Đến tối qua (4.4, theo giờ VN), số phận phi công điều khiển máy bay tiêm kích F-15 của Mỹ vẫn chưa rõ.
Trước đó, chiều tối 3.4 (theo giờ VN), Lực lượng Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) tuyên bố bắn rơi thêm một máy bay tiêm kích tàng hình F-35 của Mỹ, nhưng kết quả xác minh sau thì chiến đấu cơ bị bắn hạ là dòng F-15. Chiến đấu cơ này được điều khiển bởi 2 thành viên phi hành đoàn. Trong đó, người phụ trách điều khiển vũ khí của chiến đấu cơ đã được giải cứu thành công, còn phi công trực tiếp điều khiển máy bay thì chưa rõ số phận giữa bối cảnh người này đang bị Iran ra sức truy lùng. Vụ việc tạo ra những thách thức quân sự và ngoại giao cho Mỹ. Vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nếu phi công Mỹ bị Iran bắt làm tù binh.
Tiếp đến, Iran cũng đã bắn trúng 2 trực thăng UH-60 Blackhawk tham gia tìm kiếm và cứu nạn thành viên phi hành đoàn chiếc F-15. Một số binh sĩ trên 2 trực thăng UH-60 Blackhawk bị thương nhẹ nhưng tất cả đều an toàn.
Không những vậy, đến rạng sáng 4.4, 1 chiếc máy bay cường kích A-10 Thunderbolt II đã bị Iran bắn trúng. Tuy nhiên, phi công đã kịp điều khiển chiếc A-10 ra khỏi lãnh thổ Iran, rồi nhảy dù và được giải cứu. Quân đội Iran tuyên bố chiếc máy bay rơi xuống vịnh Ba Tư sau khi bị hệ thống phòng không của nước này bắn ở gần eo biển Hormuz.
Tờ The Washington Post dẫn lời chuẩn tướng không quân về hưu Houston Cantwell (Mỹ) cho biết lần cuối cùng một chiến đấu cơ của Mỹ bị bắn hạ trong chiến đấu là chiếc A-10 Thunderbolt II. Vụ việc xảy ra trong cuộc chiến Iraq năm 2003. Chính vì thế, việc chiếc F-15 vừa bị bắn hạ được cho là điều chưa từng xảy ra với không quân Mỹ trong hơn 20 năm qua.
Nhận xét về vụ việc, ông Behnam Ben Taleblu, Giám đốc cấp cao chương trình Iran tại Quỹ bảo vệ dân chủ – một tổ chức tư vấn chính sách ở Washington (Mỹ), đánh giá nhiều khả năng phía Iran đã sử dụng tên lửa đối không vác vai để bắn hạ chiếc F-15. Khi tác chiến, chiến đấu cơ có thể phải bay rất thấp.
Bộ Tư lệnh trung tâm Mỹ (CENTCOM) ngày 1.4 công bố quân đội nước này đã tiến hành hơn 13.000 lượt không kích trong cuộc tấn công Iran từ ngày 28.2, và đã đánh trúng 12.300 mục tiêu.
Mỹ cũng đã tự tin rằng đã vô hiệu hóa hoàn toàn hệ thống phòng không Iran. Cách đây vài ngày, Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth cho biết hệ thống phòng không của Iran đã bị phá hủy đến mức Mỹ triển khai máy bay ném bom B-52 dễ dàng tấn công lãnh thổ nước này. Ra đời và chiến đấu hơn 70 năm, oanh tạc cơ B-52 có ưu thế mang lượng vũ khí lớn, nhưng tốc độ bay chậm hơn các dòng oanh tạc cơ hiện đại và cũng thiếu khả năng tàng hình. Việc tăng cường triển khai B-52 trực tiếp tấn công cho thấy Mỹ tự tin đã phá hủy năng lực phòng không của Iran.
Chính vì thế, việc F-15 bị bắn hạ là lời cảnh báo cho không quân Mỹ trong cuộc chiến chưa hạ nhiệt ở Iran, nhất là khi Tổng thống Trump đe dọa sẽ sử dụng không quân để đưa đối phương “về thời kỳ đồ đá”.
Bên cạnh đó, một điểm nghẽn khác của cuộc chiến là eo biển Hormuz – nơi Iran đang phong tỏa để gây áp lực với Mỹ. Để “mở cửa” Hormuz, Mỹ nhiều khả năng có thể sử dụng sức mạnh quân sự. Với giải pháp này, máy bay cường kích A-10 đóng vai trò quan trọng để có thể triệt hạ các ổ tấn công di động mà Iran có thể triển khai ở vùng núi dọc eo biển Hormuz. Các máy bay này cần tiến hành các phi vụ liên tục và đảm bảo một chuỗi tiêu diệt chặt chẽ để có thể nhanh chóng vô hiệu hóa các mục tiêu. Dòng máy bay cường kích này cũng là vũ khí hữu hiệu để hỗ trợ lực lượng Mỹ nếu đổ bộ lên đảo Kharg của Iran. Thực tế, từ ngày 1.4, tờ The New York Times dẫn lời quan chức Mỹ Lầu Năm Góc đang điều động thêm 18 cường kích A-10 để gia nhập 12 chiếc A-10 hiện có ở Trung Đông.
Song song là lớp phòng thủ với trực thăng vũ trang để thiết lập lực lượng yểm trợ chống lại tàu tấn công nhanh, tàu không người lái của Iran. Có như thế, Mỹ mới hạn chế việc các tàu chiến bị tập kích ở vùng biển này. Tuy nhiên, với việc 2 chiến đấu cơ bị bắn hạ và 2 máy bay trực thăng bị tấn công chỉ trong 1 ngày khiến các toan tính trên của Washington gặp thách thức lớn.
Phát biểu bên lề Diễn đàn Kinh tế Quốc tế St. Petersburg (SPIEF) ngày 3/6, Thứ trưởng Ngoại giao Nga Sergey Ryabkov tuyên bố bất kỳ hành động nào chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của Nga từ phía các thế lực thù địch đều có thể dẫn đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân trong trường hợp xấu nhất.
"Đối với chúng tôi, những tình huống cực đoan giả định, có thể dẫn đến việc sử dụng loại vũ khí này, đã được nêu chi tiết trong học thuyết quân sự của Nga và các nguyên tắc cơ bản trong chính sách răn đe hạt nhân của nhà nước Nga", nhà ngoại giao cấp cao nhắc lại.
Theo ông Ryabkov, việc các thế lực thù địch xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Nga có thể dẫn đến việc Moscow sử dụng vũ khí hạt nhân.
"Nói một cách thẳng thắn, những tài liệu này gửi đi một tín hiệu rằng việc xâm phạm nước Nga hoặc sự toàn vẹn lãnh thổ của Nga bởi các thế lực thù địch, bao gồm những thế lực có thể sở hữu những vũ khí như vậy, có thể khiến chúng tôi sử dụng những vũ khí này trong trường hợp xấu nhất", ông Ryabkov cảnh báo.
Ông Ryabkov tuyên bố các đối thủ của Nga nên xem xét những cảnh báo này một cách nghiêm túc nhất có thể.
"Đây là một lời cảnh báo và một thông điệp cần được xem xét nghiêm túc nhất có thể, và không ai - gồm cả các đối thủ của chúng tôi - nên thử thách quyết tâm của Nga trong việc sử dụng mọi phương tiện phòng thủ sẵn có”, nhà ngoại giao Nga nhấn mạnh.
Nga năm 2024 đã cập nhật học thuyết hạt nhân để ứng phó với sự xuất hiện của các rủi ro quân sự mới.
Cụ thể, học thuyết sửa đổi mở rộng phạm vi các quốc gia và liên minh quân sự chịu sự răn đe hạt nhân, cũng như danh sách các mối đe dọa quân sự mà sự răn đe đó được thiết kế để chống lại.
Ngoài ra, học thuyết còn nêu rõ rằng Nga sẽ coi bất kỳ cuộc tấn công nào của một quốc gia phi hạt nhân, được một cường quốc hạt nhân hỗ trợ, là một cuộc tấn công chung. Nguyên tắc cơ bản của học thuyết vẫn là việc sử dụng vũ khí hạt nhân là biện pháp cuối cùng để bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết, các nguyên tắc cơ bản về răn đe hạt nhân của Nga cần phải được điều chỉnh để phù hợp với thực tế hiện tại.
Chủ nhân Điện Kremlin chỉ ra rằng, tình hình quân sự và chính trị hiện nay đang thay đổi mạnh mẽ và Moscow phải tính đến điều này, bao gồm cả sự xuất hiện của các mối đe dọa và rủi ro quân sự mới.
Ông Putin nhấn mạnh, Moscow có thể đáp trả hạt nhân đối với một cuộc tấn công xuyên biên giới quy mô lớn có sự tham gia của máy bay, tên lửa hoặc máy bay không người lái. Một cường quốc hạt nhân đối thủ hỗ trợ quốc gia khác tấn công Nga cũng sẽ bị coi là một bên tham gia cuộc tấn công đó.
Điều này có nghĩa rằng, việc phương Tây cho phép Ukraine tấn công sâu vào lãnh thổ Nga bằng các vũ khí tầm xa mà họ viện trợ cũng sẽ bị coi là thuộc diện áp dụng quy tắc răn đe hạt nhân của Nga.
Trước đây, học thuyết hạt nhân cho phép Nga sử dụng vũ khí hạt nhân trong trường hợp một quốc gia khác sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Moscow hoặc nếu "sự tồn tại của nhà nước Nga bị đe dọa".
Tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi ở Nhật Bản giảm 0,3 điểm phần trăm xuống còn 10,8% tổng dân số, cũng là mức thấp nhất kể từ khi có số liệu thống kê vào năm 1950, theo dữ liệu do Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản công bố.
Các số liệu được tính toán dựa trên ước tính dân số từ cuộc điều tra dân số quốc gia được tiến hành 5 năm một lần.
Dù chính phủ Nhật Bản đã ưu tiên các biện pháp để giải quyết tỷ lệ sinh giảm và coi giai đoạn đến năm 2030 là "cơ hội cuối cùng để đảo ngược xu hướng", nhưng sự suy giảm vẫn tiếp diễn bất chấp các bước như tăng cường hỗ trợ tài chính cho các hộ gia đình nuôi con.
Theo số liệu mới, xét theo giới tính, có 6,81 triệu bé trai và 6,48 triệu bé gái. Xét theo độ tuổi, có 3,09 triệu trẻ em từ 12 đến 14 tuổi, trong khi đó có 2,13 triệu trẻ em từ 0 đến 2 tuổi, cho thấy xu hướng số lượng trẻ em sinh ra đang giảm, theo Kyodo News.
Số lượng trẻ em, trong đó có cả người nước ngoài, sinh ra ở Nhật Bản vào năm 2025 đã đạt mức thấp kỷ lục là 705.809, giảm năm thứ 10 liên tiếp, theo số liệu sơ bộ do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản công bố.
Số trẻ em ở Nhật Bản đã giảm kể từ năm 1982, sau khi đạt đỉnh điểm vào năm 1954 với 29,89 triệu, trong khi một đợt bùng nổ dân số thứ hai trong giai đoạn từ năm 1971-1974.
Theo một cuộc khảo sát của Liên Hiệp Quốc được thực hiện vào các thời điểm khác nhau, Nhật Bản có tỷ lệ trẻ em thấp thứ hai trong số 38 quốc gia có dân số từ 40 triệu người trở lên. Hàn Quốc có tỷ lệ trẻ em thấp nhất là 10,2%.