Cuối năm 2025, khi đang đi công tác ở New Zealand, bà Trần Thị Lành, người sáng lập Viện Nghiên cứu sinh thái chính sách xã hội (SPERI), bỗng nhận được cuộc gọi từ một giáo sư lớn tuổi, khiến bà phải mua ngay vé máy bay để trở về Hà Nội. Nguồn cơn của sự vội vã ấy xuất phát từ nguy cơ bộ môn tài nguyên và môi trường đất của Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) bị “xóa sổ”.
Chia sẻ với Thanh Niên, bà Trần Thị Lành cho rằng việc tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 18 đáng lẽ phải là một cuộc sàng lọc để đặt đúng người, đúng việc, đúng vị thế. Thế nhưng bản dự thảo “tinh lọc, sắp xếp lại” của Khoa Môi trường lại đề xuất đổi tên khoa thành “Khoa Môi trường và thực phẩm”, đồng thời giải thể 3 bộ môn, trong đó có bộ môn tài nguyên và môi trường đất (trước đây là bộ môn thổ nhưỡng thuộc Khoa Sinh học), để gom cơ sở vật chất về một trung tâm nghiên cứu.
Bà Lành đau xót nhận định trong triết lý khoa học, đất chính là “mẹ” của các ngành sinh học, hóa học và địa chất học. “Tinh gọn là phải hoàn trả hệ giá trị cốt lõi về đúng vị trí của triết lý, chứ không phải chạy theo các thuật ngữ thị trường một cách hời hợt”, bà nói.
Nhờ sự đấu tranh mạnh mẽ của những người tâm huyết, bộ môn tài nguyên và môi trường đất được giữ lại, nhưng vẫn ở trong tình trạng “tự sinh, tự trôi”. Bộ môn tồn tại cầm chừng do ngành cốt lõi là khoa học đất đã phải ngừng tuyển sinh từ lâu. K61 là khóa tuyển sinh cuối cùng (năm 2016) và được gần 20 sinh viên, nhưng chỉ 6 em “trụ” lại được đến ngày tốt nghiệp.
GS Lê Thanh Sơn, Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, cho biết ngoài khoa học đất, khoảng chục ngành khoa học cơ bản (vốn có thế mạnh truyền thống) của trường cũng đang đứng ở lằn ranh “tồn tại” và “không tồn tại”. Nhiều ngành phải đóng mã (do không tuyển sinh được), nhưng nhà trường vẫn giữ lại đội ngũ giảng viên, duy trì bộ môn, chờ cơ hội để “vực dậy”.
Nhà trường phải cân đối nguồn thu từ học phí của các ngành mạnh (toán, lý, hóa, sinh…) để trả lương cơ bản nhằm giữ giảng viên. Có những ngành khi mở lại mã ngành, dù chỉ tuyển sinh được trên dưới 10 sinh viên (trong khi một lớp cần 50 sinh viên mới đủ kinh phí để duy trì), nhà trường vẫn tổ chức giảng dạy. Học phí không đủ chi, nhà trường phải xin nhà nước hỗ trợ.
Theo GS Phùng Hồ Hải, nguyên Viện trưởng Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH-CN VN, thực trạng nền khoa học cơ bản hiện nay là hệ quả của một quá trình đầu tư “ngược”.
Hàn Quốc và Trung Quốc đều ưu tiên phát triển công nghệ, sau đó là toán học. Còn VN thì từ những năm 1960 đã đầu tư rất mạnh về nhân lực cho nghiên cứu cơ bản, nhưng việc này không đồng bộ với phát triển kỹ thuật công nghệ, khiến cho nghiên cứu cơ bản ở VN thiếu sự kết nối với kỹ thuật công nghệ.
“Nghiên cứu cơ bản ở VN vốn được tạo ra một cách tương đối miễn cưỡng, duy ý chí. Nó đã được xây dựng như một sự chuẩn bị cho sự phát triển của đất nước (sau chiến tranh). Tuy nhiên, vế thứ hai đã không được phát triển đầy đủ. Đội ngũ nghiên cứu cơ bản ở VN vừa tản mạn về nhân lực, vừa thiếu thốn về cơ sở vật chất, vừa thiếu liên hệ với các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ, do các lĩnh vực này cũng chưa phát triển, thậm chí chưa tồn tại ở VN. Dù vậy, nghiên cứu cơ bản ở VN vẫn có những đóng góp âm thầm nhưng quan trọng, là đóng góp vào việc phát triển nhân lực khoa học công nghệ”, GS Phùng Hồ Hải phân tích.
Cũng theo GS Phùng Hồ Hải, với kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc họp cho chủ trương về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản gần đây, mà quan điểm chủ đạo là xem nghiên cứu cơ bản đứng đầu chuỗi phát triển KH-CN, cho phép giới chuyên gia kỳ vọng vào bức tranh khoa học cơ bản “đẹp và có ích” ở VN thời gian tới.
GS Nguyễn Phùng Quang, nguyên giảng viên ĐH Bách khoa Hà Nội, cũng ngậm ngùi kể lại một kỷ niệm “không vui”: “Từ thập niên 1970 của thế kỷ trước, các chuyên gia ngành tự động hóa VN nói riêng và thế giới nói chung đã bắt đầu nghiên cứu số hóa với kỳ vọng gia tăng số lượng, chất lượng sản phẩm. Sự chín muồi của tự động hóa chính là điều kiện cần của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Khi ấy ở VN cũng có một vài điểm sáng hứa hẹn về kỹ thuật bán dẫn (ví dụ Nhà máy Z181 sản xuất transistor), hay về kỹ thuật điện (ví dụ Nhà máy Động cơ Việt – Hung). Đáng tiếc, sau hơn 40 năm, các điểm sáng đó hoặc đã biến mất khỏi thị trường, hoặc đang tồn tại với những dòng sản phẩm không thể đáp ứng kỳ vọng cao nhất”.
Theo GS Nguyễn Phùng Quang, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định “khoa học cơ bản là cơ sở để hình thành công nghệ lõi” đã chạm tới nỗi niềm trăn trở bấy lâu nay của các nhà khoa học ngành tự động hóa VN.
Theo GS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội, nhìn “lịch sử” mảng nghiên cứu phát triển (R&D) của các doanh nghiệp FDI (đầu tư nước ngoài) cũng có thể thấy sự “trỗi dậy âm thầm” của nguồn nhân lực khoa học cơ bản, nhờ sự bền bỉ duy trì mảng này của các trường đại học, viện nghiên cứu.
Đến năm 2000, VN hầu như chưa có một cái chấm nhỏ nào trên bản đồ công nghệ. Thời điểm đó, dù “bùng nổ” doanh nghiệp FDI, nhưng họ chỉ đầu tư vào mảng chế xuất, sử dụng lao động giá rẻ.
Từ năm 2008, VN có chính sách “yêu cầu” các doanh nghiệp phải đầu tư vào R&D (thông qua luật Công nghệ cao). Thoạt tiên, các doanh nghiệp triển khai đầu tư vào R&D trong trạng thái bị áp đặt và làm một cách khiên cưỡng. Doanh nghiệp nào muốn làm thật thì vấn đề nhân lực tại chỗ, đặc biệt là nhân lực được đào tạo bài bản về khoa học cơ bản và có năng lực nghiên cứu ứng dụng là một bài toán nan giải.
Nhưng gần đây bắt đầu có một số doanh nghiệp nổi lên cho việc đầu tư và R&D, thậm chí có đơn vị chỉ đầu tư vào VN mảng R&D chứ không đầu tư chế xuất. Chẳng hạn Samsung khi mới đầu tư vào VN chỉ tập trung mảng chế xuất, sau đó họ tập trung vào R&D (qua Trung tâm SVMC). Ban đầu quy mô bé, nhưng giờ là Trung tâm SRV rất lớn, và Samsung đã nhận được nhiều “lợi ích” từ Trung tâm SRV này. Ngày 4.6, Trung tâm SRV ký kết với Trường ĐH Công nghệ – ĐH Quốc gia Hà Nội biên bản hợp tác đào tạo thạc sĩ, cung cấp nguồn nhân lực cho trung tâm.
Nhiều doanh nghiệp FDI khác (Bosch, LG, Nissan Automatics…) cũng đầu tư vào R&D rất mạnh ở VN. Thậm chí, ở VN đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp chỉ làm R&D rồi bán sản phẩm nghiên cứu và phát triển cho các doanh nghiệp khác. Vừa qua có một doanh nghiệp của Hà Lan đã chuyển toàn bộ mảng R&D và sản xuất từ Philippines sang VN do họ nhận thấy tiềm năng của nguồn nhân lực trình độ cao của VN hứa hẹn hơn. Thậm chí, họ đóng cửa cả R&D ở châu Âu để tập trung toàn bộ các khâu R&D và sản xuất ở VN.
“Trước đây là bị “ép” dành ra một khoản dành cho R&D, nhưng bây giờ doanh nghiệp FDI đã nhìn thấy lợi ích từ R&D. Hơn nữa, họ không còn quá chật vật trong việc giải bài toán nhân lực trình độ cao. Dù vẫn khó khăn, nhưng năng lực đào tạo của các trường ĐH trong nước bước đầu đã đáp ứng được phần nào nhu cầu nguồn lực con người cho nền kinh tế công nghệ cao”, GS Chử Đức Trình chia sẻ.
Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn - ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship - hướng trực tiếp vào học sinh Việt Nam độ tuổi 14-16.
Hằng năm, các giáo viên từ Trường trung học Singapore bay sang Hà Nội và TP.HCM để tổ chức thi tuyển tại chỗ, cấp học bổng toàn phần bao gồm học phí, ký túc xá, sinh hoạt phí và vé máy bay khứ hồi trong suốt bốn năm.
Mục tiêu trước mắt của họ: đưa những học sinh xuất sắc của ASEAN vào học chung với học sinh nội địa, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Mục tiêu lâu dài, không kém phần rõ ràng: đào tạo bậc đại học và giữ lại nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là chiến lược quốc gia, được tính toán bài bản từ nhiều năm trước.
Anh, Mỹ, Úc cũng có những cơ chế tương tự từ lâu ở bậc đại học và sau đại học - học bổng toàn phần, chương trình visa ưu đãi cho sinh viên quốc tế xuất sắc muốn ở lại làm việc sau khi tốt nghiệp. Các em vào, học giỏi, được giữ lại. Cách làm hiệu quả cao.
Câu chuyện trong nước lại có phần khác. Ví dụ như đối với học sinh các trường phổ thông năng khiếu, trường chuyên - những em được chọn lọc kỹ càng từ top đầu của hệ thống giáo dục - lẽ ra nên được miễn học phí toàn bộ.
Các trường đại học trong nước chưa có nhiều chính sách hấp dẫn để thu hút những học sinh ưu tú nhất. Trong khi đó học sinh dẫn đầu luôn được săn tìm, chào đón của các đại học hàng đầu nước ngoài.
Nghịch lý là: ngay ở trong các trường chuyên, trường năng khiếu - nơi nỗ lực chọn lọc và đào tạo xuất sắc - là môi trường mà việc tìm học bổng nước ngoài, ra đi và ở lại làm việc ngoài nước gần như là một mặc định không cần bàn cãi.
Có học bổng nước ngoài còn được xem như thành công của trò lẫn trường. Không ai nói thẳng "đừng về" nhưng không ai thuyết phục được "tại sao phải về", còn "cần phải đi" thì là điều mặc nhiên.
Khi văn hóa được định vị như thế thì những lời động viên đi học để về phát triển quốc gia tự nhiên trở thành lạc lõng, viển vông.
Thật đáng tiếc! Các bậc phụ huynh có con em xuất sắc cũng đắn đo khi một bên là môi trường làm việc đẳng cấp quốc tế với mức đãi ngộ tương xứng, một bên là hệ thống trong nước với ít nhiều rào cản vô hình. Vì thế những học sinh giỏi nhất vẫn lựa chọn ra đi là điều gần như không cần bàn thêm.
Hồi đầu năm 2026, tiến sĩ Phạm Hy Hiếu - cựu học sinh Trường phổ thông Năng khiếu TP.HCM, từng giành huy chương bạc Olympic toán học, tốt nghiệp Stanford, lọt Forbes 30 Under 30 Việt Nam - thông báo rời OpenAI về nước.
Câu chuyện của anh tạo ra nhiều cảm xúc khác nhau: hiểu áp lực công việc của môi trường AI đỉnh cao và sự nể phục tài năng và trân trọng khi anh quyết định trở về Việt Nam cùng gia đình để hồi phục và làm việc.
Nhưng ẩn dưới đó là một câu hỏi mà không phải ai cũng dám đặt thẳng: Chừng nào thì những nhà khoa học, những người trẻ xuất sắc sớm về Việt Nam?
Hành trình của Phạm Hy Hiếu là hành trình của rất nhiều người giỏi thế hệ anh và trước anh: xuất phát từ trường chuyên, giành học bổng, ra đi, trở thành nhân tài ở nước người. Khi họ trở về, nếu có, thường là vì những lý do khác chứ không phải vì có một lực hút đủ mạnh từ quê hương.
Mỗi học sinh xuất sắc ra đi khi còn trẻ là một khoản đầu tư dài hạn mà xã hội đã bỏ ra (qua hệ thống giáo dục phổ thông, qua trường chuyên, qua sự kỳ vọng) nhưng lợi tức lại chảy về nơi khác. Điều đó không sai trái với từng cá nhân.
Nhưng với quốc gia, đó là bài toán cần lời giải: từ năng lực xuất sắc cá nhân (đã sẵn), định hướng cống hiến đất nước, lòng tin được trọng dụng (có đủ chắc chắn không). Và điều cần nhất là môi trường làm việc thuận lợi nhất để phát triển bản thân khi người giỏi trở về.
Câu hỏi không phải là "tại sao họ ra đi?" mà là: chúng ta làm gì đủ hấp dẫn để họ muốn ở lại học trong nước hoặc muốn trở về khi học xong ở nước bạn?
Nguyễn Thị Hải Yến (SN 2003, quê Thanh Hóa), du học sinh theo học thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục Hán ngữ quốc tế tại Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh.
Trước khi sang Trung Quốc, Yến là sinh viên khoa tiếng Trung Quốc, Đại học Hà Nội. Bắt đầu học ngoại ngữ này từ năm 2021, cô sớm đạt HSK6, sở hữu điểm TOEIC cao và giành học bổng Chính phủ Trung Quốc (CSC).
Mang “Bèo dạt mây trôi” vào lớp học hơn 100 sinh viên quốc tế
Trong học phần tâm lý giáo dục, mỗi sinh viên được yêu cầu chuẩn bị một tiết mục biểu diễn. Yến không chọn những bài hát quen thuộc, mà quyết định mang một làn điệu dân gian Việt Nam lên sân khấu.
“Trong đầu mình nghĩ ngay đến “Bèo dạt mây trôi”. Mình muốn các bạn Trung Quốc được nghe một điều gì đó rất Việt Nam”, Yến chia sẻ.
Trước lớp học hơn 100 người, cô không giấu được sự hồi hộp. Tuy nhiên, khi giai điệu vang lên, không khí nhanh chóng thay đổi. Nhiều sinh viên Trung Quốc đắm chìm vào giai điệu, đồng thời dùng điện thoại để ghi lại khoảnh khắc biểu diễn của cô.
Sau buổi học, không ít người nhắn tin hỏi tên bài hát, cách viết tiếng Việt và bày tỏ sự bất ngờ vì giai điệu tình cảm và gần gũi.
Ban đầu, Yến cho biết cô không nghĩ nhiều đến việc mình đang đại diện cho hình ảnh du học sinh Việt Nam. Tuy nhiên, sau thời gian sống và học tập tại Bắc Kinh, cô dần nhận ra những hành động nhỏ của mình cũng góp phần tạo nên hình ảnh du học sinh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.
Ngoài âm nhạc, cô còn lan tỏa văn hóa qua ẩm thực: Nem rán, phở hay nước mắm chua ngọt trở thành cầu nối giúp nữ sinh kết bạn với nhiều sinh viên nước ngoài.
Hành trình du học không chỉ có những trải nghiệm tích cực. Yến thừa nhận cô từng trải qua giai đoạn khó khăn khi mới sang Trung Quốc. “Ba ngày đầu, ngày nào mình cũng khóc vì nhớ nhà”, cô kể.
Những ngày đầu sang Trung Quốc, Hải Yến gặp không ít cú sốc văn hóa. Rào cản đầu tiên là khác biệt ngôn ngữ, tiếp đến là nhịp sống nhanh.
Cô cảm nhận rõ xung quanh mình, ai cũng trong trạng thái nỗ lực không ngừng, luôn “chạy” để theo kịp guồng quay. Chính điều đó khiến Yến không tránh khỏi áp lực và buộc bản thân phải cố gắng hết sức để thích nghi.
“Mất khoảng một tháng mình mới bắt đầu quen với cuộc sống ở đây”, cô cho biết.
Điều gì khó quá: Vừa khóc vừa làm
Theo học chương trình thạc sĩ kéo dài 2 năm, Yến cho biết lịch học khá nặng, thậm chí áp lực hơn thời đại học. Một ngày của cô bắt đầu từ 8h sáng, học liên tục đến trưa, sau đó tiếp tục ca học buổi chiều. Buổi tối, Yến dành thời gian để đọc tài liệu, làm nghiên cứu và viết luận.
Chia sẻ về việc cân bằng giữa học tập và nghỉ ngơi, Hải Yến cho rằng mỗi người sẽ có cách riêng. Cô nhận thấy nhiều sinh viên Trung Quốc học với cường độ cao, dành rất nhiều thời gian ở thư viện, thậm chí đến 1-2h sáng.
Tuy nhiên, Yến không lựa chọn cách học đó. Cô chọn cách học theo tốc độ và phương pháp bản thân thấy hiệu quả. Ban ngày, cô tập trung tối đa khoảng 8 tiếng cho việc học, buổi tối dành thời gian đọc tài liệu và làm luận văn.
Cô cũng không để bản thân rơi vào trạng thái quá áp lực hay thức khuya kéo dài, bởi theo Yến, nghỉ ngơi đóng vai trò quan trọng không kém. Vào cuối tuần, cô thường dành thời gian thư giãn, đi chơi với bạn bè hoặc khám phá thành phố để cân bằng lại năng lượng.
Theo Hải Yến, việc là du học sinh quốc tế giúp cô có phần linh hoạt hơn, không bị cuốn hoàn toàn vào guồng học tập áp lực như nhiều sinh viên bản địa.
Từ một người khá hướng nội, du học Trung Quốc giúp cô dần trở nên cởi mở, chủ động kết bạn và tự tin hơn trong môi trường quốc tế.
“Đi du học khiến mình dũng cảm hơn, dù chỉ một chút nhưng là thay đổi rất rõ ràng”, Yến nói.
Theo Yến, việc học ngoại ngữ không dừng lại ở ngữ pháp hay từ vựng, mà còn là cơ hội để đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới. Trong quá trình học, cô thường lựa chọn các đề tài nghiên cứu liên quan đến cả Việt Nam và Trung Quốc, như so sánh phương pháp giảng dạy giữa hai nước.
Dù gặp không ít khó khăn, cô cho biết bản thân vẫn cố gắng thích nghi. “Không làm được thì… vừa khóc vừa làm”, Yến nói.
Về định dạng bài thi, thí sinh được đăng ký các môn: Toán, ngữ văn, tiếng Anh, vật lý, hóa học, sinh học, lịch sử, địa lý, công nghệ (định hướng công nghiệp), công nghệ (định hướng nông nghiệp), tin học, giáo dục kinh tế và pháp luật.
Thí sinh sử dụng kết quả thi để đăng kí xét tuyển vào các ngành đào tạo theo yêu cầu của mỗi cơ sở giáo dục đại học.
Nhà trường lưu ý, mỗi trường có quy định số lượng và tổ hợp môn thi khác nhau để xét tuyển vào các ngành đào tạo, thí sinh cần tìm hiểu kỹ thông tin tuyển sinh của từng cơ sở giáo dục đại học để đăng kí đúng và đủ số môn thi, phù hợp với nguyện vọng xét tuyển.
Về nội dung, cấu trúc đề thi tương ứng với nội dung các môn học, môn thi cấp THPT; phù hợp với Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và định hướng dạy học, kiểm tra đánh giá của Bộ GD&ĐT.
Đề thi kết hợp các dạng câu hỏi trắc nghiệm và tự luận với tỉ lệ điểm phù hợp theo cấu trúc từng bài thi; đánh giá mức độ thông hiểu kiến thức cốt lõi và năng lực lập luận, phân tích, đánh giá, giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Thí sinh làm bài trực tiếp tại phòng thi, trả lời các câu hỏi bằng cách tô trên phiếu trả lời trắc nghiệm (TLTN) và viết trên tờ giấy thi.
Các dạng câu hỏi và cách thức trả lời cụ thể như sau:
Thí sinh đăng ký dự thi trên trang thông tin chính thức của kỳ thi độc lập đánh giá năng lực (SPT) của Trường Đại học Sư phạm và chỉ có thể lựa chọn tham dự một trong hai đợt thi.
Thí sinh có thể đăng ký dự thi tại một trong các địa điểm thi tương ứng, không giới hạn số lượng đăng ký tại một địa điểm thi.
Các đợt thi và địa điểm thi như sau:
Lịch thi cụ thể như sau:
Kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Sư phạm Hà Nội năm nay lần đầu tiên môn tin học, công nghệ, giáo dục kinh tế và pháp luật được đưa vào kỳ thi, bên cạnh toán, ngữ văn, tiếng Anh, vật lý, hóa học, sinh học, lịch sử và địa lý như mọi năm. Thí sinh có thể đăng ký thi tối thiểu ba môn, tối đa 7 môn.
Năm ngoái, gần 17.500 thí sinh tham dự kỳ thi, trung bình một em thi 3 môn. Kết quả được 25 trường sử dụng để xét tuyển đầu vào, phần lớn thuộc khối Sư phạm và một số trường khác.