Đó là một trong những điều có thể rút ra khi đọc Bước nhảy vọt kinh tế Việt Nam – Nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo và con đường trở thành nước có thu nhập cao (NXB Công Thương, Hà Nội, 2026) của tiến sĩ Đinh Trường Hinh và GS-TS Nguyễn Trọng Hoài.
Việt Nam đã đi được một chặng đường dài từ một quốc gia nghèo trở thành nước có thu nhập trung bình. Nhưng chặng đường còn lại để bước vào nhóm quốc gia thu nhập cao có thể khó hơn tất cả những gì đã đi qua. Đó cũng chính là câu hỏi trung tâm mà cuốn sách Bước nhảy vọt kinh tế Việt Nam-Nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo và con đường trở thành nước có thu nhập cao của tiến sĩ Đinh Trường Hinh và GS-TS Nguyễn Trọng Hoài đặt ra.
Theo số liệu được dẫn trong sách, năm 2024 thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam theo phương pháp Atlas của Ngân hàng Thế giới đạt khoảng 4.180 USD, trong khi ngưỡng để được xếp vào nhóm quốc gia thu nhập cao hiện nay là 14.005 USD. Điều đó có nghĩa chúng ta mới đi được khoảng một phần ba chặng đường. Vấn đề đặt ra không chỉ là tăng trưởng nhanh hay chậm, mà là tăng trưởng dựa vào đâu.
Một trong những luận điểm quan trọng nhất của cuốn sách là Việt Nam khó có thể trở thành quốc gia thu nhập cao nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng vốn đầu tư và lao động.
Các tác giả cho thấy đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), yếu tố phản ánh trình độ công nghệ, chất lượng quản trị và hiệu quả sử dụng nguồn lực, còn thấp và thiếu ổn định. Một nhận định đáng suy ngẫm là nếu TFP của Việt Nam trong các thập niên qua đạt mức trung bình của những nền kinh tế mới nổi thì thu nhập bình quân đầu người hiện nay có thể cao hơn thực tế khoảng 30%. Đó là một con số biết nói. Nó cho thấy bẫy thu nhập trung bình, xét đến cùng, là bẫy năng suất.
Một quốc gia có thể tăng trưởng nhanh trong một thời gian nhờ vốn đầu tư, tài nguyên hay lao động giá rẻ. Nhưng để trở thành quốc gia thu nhập cao, tăng trưởng phải dựa trên năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Cuốn sách dành nhiều dung lượng để phân tích công nghiệp hóa và vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Hai thập niên qua, Việt Nam đã trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng của thế giới. Xuất khẩu dệt may tăng trung bình khoảng 16,6% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2020; ngành chế tạo tăng trên 15% mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại trong nước lại chưa tăng tương xứng. Nghịch lý ấy phản ánh thực tế rằng Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu nhưng vẫn chủ yếu ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp.
Vì vậy, thông điệp xuyên suốt của cuốn sách là Việt Nam cần chuyển từ “Made in Vietnam” sang “Created in Vietnam”. Đó không chỉ là câu chuyện của trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn hay công nghệ cao. Đối với một nền kinh tế đang phát triển, đổi mới sáng tạo trước hết là khả năng tiếp thu, thích nghi, cải tiến và nâng cấp công nghệ; là năng lực học hỏi để tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng nguồn lực. Đó cũng là con đường mà Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay Singapore đã đi qua.
Ở góc độ này, điều đáng chú ý là dù cuốn sách được hoàn thành từ năm 2024, nhiều phân tích và khuyến nghị của các tác giả đã “liên kết mạnh mẻ” với các chủ trương lớn được Việt Nam ban hành gần đây, như Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, hay Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy thách thức lớn nhất thường không nằm ở việc xác định đúng chiến lược. Điều khó hơn là xây dựng được môi trường thể chế đủ thuận lợi để doanh nghiệp dám đầu tư dài hạn cho nghiên cứu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Điều khiến tôi chú ý nhất là các tác giả dành hơn một phần ba dung lượng cuốn sách cho vốn nhân lực. Từ giáo dục, thị trường lao động, di cư ngược, già hóa dân số đến vai trò của lao động nữ. Đây không phải là một phần phụ của cuốn sách; Ngược lại, đó có lẽ là phần sâu sắc nhất.
Trong nhiều năm, chúng ta thường nhìn giáo dục như một chính sách xã hội. Nhưng dưới góc nhìn của cuốn sách, giáo dục trước hết là một chính sách phát triển. Giáo dục tạo ra vốn nhân lực. Vốn nhân lực nâng cao năng suất. Năng suất quyết định khả năng vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Các số liệu được đưa ra khá đáng suy nghĩ. Năm 2020, chỉ khoảng 11,1% lực lượng lao động Việt Nam có trình độ ĐH trở lên, trong khi khoảng 76% chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Năm 2021, Việt Nam chỉ có khoảng 55 sinh viên ngành STEM (khoa học-kỹ thuật-công nghệ-toán học) trên 10.000 dân, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia phát triển.
Đáng chú ý hơn, dù số lượng công bố khoa học quốc tế của các trường ĐH đã tăng nhanh, đạt khoảng 17.625 bài năm 2021, nhưng tỷ lệ đăng ký sáng chế từ các cơ sở giáo dục ĐH mới khoảng 15,5%. Khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa công nghệ vẫn còn khá xa.
Cuốn sách dành riêng một chương cho “di cư ngược”, cho thấy các tác giả nhìn nguồn nhân lực không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trong mạng lưới tri thức Việt Nam toàn cầu.
Nếu Nghị quyết 68 đặt doanh nghiệp tư nhân vào vị trí động lực tăng trưởng, Nghị quyết 57 coi khoa học công nghệ là đột phá chiến lược, thì Nghị quyết 71 về giáo dục và đào tạo chính là nền tảng để hiện thực hóa các mục tiêu đó. Bởi doanh nghiệp cần nhân lực. Đổi mới sáng tạo cần tri thức; Công nghệ cần nghiên cứu; Và tất cả đều gặp nhau ở giáo dục và ĐH.
Điểm đáng giá nhất của Bước nhảy vọt kinh tế Việt Nam-Nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo và con đường trở thành nước có thu nhập cao không phải là nêu ra những vấn đề hoàn toàn mới, mà là kết nối năng suất, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp tư nhân, giáo dục và vốn nhân lực thành một hệ logic phát triển thống nhất. Dĩ nhiên, không phải giải pháp nào cũng dễ thực hiện. Việt Nam không thiếu những chiến lược đúng. Điều khó hơn là thực thi nhất quán và đủ dài hạn.
Nhưng chính vì vậy cuốn sách trở nên đáng đọc. Nó không hứa hẹn những con đường tắt. Nó nhắc chúng ta rằng muốn có bước nhảy vọt về kinh tế phải có bước nhảy vọt về năng suất; muốn có bước nhảy vọt về năng suất phải có bước nhảy vọt về tri thức. Và muốn có bước nhảy vọt về tri thức, Việt Nam phải bắt đầu từ con người, từ giáo dục và từ một hệ thống ĐH đủ mạnh để trở thành động lực của đổi mới sáng tạo và phát triển quốc gia.
Một quốc gia có thể đi nhanh nhờ vốn và công nghệ, nhưng chỉ có thể đi xa bằng con người.
Chiều 22/5, gần 4.000 học sinh đã làm bài thi môn Toán (vòng 1) vào lớp 10 trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên (HSGS), trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Dưới đây là phần lời giải chi tiết của thầy Võ Quốc Bá Cẩn, Nguyễn Lê Phước, Nguyễn Tiến Dũng (giáo viên trường Archimedes Academy, Hà Nội), thầy Trần Đức Hiếu (THPT chuyên Hà Nội - Amsterdam), thầy Phan Quang Linh (THCS Giảng Võ) thầy Vũ Minh Đức, Nguyễn Văn Quý, Đào Phúc Long (câu lạc bộ CMATH), thầy Trần Quang Độ (Viện Toán học).
Bài 1:
Bài 2:
Bài 5:
*Tiếp tục cập nhật
Năm nay, trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên tuyển 545 học sinh, trong đó mỗi lớp chuyên Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tin tuyển 109.
Thí sinh đăng phải thi bốn môn, gồm Toán (vòng 1), Văn, Tiếng Anh và môn chuyên, trong đó Tiếng Anh là môn mới. Điều kiện để học sinh được xét tuyển là đạt 4/10 điểm trở lên ở mỗi môn. Điểm xét tuyển là tổng điểm môn Toán (vòng 1) và môn chuyên nhân hệ số hai. Kết quả được công bố trước ngày 16/6.
Năm ngoái, điểm chuẩn lớp Toán và Tin cao nhất, cùng 19,5, còn lại ba lớp chuyên Lý, Hóa, Sinh cùng lấy 17.
Lê Võ Thiên Kim, học sinh lớp 12 Trường THPT Trần Phú (TP.HCM), là một trong 137.376 thí sinh sẽ dự thi V-ACT vào sáng mai, 5.4. Trao đổi với Thanh Niên, Kim kể nội dung thi em thấy thử thách nhất là tư duy logic do có nhiều dạng bài nữ sinh chưa từng tiếp xúc bao giờ. Phần sử dụng ngôn ngữ, gồm tiếng Việt, tiếng Anh, cũng khiến nữ sinh lo lắng bởi đề yêu cầu thí sinh phải vững kiến thức căn bản suốt 3 năm THPT.
Phần tư duy khoa học cũng là một rào cản đáng kể với Kim khi em chỉ đăng ký học tổ hợp có các môn lý, hóa, địa và tin. Còn với những môn không học nhưng đề vẫn ra thi như sinh, điều nữ sinh sợ nhất là "có các dạng bài yêu cầu tính toán và cần dùng đến kiến thức chuyên môn".
"Hiện em và bạn bè rất lo vì thấy mình học chưa đủ để đi thi, nhất là khi đề còn yêu cầu thêm cả kiến thức xã hội", nữ sinh bộc bạch, cho biết thêm em nhắm tới mốc 800 đến 900 điểm sau thời gian học trực tuyến và tự luyện đề trong sách tham khảo.
Là thủ khoa khối D07 trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025, Trần Vĩnh Khang, sinh viên ĐH Bách khoa Hà Nội, đã từng lần lượt đạt 1.006 điểm và 1.024 điểm trong hai đợt thi V-ACT. Khang thẳng thắn cho biết việc làm được hết 120 câu trong 150 phút là "nhiệm vụ bất khả thi". Thế nên, cần lưu ý câu dễ làm trước, câu khó làm sau và bắt đầu làm từ phần thi mình giỏi nhất chứ không nên mặc định làm từ trên xuống.
"Nếu làm các câu quá khó ngay khi mới bắt đầu, thí sinh sẽ thấy 'ngộp', ảnh hưởng tới phong độ", anh nói.
Thực tế, ở cả hai đợt thi V-ACT, Khang đều chọn làm tư duy khoa học trước, sau đó tới sử dụng ngôn ngữ và cuối cùng mới là toán học - phần thi được Khang cho là "tốn nhiều dung lượng não nhất". Riêng với tư duy khoa học, dù học tổ hợp khoa học tự nhiên nhưng Khang cũng không gặp nhiều khó khăn với các câu sử, địa, kinh tế và pháp luật. "Câu hỏi có những gợi ý nhất định và dữ kiện cũng được cung cấp sẵn", anh nói.
Khang cũng nhấn mạnh, bí quyết quan trọng để đạt điểm cao là thí sinh phải duy trì trạng thái ổn định, bắt đầu từ lúc bước vào phòng thi để làm thủ tục và chờ phát đề, kéo dài cho tới khi hết giờ làm bài. Đó là lý do Khang chia thời gian trong phòng thi ra làm hai, gồm 60 phút đầu chuẩn bị và 150 phút làm bài thực tế.
"Thông thường mọi người không quá tập trung vào 60 phút này và đa số sẽ dành thời gian ôn lại bài hay đi ngủ. Theo tôi cả hai đều không nên vì nó sẽ khiến thí sinh hoặc lo lắng hoặc mất tập trung, tất cả đều dẫn đến việc không phát huy phong độ tốt nhất", anh kể.
Trong một tiếng ngồi chờ, Khang khuyên thí sinh hãy làm những điều để giúp các bạn thư giãn và giảm lo âu, như trong trường hợp của anh là ngồi vẽ. Khang còn mang theo "bùa hộ mệnh" là chiếc đồng hồ may mắn được thầy giáo cũ tặng để cảm thấy tự tin nhất.
Chia sẻ thêm về việc điền đáp án, Khang nhận định thí sinh thường có hai cách phổ biến là làm hết đề rồi mới bắt đầu tô trắc nghiệm hay làm xong câu nào tô ngay câu đó. Tuy nhiên, anh cho rằng cả hai đều có những nhược điểm, như cách đầu dễ tô sót còn cách sau lại tốn công. Để trung hòa, Khang chọn làm xong phần thi nào tô hết phần đó, chỉ bỏ trống các câu chưa giải được để dành làm vào cuối giờ.
Đạt 1.022 điểm thi V-ACT ở đợt 1, Nguyễn Nhật Nam, sinh viên Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), thú nhận anh không có bí quyết cao siêu, chủ yếu là nỗ lực đều đặn. Nam kể trong giai đoạn nước rút, mỗi ngày anh đều làm một đề thi thử và khi làm xong đều dò kết quả và đúc kết lại những lỗi sai để khắc phục. Trong khi đó, ở những tháng trước, mỗi tuần anh cũng đều luyện một đề.
"Tôi dành đủ thời gian để ăn uống, nghỉ ngơi chứ không thức khuya ôn tập", Nam nói. Anh chia sẻ thêm rằng, khi vào phòng thi sẽ ưu tiên làm phần thế mạnh của mình là toán sau đó mới tới các phần khác.
"Riêng với những môn không học mà vẫn thi, tôi chỉ thuần túy dựa vào suy luận chứ không cần phải đọc thêm kiến thức bên ngoài. Bởi đề thi đã cho sẵn công thức hoặc nội dung cần áp dụng chứ không ra câu hỏi theo hướng không học là không biết làm", anh nhấn mạnh.
Nam sinh này cho biết trong quá trình luyện đề, anh thường dư cỡ 20 - 30 phút cuối giờ để kiểm tra lại những câu chưa làm. Tuy nhiên, khi thi thực tế thì chỉ còn 10 phút. Đây là điểm thí sinh cần lưu ý để phân bổ thời gian làm bài phù hợp. Cũng theo Nam, giải xong câu nào anh đều tô ngay đáp án câu đó vào phiếu trả lời trắc nghiệm không đợi tới cuối giờ mới bắt đầu làm.
Ngày 29-4, Đại học Kinh tế TP.HCM chính thức công bố thông tin tuyển sinh đại học chính quy năm 2026, với tổng chỉ tiêu gần 8.900 sinh viên cho hai cơ sở đào tạo tại TP.HCM và Vĩnh Long, theo phương thức xét tuyển tích hợp với 95% chỉ tiêu.
Năm nay điểm đáng chú ý nhất trong tuyển sinh đại học chính quy của Đại học Kinh tế TP.HCM là việc nhà trường khi điều chỉnh phương thức tuyển sinh, chuyển sang xét tuyển tích hợp làm chủ đạo.
Phương thức 1 - Xét tuyển thẳng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (5% chỉ tiêu). Đối tượng gồm: Anh hùng lao động/lực lượng vũ trang, chiến sĩ thi đua toàn quốc; thí sinh đoạt giải nhất - nhì - ba học sinh giỏi quốc gia/quốc tế (trong vòng 3 năm); thí sinh giải khoa học kỹ thuật quốc gia/quốc tế; người nước ngoài; du học sinh Việt Nam tốt nghiệp THPT nước ngoài; thí sinh dân tộc thiểu số rất ít người; thí sinh khuyết tật nặng.
Phương thức 2 - Xét tuyển tích hợp (95% chỉ tiêu) kết hợp điểm thi (tốt nghiệp THPT, đánh giá năng lực, V-SAT) và học bạ THPT.
Cách tính điểm xét tuyển được thiết kế riêng theo từng nhóm đối tượng, trong đó công thức chính với thí sinh học chương trình Việt Nam:
Điểm xét tuyển = Điểm thi x 60% + Điểm trung bình các năm học THPT x 40% + Điểm cộng (nếu có) + Điểm ưu tiên khu vực, đối tượng (nếu có)
Trong đó, điểm thi: xét 1 trong các kỳ thi có điểm quy đổi tương đương cao nhất (kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, có kết quả các môn thi theo tổ hợp xét tuyển của nhà trường, hoặc kỳ thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia TP.HCM năm 2026, hoặc kỳ thi đánh giá đầu vào đại học trên máy tính V-SAT (áp dụng cho mã xét tuyển KSV).
Điểm trung bình (ĐTB) các năm học THPT = (ĐTB cả năm lớp 10x1 + ĐTB cả năm lớp 11x2 + ĐTB cả năm lớp 12x3)/6
Nhà trường cộng điểm cho thí sinh có giải học sinh giỏi, học trường chuyên hoặc có chứng chỉ tiếng Anh quốc tế.
Thí sinh cần theo dõi chi tiết quy đổi điểm và mốc xét tuyển sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT 2026.
Năm 2026, Đại học Kinh tế TP.HCM dành 8.240 chỉ tiêu cơ sở TP.HCM, tại Vĩnh Long 650 chỉ tiêu; trong đó tất cả sinh viên tại Vĩnh Long đều luân chuyển học tập năm cuối tại TP.HCM.
Nhà trường tuyển sinh 82 chương trình tại TP.HCM và 15 chương trình tại Vĩnh Long, trải rộng trên 12 lĩnh vực như: kinh doanh và quản lý, luật, toán và thống kê, máy tính và công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật ứng dụng, kiến trúc và xây dựng, du lịch - khách sạn, dịch vụ vận tải, nhân văn, khoa học xã hội và hành vi…
Đặc biệt nhà trường mở thêm 8 chương trình đào tạo mới gắn với chuyển đổi số và thị trường quốc tế, như: kinh tế chính trị quốc tế, công nghệ logistics (tích hợp chứng chỉ FIATA), sản xuất thông minh, AI for Business, kiến trúc và thiết kế đô thị thông minh, luật và luật thương mại quốc tế…
Đáng chú ý trường tăng mạnh các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh toàn phần và song bằng quốc tế, đồng thời giảm dần chỉ tiêu chương trình tiếng Việt.
Đại học Kinh tế TP.HCM áp dụng cơ chế học phí theo tín chỉ, tạo điều kiện để sinh viên chủ động lập kế hoạch tốt nghiệp sớm phù hợp với năng lực cá nhân.
Mức học phí tín chỉ khác nhau dựa trên các tiêu chí: chương trình đào tạo thuộc khối ngành nào, có kiểm định chất lượng quốc tế hay chưa, ngôn ngữ đào tạo, thời gian đào tạo và cơ sở đào tạo tại TP.HCM hay Vĩnh Long.
Mức học phí trung bình năm học 2026-2027 tại cơ sở TP.HCM: 40-50 triệu đồng/năm (chương trình tiếng Việt); 55-75 triệu đồng/năm (chương trình tiếng Anh); 70-80 triệu đồng/năm (song bằng, Co-op).
Học phí tại phân hiệu Vĩnh Long tương đương 60% học phí tại TP.HCM. Lộ trình điều chỉnh học phí hằng năm không quá 10%.
Năm 2026, nhà trường dành tổng ngân sách học bổng hàng chục tỉ đồng nhằm thu hút và hỗ trợ tân sinh viên xuất sắc, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và sinh viên quốc tế, áp dụng tại cả hai cơ sở đào tạo TP.HCM và Vĩnh Long, gồm: 570 suất tại TP.HCM (tối đa 27 triệu đồng/suất); học bổng ưu tiên ngành công nghệ, kỹ thuật; hỗ trợ sinh viên khó khăn và sinh viên quốc tế (có thể miễn 100% học phí, hỗ trợ sinh hoạt phí).
Thông tin tuyển sinh Đại học Kinh tế TP.HCM xem chi tiết tại đây.