp nhập, một số phường tồn tại tình trạng quá tải trường, lớp. Chẳng hạn tại P.Dĩ An, Trường THCS Võ Trường Toản có 99 lớp với 4.534 HS; Trường THCS Dĩ An có 78 lớp với 3.643 HS.
Hay tại P.An Phú có 8 trường công lập, gồm 2 trường mầm non, 5 trường tiểu học nhưng chỉ có 1 trường THCS. Trong đó cấp tiểu học với 232 lớp/10.625 HS nhưng chỉ 142 lớp/6.460 HS được học 2 buổi/ngày. Cấp THCS có 1 trường là Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi với 103 lớp/4.658 HS, song chỉ có 54 phòng học, số phòng học không đáp ứng đủ số lớp nên chỉ học được 1 buổi/ngày.
Báo cáo từ P.An Phú cho thấy đầu năm học 2025-2026, dân số cơ học tăng nhanh kéo theo trung bình mỗi năm tăng thêm gần 2.000 HS, gây quá tải trường lớp, sĩ số trung bình 48-52 HS/lớp. Đa số các trường phải tận dụng tất cả các phòng chức năng để làm phòng học, gặp khó khăn khi dạy học 2 buổi/ngày.
Tại khu vực 1 có Trường tiểu học Ngô Quyền (Q.Bình Tân cũ) là trường công lập có đông HS nhất TP. Trường có 109 lớp với tổng số hơn 5.000 HS, sĩ số trung bình khoảng 47 HS/lớp. Tình trạng quá tải trường, lớp khiến các nhà trường gặp khó khăn trong việc bố trí lớp học và giảng dạy.
Theo Sở GD-ĐT, thời gian qua TP đã chỉ đạo ngành GD-ĐT rà soát, điều chỉnh quy hoạch mạng lưới trường lớp phù hợp với quy mô dân số từng địa bàn, thực hiện phân tuyến tuyển sinh hợp lý. Đồng thời đưa các dự án xây dựng mới, cải tạo, mở rộng trường học vào kế hoạch đầu tư công trung hạn. Bên cạnh đó, TP.HCM tăng cường đầu tư trang thiết bị dạy học; bố trí, bổ sung đội ngũ GV; từng bước giảm sĩ số HS/lớp theo lộ trình quy định của Bộ GD-ĐT.
Sở cho hay khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, việc chủ động rà soát quỹ đất, lập quy hoạch và đề xuất đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng các cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học và THCS thuộc thẩm quyền và trách nhiệm trực tiếp của chính quyền cấp xã.
Sở GD-ĐT đề nghị các địa phương trực tiếp chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xử lý theo thẩm quyền. Cụ thể, khẩn trương rà soát tình hình thực tế về mạng lưới trường lớp, quỹ đất giáo dục và nhu cầu học tập, học bán trú của HS trên địa bàn để có phương án bố trí nguồn lực đầu tư phù hợp. Tổ chức làm việc, đối thoại trực tiếp để làm rõ nội dung kiến nghị và thông tin cụ thể về kế hoạch đầu tư công trung hạn, các dự án trường học dự kiến triển khai và các giải pháp tạm thời nhằm đảm bảo quyền lợi học tập cho HS.
Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM Nguyễn Văn Hiếu cho biết từ nay đến hết năm 2026, TP dự kiến đưa vào sử dụng thêm 1.200 phòng học, năm 2027 thêm 1.500 phòng, cơ bản đáp ứng nhu cầu chỗ học vào cuối năm 2027; phấn đấu đến năm 2030 đạt tỷ lệ 300 phòng học/10.000 dân trong độ tuổi đi học.
Giai đoạn từ 2026-2030, TP.HCM cần 17.483 phòng học, trong khi khả năng đáp ứng hiện chỉ đạt 12.814 phòng, dẫn đến thiếu hụt 4.669 phòng.
Liên quan đến công tác xây dựng trường lớp tại TP.HCM, vào giữa tháng 4, ông Nguyễn Phước Lộc, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ VN TP.HCM, có buổi làm việc với đại diện các sở, ngành, UBND 168 phường, xã, đặc khu về công tác xây dựng trường học.
Tại buổi làm việc này, Phó chủ tịch HĐND TP.HCM Huỳnh Thanh Nhân đề nghị các địa phương rà soát tất cả quỹ đất giáo dục, siết chặt quản lý đối với kế hoạch xây dựng trường học trong các dự án đầu tư bất động sản, không để xảy ra tình trạng đất xây trường bị chuyển đổi mục đích sử dụng. Đặc biệt, để hoàn thành mục tiêu 80% trường học đạt chuẩn quốc gia vào năm 2030 thì các dự án xây dựng mới trường học triển khai trong giai đoạn này phải đảm bảo chuẩn quốc gia.
Phó giám đốc Sở Tài chính TP.HCM Lai Xuân Đạt cho hay hiện nay nguồn vốn dành cho giáo dục đã được TP chỉ đạo bổ sung khoảng 65.000 tỉ đồng để chuẩn bị cho công tác xây dựng trường lớp. Theo đó, để đáp ứng nhu cầu, lãnh đạo các phường, xã đóng vai trò chủ chốt trong việc xác định quy hoạch phù hợp và chọn vị trí xây dựng; xác định quy mô xây dựng, thời gian hoàn thành và dự kiến nguồn vốn. Trên cơ sở đề xuất của UBND xã, phường, sở GD-ĐT tổng hợp thành danh mục ưu tiên. Sở Tài chính sẽ tham mưu với UBND TP cân đối ngân sách để đảm bảo không thiếu chỗ học.
Phó chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Mạnh Cường đề nghị Sở GD-ĐT làm đầu mối tổng hợp nhu cầu trường lớp theo từng cấp học để điều tiết hợp lý trên toàn địa bàn, tránh đầu tư cục bộ. Đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, cải thiện môi trường học tập, khắc phục tình trạng trường lớp chật hẹp, thiếu sân chơi, đảm bảo cả 2 yêu cầu về số lượng và chất lượng.
Chỉ đạo về công tác xây dựng trường lớp, ông Nguyễn Phước Lộc yêu cầu ngành giáo dục và các địa phương đánh giá sát thực trạng hệ thống trường lớp theo từng cấp học, từng địa bàn. Trên cơ sở đó, chủ động đề xuất giải pháp bảo đảm đủ trường lớp cho HS trên địa bàn.
Về tổ chức thực hiện, ông Nguyễn Phước Lộc yêu cầu rà soát, xác định quỹ đất phát triển giáo dục và phải hình thành danh mục hoàn thiện theo hướng đồng bộ giữa các địa bàn, làm rõ hơn mức độ sẵn sàng triển khai của từng khu đất và gắn chặt hơn với danh mục dự án, tiến độ thực hiện và khả năng bố trí nguồn lực; không dàn trải; có trọng tâm, trọng điểm.
Phó bí thư Thành ủy TP.HCM nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt: "Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, cho tương lai; xác định GD-ĐT là một trong những cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của TP; giáo dục phải bảo đảm công bằng, toàn diện, không rào cản, hướng tới nền giáo dục tiên tiến, hội nhập quốc tế".
Tin Gốc: Thanh Niên

