Được tổ chức bởi Nobel Prize Museum, hội nghị không chỉ quy tụ các giáo viên toàn cầu mà còn kết nối trực tiếp với các nhà khoa học đoạt giải Nobel, qua đó đưa những tri thức đỉnh cao của nhân loại trở lại một câu hỏi rất “đời thường” – làm thế nào để những tri thức đó được dạy, được hiểu và được sử dụng trong lớp học?
Là giám đốc học thuật tổ chức giáo dục YOUREORG, đồng thời là học giả Chevening, học thạc sĩ ngành lãnh đạo giáo dục tại ĐH UCL (University College London), được dự Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel với tôi là một trải nghiệm quý giá. Trong không gian đó, một tư duy cốt lõi được lặp lại xuyên suốt các phiên thảo luận.
Giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà đóng vai trò giúp học sinh hiểu và hành động trước các vấn đề toàn cầu. Và để làm được điều này, giáo dục phải thay đổi cách tiếp cận – liên ngành, dựa trên khoa học và gắn với thực tiễn xã hội. Trọng tâm không còn là dạy cái gì, mà là dạy để làm gì trong một thế giới đang biến đổi.
Một điểm đặc biệt của hội nghị là cách các tri thức khoa học phức tạp được chuyển ngữ về ngôn ngữ giáo dục. Trong các phiên liên quan đến khoa học và công nghệ, những khái niệm tưởng chừng xa vời như công nghệ sinh học hay cấu trúc phân tử được trình bày theo hướng trực quan, dễ tiếp cận, mô phỏng vào các tình huống gắn với đời sống, giúp giáo viên dễ dàng chuyển hóa thành bài học cụ thể.
Thầy Nguyễn Ngọc Ân, đang học thạc sĩ ngành giáo dục và công nghệ, ĐH UCL, tham gia Hội nghị thượng đỉnh giáo viên Nobel 2026, cho rằng giá trị cốt lõi của chương trình không nằm ở việc cung cấp thêm kiến thức mới, mà ở cách tri thức được tổ chức lại để có thể đi vào lớp học.
Từ quan sát này, ông cho rằng bài học quan trọng đối với giáo dục Việt Nam không phải là bổ sung nội dung, mà là thay đổi cách trình bày và tổ chức tri thức. Không thể duy trì cách dạy thiên về diễn giải một chiều nếu muốn tạo ra năng lực thực chất.
Bác sĩ Nguyễn Văn Bình, học giả Chevening, đang học thạc sĩ ngành sức khỏe toàn cầu và phát triển tại ĐH UCL, cho biết điều khiến ông suy nghĩ nhiều nhất không nằm ở các phát minh đột phá, mà ở cách tri thức khoa học được trở nên gần gũi hơn với đời sống thông qua giáo dục.
Giải Nobel thường gắn với những thành tựu khoa học ở tầm cao, nhưng các thông điệp tại hội nghị lại xoay quanh những vấn đề rất cơ bản. Con người sống như thế nào, học như thế nào và tương tác ra sao với hệ thống xã hội. Trong cách tiếp cận này, sức khỏe không còn là câu chuyện riêng của ngành y, mà trở thành một vấn đề liên ngành, trong đó giáo dục giữ vai trò trung tâm.
Quan sát này, theo bác sĩ Bình, đặc biệt có ý nghĩa đối với đội ngũ giảng viên tại các trường đại học y khoa ở Việt Nam.
Chúng ta đang đào tạo bác sĩ rất tốt về chuyên môn, nhưng câu hỏi là liệu sinh viên y có được chuẩn bị để hiểu, về tác động tới các yếu tố xã hội của sức khỏe hay chưa. Khi sức khỏe gắn với hành vi, môi trường và giáo dục, thì đào tạo y khoa cũng cần mở rộng cách tiếp cận.
Thông điệp xuyên suốt mà chúng tôi ấn tượng tại hội nghị là vai trò ngày càng quan trọng của giáo viên, đồng thời các vấn đề toàn cầu được đưa vào giáo dục như một phần của năng lực sống, thay vì là nội dung bổ sung.
Bà Helena Barret, Giám đốc giáo dục của Bảo tàng Nobel Prize Museum, khi trao đổi riêng với chúng tôi, nhấn mạnh rằng trong một thế giới nơi thông tin ngày càng sẵn có, giá trị của giáo viên không nằm ở việc cung cấp kiến thức, mà ở việc giúp học sinh hiểu điều gì là quan trọng và sử dụng tri thức đó như thế nào.
Điều này cũng được phản ánh trong cách tổ chức lớp học tại các trường tham quan. Giáo viên không bị ràng buộc bởi một kịch bản cứng nhắc mà được trao quyền để thiết kế trải nghiệm học tập. Họ đặt câu hỏi, tạo tình huống và điều chỉnh cách dạy dựa trên phản ứng của học sinh.
Tại ngôi trường Franska Skolan, ở Stockholm, khi quan sát các lớp học ở đây, tôi thấy trong các tiết học, học sinh không học theo một lộ trình cố định mà được đặt vào tình huống để suy nghĩ, thử nghiệm và tự rút ra kết luận.
Trong một tiết toán, cùng một bài toán được giải theo nhiều cách. Giáo viên không đưa ra đáp án ngay mà yêu cầu học sinh so sánh, phản biện và tự viết lại cách hiểu của mình. Điều quan trọng không nằm ở việc đúng hay sai, mà ở quá trình tư duy.
Họ không dạy để học sinh làm đúng, mà dạy để học sinh hiểu. Khi đã hiểu, các em sẽ biết cách áp dụng.
Những quan sát, trải nghiệm tại Stockholm cho chúng tôi thấy rằng, điều quan trọng không phải học sinh Việt Nam cần “học nhiều hơn”, mà là học theo cách có ý nghĩa hơn. Đây cũng là tinh thần đã được nhấn mạnh trong định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng và Nhà nước, khi chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên không chỉ dừng ở việc cập nhật kiến thức, mà là tiếp cận được với tư duy khoa học hiện đại, hiểu các vấn đề từ góc nhìn liên ngành và quan trọng hơn là chuyển hóa được những tri thức đó thành trải nghiệm học tập gắn với thực tiễn. Đây cũng là một trong những định hướng lớn trong quá trình chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo hiện nay.
Tuy nhiên, những kinh nghiệm từ quốc tế không phải là những mô hình có thể áp dụng nguyên vẹn. Giá trị lớn nhất nằm ở việc cung cấp thêm những góc nhìn, từ đó giúp quá trình đổi mới trong nước có thêm cơ sở tham chiếu.
Điều quan trọng không phải là mang về một phương pháp cụ thể, mà là thay đổi cách mình nhìn về giáo dục. Khi cách nhìn thay đổi, cách làm sẽ thay đổi.
Trong một thế giới ngày càng phức tạp và nhiều biến động, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc giúp con người thích nghi, mà còn góp phần định hình cách họ hiểu và tham gia vào xã hội. Và những thay đổi đó, xét cho cùng, vẫn bắt đầu từ lớp học.
Trường Phổ thông dân tộc nội trú Vĩnh Linh (đóng ở xã Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) hiện có 273 học sinh là con em đồng bào Vân Kiều, Pa Cô ở các xã miền núi Vĩnh Ô, Vĩnh Hà, Vĩnh Khê theo học nội trú và bán trú.
Tuy nhiên, dãy nhà học chính 3 tầng xây dựng từ năm 1997 đang xuống cấp nghiêm trọng sau gần 30 năm sử dụng. Công trình gồm 12 phòng học và 3 phòng chuyên môn xuất hiện hàng loạt vị trí nứt vỡ, bong tróc nguy hiểm.
Nhiều đoạn hành lang, lan can bị gãy đổ, cốt thép lộ ra ngoài và hoen gỉ. Đáng lo ngại, một đoạn lan can dài khoảng 2 m ở tầng 2 đã sập hoàn toàn, nhà trường phải dùng thanh chắn tạm để ngăn học sinh đến gần.
Bên trong các phòng học, nhiều mảng trần và tường nứt nẻ, bê tông bong thành từng mảng, lộ khung thép. Theo thầy giáo Trần Ngọc Oanh, Hiệu trưởng nhà trường, dãy phòng học này có diện tích hơn 1.267m², dù đã xuống cấp nghiêm trọng nhưng nhà trường vẫn phải tiếp tục sử dụng vì chưa có phương án thay thế.
Em Hồ Gia Huy, học sinh lớp 9, cho biết thầy cô thường xuyên nhắc học sinh không đứng gần lan can hay chạy nhảy ở khu vực hư hỏng vì nguy cơ mất an toàn rất cao.
Theo cô Nguyễn Thị Nguyệt, giáo viên nhà trường, tình trạng bê tông bong tróc đã kéo dài nhiều năm và ngày càng nghiêm trọng hơn. Không ít lần bê tông từ trần nhà rơi xuống hành lang khi học sinh đang vui chơi.
"Có lần bê tông bất ngờ rơi xuống, rất may không ai bị thương. Học sinh hiếu động nên giáo viên luôn trong tâm trạng lo lắng", cô Nguyệt nói.
Không chỉ khu nhà học, khu nhà ăn cấp 4 rộng hơn 221 m² xây dựng cách đây hơn 40 năm cũng đang xuống cấp với mái dột, tường nứt, ẩm thấp, không còn đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của học sinh nội trú.
"Chúng tôi rất mong các cấp, ngành quan tâm đầu tư sửa chữa, nâng cấp các công trình xuống cấp để đảm bảo an toàn cho giáo viên và học sinh. Nếu không sớm khắc phục, chất lượng dạy và học sẽ bị ảnh hưởng đáng kể", thầy Trần Ngọc Oanh nói.
Ông Nguyễn Thiên Tùng, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Linh, cho biết địa phương vừa tiếp tục kiến nghị tỉnh quan tâm khắc phục tình trạng xuống cấp của trường trong chuyến làm việc mới đây của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Nguyễn Văn Phương.
Theo ông Tùng, lãnh đạo tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành liên quan khẩn trương bố trí vốn để sửa chữa, xây mới phòng học nhằm đảm bảo an toàn cho giáo viên và học sinh.
Trong thời gian chờ khắc phục, địa phương dự kiến di dời giáo viên và học sinh sang học tạm tại Trung tâm giáo dục thường xuyên xã Vĩnh Linh. Tuy nhiên, cơ sở này đã bỏ hoang nhiều năm nên vẫn cần được kiểm tra, đánh giá mức độ an toàn trước khi đưa vào sử dụng.
Trong đó, 119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh, trường chất lượng cao Phan Huy Chú - Đống Đa tuyển 400 em, 4 trường chuyên lấy hơn 2.700.
Tổng chỉ tiêu gần như tương đương năm ngoái, nhưng năm nay thủ đô có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng chừng 20.000 em. Vì thế, chỉ khoảng 55% có suất học lớp 10 công lập, thấp hơn gần 10%.
Con số này dự kiến tăng nhẹ khi một số trường dự kiến hoạt động từ năm tới chưa được giao chỉ tiêu, gồm THPT Hoàng Quán Chi (phường Yên Hòa), Vĩnh Hưng (phường Vĩnh Hưng), Việt Hùng (xã Đông Anh).
Chỉ tiêu lớp 10 của 119 trường THPT ở Hà Nội năm 2026 như sau:
TT
Trường
Chỉ tiêu 2026
Chỉ tiêu 2025
Tăng/giảm
1
THPT Phan Đình Phùng
720
720
0
2
THPT Phạm Hồng Thái
585
720
-135
3
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình
688
765
-77
4
THPT Tây Hồ
765
765
0
5
THPT Trần Phú
765
765
0
6
THPT Việt Đức
945
945
0
7
THPT Thăng Long
720
675
45
8
THPT Trần Nhân Tông
720
720
0
9
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng
675
675
0
10
THPT Đống Đa
675
720
-45
11
THPT Hoàng Cầu
540
-
-
12
THPT Kim Liên
765
765
0
13
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa
675
720
-45
14
THPT Quang Trung - Đống Đa
675
675
0
15
THPT Nhân Chính
585
585
0
16
Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân
675
765
-90
17
THPT Khương Đình
675
765
-90
18
THPT Khương Hạ
450
400
50
19
THPT Cầu Giấy
720
720
0
20
THPT Yên Hòa
765
765
0
21
THPT Hoàng Văn Thụ
765
765
0
22
THPT Trương Định
675
675
0
23
THPT Việt Nam - Ba Lan
720
765
-45
24
THPT Đỗ Mười
675
-
-
25
THPT Ngô Thì Nhậm
720
675
45
26
THPT Ngọc Hồi
675
675
0
27
THPT Đông Mỹ
675
765
-90
28
THPT Nguyễn Quốc Trinh
765
720
45
29
THPT Nguyễn Gia Thiều
720
675
45
30
THPT Lý Thường Kiệt
675
675
0
31
THPT Thạch Bàn
765
765
0
32
THPT Phúc Lợi
765
765
0
33
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm
765
765
0
34
THPT Dương Xá
720
720
0
35
THPT Nguyễn Văn Cừ
765
720
45
36
THPT Yên Viên
720
720
0
37
THPT Đa Phúc
765
675
90
38
THPT Kim Anh
675
675
0
39
THPT Minh Phú
585
585
0
40
THPT Sóc Sơn
765
675
90
41
THPT Trung Giã
675
630
45
42
THPT Xuân Giang
630
630
0
43
THPT Bắc Thăng Long
720
675
45
44
THPT Cổ Loa
675
765
-90
45
THPT Đông Anh
675
720
-45
46
THPT Liên Hà
675
675
0
47
THPT Vân Nội
765
720
45
48
THPT Phúc Thịnh
675
-
-
49
THPT Mê Linh
540
630
-90
50
THPT Quang Minh
450
540
-90
51
THPT Tiền Phong
585
495
90
52
THPT Tiến Thịnh
540
495
45
53
THPT Tự Lập
540
540
0
54
THPT Yên Lãng
585
495
90
55
THPT Nguyễn Thị Minh Khai
675
765
-90
56
THPT Xuân Đỉnh
675
765
-90
57
THPT Thượng Cát
540
585
-45
58
THPT Đại Mỗ
720
720
0
59
THPT Trung Văn
585
520
65
60
THPT Xuân Phương
675
765
-90
61
THPT Mỹ Đình
765
765
0
62
THPT Hoài Đức A
630
720
-90
63
THPT Hoài Đức B
720
720
0
64
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức
675
675
0
65
THT Hoài Đức C
585
540
45
66
THPT Đan Phượng
675
675
0
67
THPT Hồng Thái
630
585
45
68
THPT Tân Lập
675
630
45
69
THPT Thọ Xuân
540
540
0
70
THPT Ngọc Tảo
765
720
45
71
THPT Phúc Thọ
675
720
-45
72
THPT Vân Cốc
585
585
0
73
THPT Tùng Thiện
765
765
0
74
THPT Xuân Khanh
675
630
45
75
THPT Ba Vì
630
630
0
76
THPT Bất Bạt
450
450
0
77
Phổ thông Dân tộc nội trú
140
140
0
78
THPT Ngô Quyền - Ba Vì
675
675
0
79
THPT Quảng Oai
675
675
0
80
THPT Minh Quang
540
540
0
81
THPT Bắc Lương Sơn
540
495
45
82
Hai Bà Trưng - Thạch Thất
675
675
0
83
Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất
675
540
135
84
THPT Thạch Thất
765
675
90
85
THPT Minh Hà
450
450
0
86
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai
585
585
0
87
THPT Minh Khai
675
675
0
88
THPT Quốc Oai
675
675
0
89
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai
720
720
0
90
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông
765
765
0
91
THPT Quang Trung - Hà Đông
765
720
45
92
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông
720
720
0
93
THPT Lê Lợi
720
-
-
94
THPT Chúc Động
675
765
-90
95
THPT Chương Mỹ A
675
720
-45
96
THPT Chương Mỹ B
720
720
0
97
THPT Xuân Mai
675
765
-90
98
THPT Nguyễn Văn Trỗi
720
720
0
99
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai
675
765
-90
100
THPT Thanh Oai A
720
720
0
101
THPT Thanh Oai B
720
720
0
102
THPT Thường Tín
675
675
0
103
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín
540
630
-90
104
THPT Lý Tử Tấn
585
585
0
105
THPT Tô Hiệu - Thường Tín
585
630
-45
106
THPT Vân Tảo
630
585
45
107
THPT Đồng Quan
585
585
0
108
THPT Phú Xuyên A
675
675
0
109
THPT Phú Xuyên B
675
630
45
110
THPT Tân Dân
495
495
0
111
THPT Hợp Thanh
585
495
90
112
THPT Mỹ Đức A
720
675
45
113
THPT Mỹ Đức B
585
585
0
114
THPT Mỹ Đức C
675
585
90
115
THPT Đại Cường
450
450
0
116
THPT Lưu Hoàng
585
495
90
117
THPT Trần Đăng Ninh
585
540
45
118
THPT Ứng Hòa A
585
585
0
119
THPT Ứng Hòa B
585
540
45
Trong 119 trường THPT, hơn 30 trường tăng chỉ tiêu, phổ biến 45-90 học sinh, hơn 20 trường giảm, còn đa số ổn định.
THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất tăng 135 học sinh, trong khi THPT Phạm Hồng Thái giảm tương đương. Đây là hai trường có biến động chỉ tiêu nhiều nhất.
Với hệ chuyên, cả 4 trường đều giữ ổn định số lớp và chỉ tiêu như năm ngoái, tổng 2.730. Cụ thể, trường chuyên Hà Nội - Amsterdam tuyển 840 học sinh, chuyên Chu Văn An 665, chuyên Nguyễn Huệ 700 và chuyên Sơn Tây 525.
Chi tiết chỉ tiêu lớp 10 chuyên ở Hà Nội năm 2026
Thí sinh đang trong giai đoạn tập dượt đăng ký thi lớp 10 trực tuyến, trước khi đăng ký chính thức vào 10-17/4. Năm nay, các em có thể nhìn thấy số lượng nguyện vọng 1, 2 và 3 đặt vào từng trường theo thời gian thực, từ đó tính được tỷ lệ chọi.
Kỳ thi diễn ra ngày 30-31/5, thí sinh đăng ký trường chuyên sẽ thi thêm môn chuyên vào ngày 1/6. Dự kiến từ ngày 19 đến 22/6, Sở sẽ công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10.
Quy chế tuyển sinh ĐH năm nay có một khái niệm mới: nguồn tuyển. Theo đó, thí sinh (TS) tốt nghiệp THPT năm 2026, nguồn xét tuyển vào chương trình đào tạo trình độ ĐH là TS có tổng điểm 3 môn thi kỳ thi tốt nghiệp THPT (kỳ thi trung học nghề đối với đối tượng trung học nghề) theo tổ hợp xét tuyển (hoặc sử dụng điểm thi môn toán, ngữ văn và một môn thi khác) đạt tối thiểu 15 điểm theo thang điểm 30. Mức điểm này không tính điểm ưu tiên và điểm cộng. Đây là điều kiện để đăng ký xét tuyển với tất cả các phương thức, dù sử dụng điểm thi tốt nghiệp THPT hay các căn cứ xét tuyển khác như: điểm kỳ thi đánh giá năng lực, điểm học bạ…
Theo quy chế, tổ hợp sử dụng kết quả các môn thi tốt nghiệp THPT dùng để xét tuyển có ít nhất 3 môn phù hợp với đặc điểm, yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo. Trong đó, tổ hợp môn bắt buộc phải có toán hoặc ngữ văn (kết hợp 2 môn khác theo quy định trường/ngành/chương trình). Với phương thức tuyển sinh dựa trên kết quả học tập các môn học cấp THPT, tổ hợp môn này cũng bắt buộc có toán hoặc ngữ văn. Căn cứ theo quy định này, các trường ĐH xây dựng tổ hợp môn xét tuyển cho từng ngành đào tạo. Tùy đặc thù ngành, có ngành chỉ xét tuyển bằng 1 tổ hợp, có ngành sử dụng hơn 10 tổ hợp. Thậm chí, cùng một mã ngành đào tạo, mỗi trường quy định khác nhau về các tổ hợp môn xét tuyển.
Vậy 3 môn TS cần đạt 15 điểm theo kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2026 để đủ điều kiện xét tuyển bậc ĐH được hiểu như thế nào?
Theo tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, dù TS xét tuyển vào trường theo phương thức nào cũng cần đạt 15 điểm 3 môn theo tổ hợp xét tuyển từng ngành do trường quy định. Theo quy định của trường năm nay, tổ hợp xét tuyển mỗi ngành gồm 2 môn bắt buộc và 1 môn tự chọn trong số các môn còn lại. Với quy định này, các ngành của trường có nhiều tổ hợp xét tuyển khác nhau. TS đủ điều kiện để xét tuyển vào 1 ngành của trường khi có ít nhất 1 tổ hợp bất kỳ trong các tổ hợp theo quy định của ngành đó đạt từ 15 điểm trở lên.
Thạc sĩ Hoàng Thanh Tú, Phó trưởng phòng Thông tin - truyền thông Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho biết đối với TS tham dự kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, điều kiện để được xét tuyển vào một ngành/nhóm ngành khi thỏa 1 trong 2 trường hợp gồm: có tổng điểm của tổ hợp môn xét tuyển đạt từ 15 điểm trở lên (theo thang điểm 30); có tổng điểm thi của môn toán, ngữ văn và một môn khác thuộc tổ hợp xét tuyển của ngành/nhóm ngành đạt từ 15 điểm trở lên (theo thang điểm 30). Điểm các môn được sử dụng để xét ở 2 trường hợp trên là điểm gốc, trước khi quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ, không cộng điểm xét thưởng và không cộng điểm ưu tiên khu vực, đối tượng.
"Các môn trong tổ hợp được tính theo tổ hợp môn xét tuyển từng ngành/chương trình cụ thể quy định của trường. Ví dụ ngành công nghệ vật liệu, trường sử dụng 6 tổ hợp môn xét tuyển. TS xét vào ngành này cần đạt 15 điểm 3 môn của ít nhất 1 trong 6 tổ hợp môn theo quy định mới đủ điều kiện xét tuyển", thạc sĩ Tú thông tin thêm.
PGS-TS Tô Văn Phương, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Nha Trang, cho biết các tổ hợp môn xét tuyển của trường đều có toán và văn, cộng 1 trong số các môn: lý, hóa, sinh, địa, sử. Do đó, điều kiện nguồn xét tuyển của trường là TS cần có điểm toán, văn và 1 môn còn lại theo tổ hợp xét tuyển trường quy định đạt từ 15 điểm trở lên.
Tiến sĩ Huỳnh Trung Phong, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh viên và phát triển khởi nghiệp, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, cho rằng TS cần đạt tối thiểu 15 điểm 3 môn của tổ hợp mà TS sử dụng để xét tuyển vào từng ngành cụ thể. Với quy định thi tốt nghiệp THPT 4 môn, TS có thể có nhiều hơn 1 tổ hợp để xét tuyển vào 1 ngành. Các tổ hợp đủ điều kiện để xét vẫn cần đạt từ 15 điểm trở lên, trong đó bao gồm tổ hợp TS được xét trúng tuyển.
Tuy nhiên, tiến sĩ Phong lưu ý, mức 15 điểm này chỉ là quy định mức tối thiểu (nguồn xét tuyển) của Bộ GD-ĐT, không phải ngưỡng "điểm sàn" xét tuyển và điểm trúng tuyển các ngành của trường. Ví dụ, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM các năm trước đây không có ngành nào điểm trúng tuyển ở mức 15, cũng không có ngành nào nhận hồ sơ xét tuyển ở mức 15. Với các ngành đào tạo giáo viên, điểm nhận hồ sơ thường cao hơn ngưỡng quy định tối thiểu của Bộ GD-ĐT.
Thạc sĩ Hoàng Thanh Tú cũng lưu ý thêm, ngoài quy định chung trên, TS đăng ký vào ngành thiết kế vi mạch, ngành công nghệ bán dẫn và ngành kỹ thuật hạt nhân cần có thêm điều kiện riêng. Cụ thể, TS đăng ký vào ngành thiết kế vi mạch, ngành công nghệ bán dẫn cần điểm thi môn toán có giá trị lớn hơn hay bằng ngưỡng điểm thuộc nhóm 20% TS có điểm môn toán cao nhất toàn quốc trong kỳ thi THPT 2026 và tổng điểm tổ hợp 3 môn xét tuyển lớn hơn hay bằng ngưỡng điểm thuộc nhóm 25% TS có điểm của tổ hợp môn xét tuyển trong kỳ thi THPT 2026 cao nhất toàn quốc. TS đăng ký vào ngành kỹ thuật hạt nhân, muốn trúng tuyển vào ngành này cần có điểm THPT môn toán và vật lý phải từ 7,5 điểm trở lên.
Thạc sĩ Tú nhấn mạnh: "TS cần lưu ý sự khác nhau giữa quy định nguồn xét tuyển và ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào. Trong đó, quy định 15 điểm 3 môn là nguồn xét tuyển chung nhưng từng trường sẽ có mức điểm sàn tối thiểu nhận hồ sơ cho từng ngành/chương trình của trường đó. Điểm sàn này của nhiều trường/ngành có thể bằng mức 15 nhưng ngành/trường khác có thể cao hơn nhiều. Do đó, TS cần theo dõi thông tin cụ thể ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào các trường ĐH công bố sau có kết quả thi tốt nghiệp THPT để biết mình có đủ điều kiện xét tuyển vào ngành, trường cụ thể nào".
Từ thực tế tuyển sinh năm 2025, thạc sĩ Tú cho biết Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM không có ngành nào nhận hồ sơ từ mức 15 điểm. Điểm trúng tuyển các ngành của trường năm ngoái cũng dao động từ 19 - 29,92 điểm.