Chiều 2.6, Thủ tướng Lê Minh Hưng chủ trì cuộc họp về việc tiếp tục triển khai hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Hiện Trung tâm tài chính quốc tế hoạt động theo mô hình “một trung tâm, hai điểm đến” tại TP.HCM và Đà Nẵng. Hội đồng Điều hành và Cơ quan điều hành tại hai địa phương đã triển khai các hoạt động hợp tác với cơ quan quản lý, định chế tài chính, ngân hàng, quỹ đầu tư, doanh nghiệp công nghệ và tổ chức quốc tế và chuẩn bị danh mục sản phẩm, dịch vụ tài chính phù hợp với lợi thế riêng.
Về nhân sự và hạ tầng, cơ quan điều hành Trung tâm tài chính tại TP.HCM và Đà Nẵng cũng đã được thành lập, từng bước kiện toàn bộ máy, bố trí nhân sự, quy hoạch, bố trí trụ sở, chuẩn bị khu vực lõi.
Phát biểu kết luận, Thủ tướng Lê Minh Hưng nêu rõ, Kết luận số 18 của Trung ương đã nhấn mạnh yêu cầu khẩn trương đưa Trung tâm tài chính vào hoạt động. Đây là một trong những giải pháp quan trọng để huy động dòng vốn trung và dài hạn phục vụ phát triển nhanh, bền vững.
Theo người đứng đầu Chính phủ, thách thức trong phát triển Trung tâm tài chính quốc tế còn rất nhiều, trong bối cảnh quốc tế phức tạp, các Trung tâm tài chính trong khu vực và trên thế giới cạnh tranh gay gắt để thu hút dòng vốn.
“Việt Nam đi sau nên phải có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút nhà đầu tư nhưng vẫn quản lý được, kiểm soát rủi ro, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm tăng trưởng bền vững”, Thủ tướng nhấn mạnh.
Về các nhiệm vụ, giải pháp thời gian tới, Thủ tướng giao Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng làm Chủ tịch Hội đồng Điều hành Trung tâm tài chính, nếu phát sinh vấn đề vượt thẩm quyền thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Các cơ quan hoàn thiện quy chế hoạt động của Trung tâm tài chính, Hội đồng điều hành và cơ quan điều hành, hoàn thành trước 10.6. Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo Hội đồng điều hành khẩn trương phối hợp với hai thành phố nghiên cứu mô hình chuẩn về cơ quan điều hành, kiến nghị lựa chọn phương án khả thi, phù hợp, tối ưu nhất, vì công việc chung.
TP.HCM, Đà Nẵng hiện là 2 động lực tăng trưởng của đất nước. Do đó, Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan và hai thành phố kiến nghị, xác định danh mục các sản phẩm, dịch vụ tài chính của Trung tâm tài chính, trước hết là các sản phẩm, dịch vụ gắn với thương mại, đầu tư để thu hút nguồn lực phát triển cho hai thành phố, phục vụ các công trình hạ tầng trọng điểm trên địa bàn.
Ngoài 8 nghị định đã có, Thủ tướng yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu các quy định mới trong tháng 6 nhằm tạo cơ chế đột phá để nhanh chóng có một số sản phẩm, dịch vụ tài chính mới chủ chốt cho Trung tâm tài chính. Trong đó, nghiên cứu cơ chế thanh tra giám sát trực thuộc các cơ quan Trung ương, thực hiện thanh tra, giám sát theo lĩnh vực được giao quản lý.
Tin Gốc: Thanh Niên
Chính Trị
Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Thái Lan hướng tới tầm cao mới

Trả lời phỏng vấn về chuyến thăm chính thức Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường cho biết chuyến thăm chính thức Thái Lan của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là chuyến thăm đầu tiên đến một nước ASEAN của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trên cương vị mới, đồng thời diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước vừa được nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện.
"Chuyến thăm trước hết thể hiện sự coi trọng cao của Việt Nam đối với quan hệ với Thái Lan cũng như đối với khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi sâu rộng về các định hướng lớn nhằm triển khai hiệu quả khuôn khổ hợp tác mới, qua đó tạo thêm xung lực cho quan hệ song phương trong thời gian tới", ông Cường khẳng định.
Thứ trưởng cho rằng, một kỳ vọng quan trọng là tiếp tục củng cố và làm sâu sắc hơn nữa tin cậy chính trị giữa hai nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực đang có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, việc tăng cường trao đổi chiến lược, phối hợp lập trường và duy trì tiếp xúc cấp cao có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là nền tảng để hai nước tiếp tục mở rộng hợp tác trên tất cả các lĩnh vực.
Về kinh tế, chuyến thăm được kỳ vọng sẽ mở ra những bước phát triển mới trong thương mại, đầu tư, logistics và kết nối chuỗi cung ứng. Hai bên có nhiều tiềm năng hợp tác trong các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi công nghiệp. Đây đều là những lĩnh vực phù hợp với chiến lược phát triển của cả hai nước trong giai đoạn mới.
"Chuyến thăm cũng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy mạnh hơn kết nối khu vực, đặc biệt trong hợp tác Mê Kông và ASEAN. Việt Nam và Thái Lan đều có vai trò quan trọng trong thúc đẩy liên kết kinh tế nội khối ASEAN, tăng cường kết nối hạ tầng, thương mại và giao lưu nhân dân trong khu vực", Thứ trưởng cho biết.
Bên cạnh đó, hợp tác văn hóa, du lịch và giao lưu nhân dân sẽ tiếp tục được mở rộng. Việc tăng cường kết nối hàng không, hợp tác du lịch, giao lưu thanh niên, sinh viên và địa phương sẽ góp phần củng cố nền tảng xã hội bền vững cho quan hệ song phương.
Hai bên cũng được kỳ vọng tiếp tục phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là trong ASEAN, nhằm đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.
"Có thể khẳng định rằng, với nền tảng quan hệ hữu nghị tốt đẹp, tin cậy chính trị cao và nhiều tiềm năng hợp tác rộng mở, chuyến thăm lần này sẽ tạo thêm động lực mới để đưa quan hệ Việt Nam - Thái Lan phát triển mạnh mẽ hơn nữa, hướng tới những tầm cao mới trong thời gian tới", Thứ trưởng khẳng định.
Điểm lại những bước phát triển nổi bật trong quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan thời gian qua, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường cho rằng, Việt Nam và Thái Lan là hai nước láng giềng gần gũi, có nhiều lợi ích tương đồng trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.
"Trải qua gần 50 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ hai nước không ngừng được củng cố và phát triển mạnh mẽ, toàn diện, trở thành một trong những mối quan hệ năng động và hiệu quả nhất trong ASEAN", ông Cường khẳng định.
Một dấu mốc đặc biệt quan trọng là việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2025. Điều này phản ánh mức độ tin cậy chính trị rất cao giữa hai nước, đồng thời thể hiện quyết tâm chung của lãnh đạo hai bên trong việc đưa quan hệ song phương phát triển sâu sắc, thực chất và hiệu quả hơn trong giai đoạn mới.
Điểm nổi bật trong quan hệ Việt Nam - Thái Lan là sự củng cố tin cậy chính trị ngày càng vững chắc. Hai bên duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao, các cơ chế hợp tác và trao đổi chiến lược trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, cơ chế họp Nội các chung cấp Thủ tướng là nét đặc sắc trong quan hệ giữa hai nước, thể hiện sự gắn bó và phối hợp chặt chẽ trong thúc đẩy hợp tác toàn diện.
Hợp tác kinh tế tiếp tục là điểm sáng. Thái Lan hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN, với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2025 đạt hơn 22 tỉ USD. Hai nền kinh tế ngày càng gắn kết sâu hơn trong chuỗi cung ứng khu vực. Thái Lan hiện cũng là một trong những nhà đầu tư lớn nhất ASEAN tại Việt Nam, với nhiều dự án quy mô lớn trong các lĩnh vực năng lượng, công nghiệp chế biến, bán lẻ, logistics và hạ tầng.
Hai nước có nhiều tiềm năng hợp tác trong phát triển chuỗi cung ứng, kết nối giao thông, logistics và hợp tác tiểu vùng Mê Kông. Với vị trí địa chiến lược quan trọng của mỗi nước, hai bên có điều kiện thuận lợi để trở thành các trung tâm kết nối của khu vực Đông Nam Á lục địa.
Bên cạnh kinh tế, hợp tác quốc phòng - an ninh giữa hai nước ngày càng thực chất và đi vào chiều sâu. Hai bên phối hợp chặt chẽ trong phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, buôn bán ma túy, mua bán người, an ninh mạng và các thách thức an ninh phi truyền thống. Điều này góp phần quan trọng vào việc củng cố lòng tin, duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực.
Hợp tác văn hóa, giáo dục, du lịch và giao lưu nhân dân cũng phát triển mạnh mẽ. Hai nước hiện có khoảng 20 cặp tỉnh, thành phố kết nghĩa. Cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan là cầu nối hữu nghị quan trọng giữa hai dân tộc. Đặc biệt, các khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thái Lan mang ý nghĩa lịch sử và tình cảm sâu sắc, góp phần vun đắp quan hệ hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước.
Trên nền tảng đó, hai nước có điều kiện thuận lợi để tiếp tục đưa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu, thực chất hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sau Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn, quyết liệt hơn và mang tính đột phá. Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế thuần túy, mà là biểu hiện tập trung của khát vọng phát triển nhanh và bền vững, đưa Việt Nam đến năm 2030 trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, tiến tới hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, xung đột cục bộ, chiến tranh công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh diễn ra sâu rộng; trong nước đang triển khai đồng bộ các chủ trương lớn về tinh gọn bộ máy, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thì nhiệm vụ đặt ra đối với toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị là hết sức nặng nề; trong đó, công tác tuyên giáo và dân vận giữ vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là "mặt trận tư tưởng" mà còn là động lực tinh thần, là chất keo gắn kết xã hội, là lực lượng đi trước mở đường, đi cùng thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn. Yêu cầu mới đòi hỏi công tác tuyên giáo và dân vận phải chuyển mạnh từ trạng thái "giải thích - tuyên truyền" sang "dẫn dắt - kiến tạo - đồng hành - truyền cảm hứng phát triển", góp phần trực tiếp vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược của đất nước.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của công tác tuyên giáo là dẫn dắt nhận thức xã hội về mục tiêu tăng trưởng hai con số, làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiểu đúng, hiểu sâu và tin tưởng vào con đường phát triển mà Đảng đã lựa chọn.
Tăng trưởng hai con số không chỉ là tăng về quy mô, mà quan trọng hơn là tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực. Đây là sự chuyển dịch căn bản về tư duy phát triển, đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ từ nhận thức đến hành động.
Công tác tuyên giáo phải góp phần làm rõ tăng trưởng nhanh nhưng phải bền vững, hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, môi trường; phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Đồng thời, cần kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tư duy an phận, trì trệ, sợ đổi mới; tâm lý "an toàn", né tránh trách nhiệm; nhận thức sai lệch về vai trò của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn cho thấy, mọi bước phát triển đột phá đều bắt đầu từ đột phá về tư duy. Vì vậy, công tác tuyên giáo phải thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong việc giải phóng tư tưởng, khơi dậy khát vọng vươn lên của toàn xã hội.
Để bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng không đánh đổi các giá trị cốt lõi, cần xây dựng và lan tỏa hệ giá trị phát triển quốc gia trong thời kỳ mới, bao gồm: yêu nước, kỷ cương, sáng tạo, liêm chính, trách nhiệm, hiệu quả. Công tác tuyên giáo phải đóng vai trò trung tâm trong việc định hình chuẩn mực giá trị xã hội; gắn kết giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, nếu không có nền tảng giá trị vững chắc, xã hội dễ rơi vào tình trạng phát triển lệch chuẩn, chạy theo vật chất, suy giảm đạo đức. Do đó, việc xây dựng hệ giá trị không chỉ là nhiệm vụ văn hóa, mà còn là yêu cầu chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Điểm nghẽn lớn hiện nay không chỉ nằm ở thể chế hay nguồn lực vật chất, mà còn nằm ở tư duy phát triển. Do đó, công tác tuyên giáo cần góp phần làm rõ và lan tỏa nhận thức: Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt; mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển vì lợi ích quốc gia.
Đồng thời, cần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; làm giàu chính đáng; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây chính là quá trình giải phóng nguồn lực xã hội từ gốc - đó là tư duy và động lực con người.
Những cải cách lớn về tổ chức bộ máy, phân cấp, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số… sẽ tác động sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân. Công tác dân vận cần chuyển mạnh từ "vận động hành chính" sang đối thoại, lắng nghe, thuyết phục và đồng hành với người dân, doanh nghiệp.
Phải làm cho nhân dân hiểu: Vì sao cần cải cách? Cải cách mang lại lợi ích gì? Vai trò của mỗi người trong quá trình phát triển? Đồng thuận xã hội chính là điều kiện tiên quyết để triển khai thành công các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Mục tiêu cuối cùng của phát triển là con người. Vì vậy, công tác tuyên giáo phải gắn chặt với các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học công nghệ. Phải hình thành trong xã hội tinh thần học tập suốt đời; tôn trọng tri thức; khuyến khích sáng tạo. Một xã hội học tập, một nền kinh tế tri thức chính là nền tảng để duy trì tăng trưởng cao và bền vững.
Công tác dân vận cần tiếp tục khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất. Do vậy, cần tăng cường đối thoại với nhân dân; phát huy vai trò của trí thức, doanh nhân, người Việt Nam ở nước ngoài; xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Khi lòng dân đồng thuận, niềm tin được củng cố, thì mọi khó khăn đều có thể vượt qua, mọi mục tiêu đều có thể đạt được.
Trong bối cảnh mới, phương thức tuyên truyền cần được đổi mới toàn diện từ một chiều sang tương tác đa chiều; từ truyền thống sang đa nền tảng số; từ thông tin chung sang cá nhân hóa. Đồng thời, cần xây dựng các chiến dịch truyền thông lớn về chuyển đổi số; phát triển kinh tế xanh; đổi mới sáng tạo; xây dựng xã hội hạnh phúc. Làm cho chính sách của Đảng và Nhà nước thực sự đi vào đời sống, trở thành hành động cụ thể của từng người dân.
Công tác kiểm tra, giám sát cần chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa các biểu hiện suy thoái; kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm; kết hợp giữa kiểm tra truyền thống với ứng dụng công nghệ số. Mục tiêu là giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số và xây dựng một xã hội phồn vinh, văn minh, hạnh phúc là một khát vọng lớn, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trong hành trình đó, công tác tuyên giáo và dân vận không chỉ là "cầu nối" mà phải thực sự trở thành người dẫn đường về tư tưởng; người khơi nguồn cảm hứng phát triển; người kết nối và huy động sức mạnh toàn xã hội.
Phát huy truyền thống vẻ vang, đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức hoạt động, công tác tuyên giáo và dân vận chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, đưa Việt Nam vững bước trên con đường trở thành quốc gia phát triển, vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Nguồn: https://thanhnien.vn/dan-dat-tu-tuong-khoi-day-khat-vong-phat-trien-185260401134433023.htm

Phát biểu trước Quốc hội Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng cảm ơn Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Sri Lanka đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm và thắm tình hữu nghị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng những nỗ lực và kết quả quan trọng mà Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Sri Lanka đã đạt được trong củng cố, ổn định, phục hồi và phát triển đất nước. Việt Nam tin tưởng rằng, với truyền thống văn minh lâu đời, vị trí chiến lược tại Ấn Độ Dương, bản lĩnh của nhân dân và quyết tâm của các nhà lãnh đạo, Sri Lanka sẽ tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, thịnh vượng và hạnh phúc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh Sri Lanka có vị trí rất đặc biệt trong ký ức lịch sử và tình cảm của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ba lần dừng chân tại Sri Lanka trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng. Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thủ đô Colombo được khánh thành năm 2013 và trở thành biểu tượng đầy xúc động của tình cảm mà nhân dân Sri Lanka dành cho Việt Nam.
Đối với nhân dân Việt Nam, đó không chỉ là những dấu chân của một lãnh tụ trên hành trình đi tìm độc lập cho dân tộc mình. Đó còn là sự gặp gỡ tự nhiên giữa các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình, nhân văn và công lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì." Tư tưởng ấy có sự đồng điệu sâu sắc với khát vọng của nhân dân Sri Lanka về một đất nước độc lập, hòa bình, ổn định và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân.
Việt Nam và Sri Lanka tuy cách xa về địa lý, nhưng rất gần gũi về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển. Hai dân tộc đều có truyền thống lâu đời, giàu bản sắc, đề cao tinh thần nhân ái, khoan dung và hòa hợp. Phật giáo và các giá trị văn hóa phương Đông đã góp phần nuôi dưỡng trong mỗi dân tộc tình yêu hòa bình, lòng nhân ái và ý thức cộng đồng.
Chia sẻ về hành trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt là công cuộc Đổi mới gần 40 năm qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, gần 40 năm trước, khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đứng trước muôn vàn khó khăn. Việt Nam đã lựa chọn Đổi mới. Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy. Để phát triển đất nước, phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng thực tiễn, mạnh dạn thay đổi những cơ chế không còn phù hợp, khơi dậy sức sáng tạo của nhân dân, phát huy vai trò của doanh nghiệp, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ, với những kết quả đã đạt được Việt Nam không tự mãn; trái lại, càng phát triển, Việt Nam càng hiểu rằng phát triển là hành trình liên tục đổi mới, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện và vươn lên.
Từ hành trình đó, Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với các quốc gia đang phát triển: kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư quốc tế, phát triển thương mại phải đi đôi với nâng cao năng lực nội sinh; phát huy vai trò của pháp luật, Quốc hội và quản trị quốc gia trong kiến tạo phát triển, đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế; lấy người dân làm trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển; coi nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nền tảng quan trọng của ổn định và phát triển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ, Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để thực hiện mục tiêu đó, Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn đời sống nhân dân; xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ, khát vọng lớn phải được chứng minh bằng hành động cụ thể, cụ thể là cải cách mạnh mẽ hơn, quản trị hiệu quả hơn, phát huy dân chủ rộng rãi hơn, đoàn kết toàn dân tộc sâu sắc hơn và hợp tác quốc tế thực chất hơn. Những vấn đề đó không chỉ là yêu cầu riêng của Việt Nam. Đó cũng là câu hỏi chung của nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam và Sri Lanka. Điều Việt Nam mong muốn chia sẻ là hành trình đã đi qua, có cả những thành công và chưa thành công, với tinh thần cầu thị và sẵn sàng cùng học hỏi.
Về quan hệ song phương, Việt Nam mong muốn cùng Sri Lanka mở ra giai đoạn hợp tác mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn. Vui mừng thông báo với Quốc hội và nhân dân Sri Lanka, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, trên nền tảng tin cậy chính trị, tình hữu nghị truyền thống và nhu cầu hợp tác ngày càng sâu rộng, Việt Nam và Sri Lanka đã nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác toàn diện. Đây là dấu mốc quan trọng, mở ra không gian hợp tác mới, toàn diện hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn giữa hai nước.
Đề xuất một số hướng hợp tác lớn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh tới tăng cường tin cậy chính trị và hợp tác nghị viện. Hai nước cần tiếp tục duy trì trao đổi đoàn cấp cao và các cấp; tăng cường hợp tác giữa các cơ quan của đảng, nhà nước, chính phủ, quốc hội và địa phương hai nước; phát huy vai trò các cơ chế tham vấn, đối thoại, ủy ban hỗn hợp và các kênh hợp tác song phương. Việt Nam mong muốn hai quốc hội thúc đẩy hoạt động của các nhóm nghị sĩ hữu nghị, làm cầu nối để quan hệ hai nước ngày càng gần gũi, thực chất.
Hai nước cần tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư. Việt Nam có thể là cầu nối để Sri Lanka tăng cường hợp tác với ASEAN và Đông Nam Á; Sri Lanka có thể là cầu nối quan trọng để Việt Nam mở rộng hợp tác với Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương; khuyến khích các biện pháp thiết thực như tạo thuận lợi thương mại, tăng kết nối doanh nghiệp, trao đổi đoàn xúc tiến, triển lãm, hội thảo, kết nối cung - cầu và xem xét các khuôn khổ pháp lý thuận lợi hơn cho đầu tư, thương mại. Các cơ quan hữu quan hai nước phối hợp chặt chẽ, cụ thể hoá các thỏa thuận đã đạt được thành chương trình, dự án và kết quả thiết thực cho người dân, doanh nghiệp hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ cần đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, an ninh lương thực và phát triển nông thôn; phát triển các động lực hợp tác mới gồm kinh tế biển, logistics, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và tăng trưởng xanh; tăng cường giáo dục, văn hóa, du lịch và giao lưu nhân dân; phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn khu vực và quốc tế.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ, Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình do đã trải qua chiến tranh. Việt Nam hiểu giá trị của độc lập vì đã phải đấu tranh lâu dài để giành và giữ độc lập. Việt Nam hiểu giá trị của phát triển bởi đã đi lên từ nghèo khó. Và Việt Nam hiểu giá trị của bạn bè, bởi trong những năm tháng khó khăn nhất, đã nhận được sự ủng hộ, đoàn kết và tình cảm quý báu của nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân Sri Lanka.
Ngày nay, Việt Nam mong muốn biến tình hữu nghị truyền thống thành nguồn lực phát triển thực sự; biến sự tin cậy chính trị thành hợp tác kinh tế cụ thể; biến giao lưu văn hóa thành sự hiểu biết sâu sắc; biến khát vọng chung thành những dự án, chương trình và lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tin tưởng rằng, với nền tảng hơn nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao, với sự tương đồng về lịch sử, văn hóa và khát vọng phát triển, với quyết tâm của lãnh đạo và sự ủng hộ của nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Sri Lanka sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới, sâu sắc hơn, thực chất hơn và hiệu quả hơn.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, từ Hà Nội đến Colombo, từ Biển Đông đến Ấn Độ Dương, Việt Nam và Sri Lanka có chung một niềm tin: hòa bình là nền tảng, nhân dân là trung tâm, phát triển là mục tiêu và hữu nghị là cây cầu bền vững nhất nối liền hai dân tộc.
Tin Gốc: Thanh Niên

