Báo South China Morning Post ngày 4-6 đưa tin, sau 6 tuần đeo robot hỗ trợ, 6 em nhỏ tại Trung Quốc mất khả năng vận động do căn bệnh teo cơ tủy sống (SMA) đã có thể tự đứng dậy.
SMA là một rối loạn di truyền khiến các dây thần kinh kết nối não và cơ bị suy thoái theo thời gian. Điều này làm cho người bệnh gặp khó khăn hoặc không thể co cơ, khiến cơ bắp bị teo nhỏ do thiếu vận động. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng, bệnh có thể khiến bệnh nhân phải ngồi xe lăn, nằm liệt giường, thậm chí gây khó khăn cho việc ăn uống, hô hấp và dẫn đến tử vong.
Các phương pháp điều trị hiện nay chỉ có thể làm chậm tiến trình của bệnh chứ không thể đảo ngược nó.
Trái ngược với các robot phục hồi chức năng truyền thống vốn tập trung vào việc nâng đỡ và hỗ trợ chuyển động, thiết bị robot mới dùng lực cản để giúp các em mắc SMA tái tạo chức năng vận động.
Giáo sư Feng Yanggang thuộc khoa cơ khí chế tạo và tự động hóa của Đại học Bắc Hàng giải thích việc hỗ trợ nâng đỡ thực chất có thể cản trở sự phát triển cơ bắp của bệnh nhân SMA.
Đối với những người dùng này, việc đeo robot kháng lực phù hợp hơn để thúc đẩy phát triển thần kinh cơ.
Nghiên cứu được phối hợp thực hiện bởi Đại học Bắc Hàng, Bệnh viện số 3 Đại học Bắc Kinh và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) của Mỹ và được công bố trên tạp chí Nature.
Nhóm nghiên cứu đã tuyển chọn ba bé trai và ba bé gái mắc SMA loại 2 từ 6 đến 10 tuổi. Trước đó, các em hoàn toàn không thể đứng nếu không có người trợ giúp.
6 em nhỏ tham gia một thử nghiệm kéo dài hơn 5 tháng, bao gồm: giai đoạn quan sát 6 tuần, 6 tuần tập luyện cường độ cao (năm buổi mỗi tuần), 6 tuần duy trì cường độ thấp (ba buổi mỗi tuần), và hơn 30 ngày theo dõi không sử dụng robot.
Khi đeo robot, các em tham gia một trò chơi điện tử có nội dung đá bóng trên màn hình bằng cách duỗi chân. Robot không giúp di chuyển mà tạo ra lực cản khi các em đá. Lực cản này không đồng đều mà tăng tỉ lệ thuận với lực đá của đứa trẻ, buộc cơ và thần kinh phải hoạt động cùng nhau.
Sau 6 tuần, khả năng cử động chân của các em cải thiện rõ rệt. Kích thước cơ tăng 19%, phạm vi chuyển động tăng 51% và sức mạnh của cơ tăng tới 130%. Đáng chú ý, các em duy trì những cải thiện này sau khi ngừng tập với robot.
Giáo sư Feng Yanggang cho biết sau khi bài báo được công bố, nhóm nghiên cứu đã nhận được rất nhiều yêu cầu hỗ trợ từ các bệnh nhân nước ngoài và họ có kế hoạch quảng bá thiết bị này đến cộng đồng bệnh nhân SMA quốc tế.
Cục Thống kê Lao động (BLS) thuộc Bộ Lao động Mỹ vừa công bố dữ liệu tiền lương của 830 ngành nghề vào giữa tháng 5. Tờ The Hill trích dẫn báo cáo này cho thấy nhóm chuyên gia y tế tiếp tục thống trị danh sách những công việc mang lại thù lao cao nhất nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Bác sĩ phẫu thuật nhi khoa đứng đầu danh sách với mức chi trả trung bình năm vượt 502.000 USD (khoảng 13,2 tỷ đồng). Bác sĩ tim mạch giữ vị trí thứ hai, thu về gần 455.000 USD (12 tỷ đồng).
Các vị trí tiếp theo thuộc về bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình, đạt mức thu nhập lần lượt là 382.000 USD (10 tỷ đồng) và 374.000 USD (9,8 tỷ đồng).
Bác sĩ cấp cứu cùng bác sĩ nhãn khoa nằm ở nhóm cuối của top 10 ngành y, bỏ túi từ 305.000 đến 317.000 USD (8-8,3 tỷ đồng).
Xu hướng này hiển hiện rõ rệt tại từng tiểu bang. Ở California, chuyên gia nhãn khoa kiếm gần 348.000 USD một năm, vượt xa mức bình quân 80.690 USD của các nghề nghiệp khác. Bác sĩ tim mạch tại Georgia nhận hơn 616.000 USD, cao gần gấp 10 lần mức trung bình 66.000 USD của toàn bang.
Tương tự, bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình làm việc ở Florida mang về hơn 462.000 USD, gấp 7 lần mặt bằng chung.
Thời gian đào tạo chuyên sâu và quá trình học tập sau đại học kéo dài giúp nhân sự ngành y duy trì vị thế dẫn đầu về tài chính.
Bên ngoài lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, phi công dân dụng, giám đốc điều hành (CEO) và vận động viên chuyên nghiệp ghi nhận mức lương nổi bật nhất. Phi công thu về gần 289.000 USD (7,6 tỷ đồng), CEO kiếm gần 270.000 USD, còn vận động viên nhận hơn 206.000 USD. Giới luật sư đạt mức 186.000 USD (4,9 tỷ đồng) mỗi năm.
BLS tổng hợp các số liệu ước tính này tính đến tháng 5/2025, dựa trên mức lương trung bình hàng năm thay vì dùng lương trung vị. Cơ quan này cộng tiền tip và tiền hoa hồng vào tổng thu nhập, đồng thời loại trừ tiền làm thêm giờ cùng phần lớn các khoản tiền thưởng khác.
Mỡ động vật như mỡ heo, mỡ bò thường chứa nhiều a xít béo bão hòa. Khi ăn quá nhiều trong thời gian dài, nhóm chất béo này có thể làm tăng cholesterol "xấu" LDL trong máu. Đây là loại cholesterol làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch và bệnh tim, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Hiệp hội Tim mạch Mỹ khuyến cáo người có nguy cơ bệnh tim nên hạn chế chất béo bão hòa, có nhiều trong mỡ động vật, bơ và sữa nguyên kem, xuống dưới khoảng 6% tổng lượng calo mỗi ngày. Cách này có thể góp phần kiểm soát cholesterol và giảm nguy cơ tim mạch.
Trong khi đó, nhiều loại dầu thực vật như dầu ô liu, dầu cải, dầu đậu nành, dầu hướng dương hoặc dầu làm từ trái bơ lại chứa nhiều chất béo không bão hòa đơn và không bão hòa đa. Những chất béo này là có lợi, có thể giúp giảm cholesterol "xấu" LDL và bảo vệ thành mạch máu.
Tuy nhiên, không phải tất cả dầu thực vật đều tốt như nhau. Ví dụ, dầu dừa và dầu cọ vẫn chứa lượng chất béo bão hòa khá cao. Do đó, nếu mục tiêu là bảo vệ tim mạch thì không nên sử dụng quá thường xuyên.
Một số quan điểm cho rằng mỡ heo truyền thống có thể tốt hơn dầu thực vật vì ít chế biến và tự nhiên. Tuy nhiên, mỡ heo dù ít chế biến nhưng vẫn chứa tỷ lệ chất béo bão hòa cao hơn nhiều loại dầu thực vật phổ biến. Nếu dùng thường xuyên với lượng lớn, đặc biệt khi chế độ ăn đã có nhiều thịt đỏ, nội tạng hoặc đồ chiên rán, nguy cơ tim mạch sẽ tăng lên.
Một điều cũng rất quan trọng là cách nấu. Ngay cả dầu được xem là tốt cho sức khỏe cũng có thể trở thành không tốt nếu sử dụng sai cách. Khi dầu hoặc mỡ bị đun ở nhiệt độ quá cao nhiều lần, đặc biệt trong các món chiên ngập dầu, chúng có thể bị ô xy hóa và tạo ra các hợp chất không tốt cho tim mạch.
Nếu muốn dùng hằng ngày thì hãy ưu tiên dùng dầu ô liu nguyên chất, dầu cải, dầu làm từ trái bơ, dầu đậu nành và dầu hướng dương. Trong khi đó, mỡ heo, bò không nhất thiết phải bị loại bỏ hoàn toàn. Chúng chỉ nên dùng với lượng vừa phải thay vì trở thành nguồn chất béo chính trong khẩu phần hằng ngày, theo Healthline.
Ngày 16/4, các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội nói sản phụ mang thai lần đầu, thai thụ tinh nhân tạo, một trai và một gái. Trong thai kỳ, bệnh nhân có tiền sử sinh non, từ tuần 20 bắt đầu có dấu hiệu cổ tử cung ngắn.
Từ tuần 22, bệnh nhân xuất hiện đau bụng, ra dịch, cơn co tử cung, cổ tử cung mở. Khoảng một tuần sau, bệnh nhân cấp cứu tại Khoa sản bệnh A4, cổ tử cung mở 2-3 cm.
"Lúc này, thai thứ nhất tụt thấp, chân thò ra ngoài trong bọc ối, tiên lượng rất nặng, nguy cơ sinh non và nhiễm trùng cao", bác sĩ Trương Minh Phương, người điều trị chính, nói.
TS.BS Mai Trọng Hưng, Giám đốc Bệnh viện và bác sĩ Phương nhận định khả năng giữ thai khó, nguy cơ nhiễm trùng đe dọa mẹ và thai còn lại. Tuần 26, sản phụ chuyển dạ, bé gái sinh non, nặng 650g, chuyển Bệnh viện Nhi Trung ương điều trị. Trẻ bị biến chứng chảy máu não, nhiễm trùng.
Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng giữa nguy cơ của mẹ, thai còn lại và cơ hội sống của thai nếu nuôi thêm trong bụng, các bác sĩ đã quyết định điều trị cắt cơn chuyển dạ để giữ lại thai nhi thứ hai trong tử cung mẹ.
"Thông thường, thai thứ hai sẽ sinh ngay sau thai một. Đây là lựa chọn mang tính bước ngoặt, mở ra cơ hội sống cao hơn cho em bé", bác sĩ Hưng nói.
Quá trình giữ thai 12 tuần với phác đồ điều trị nghiêm ngặt, điều chỉnh liên tục. Bệnh nhân phải kiểm soát nhiễm trùng chặt chẽ. Thai phát triển, tăng cân đều nhưng chậm.
Sáng 15/4, thai được 38 tuần, bác sĩ hội chẩn quyết định mổ lấy thai. Bé trai chào đời nặng 2,4 kg. Tình trạng ổn định. Bé gái nặng 1,8 kg, tự thở, tự ăn, phản xạ tốt.
Theo bác sĩ, thai thứ hai được giữ thêm 12 tuần sau khi thai một đã sinh là khoảng thời gian rất dài, hiếm gặp, bước tiến quan trọng trong sản khoa, mở ra cơ hội cho các ca song thai nguy cơ cao.
Bác sĩ khuyến cáo sản phụ cần theo dõi thai kỳ chặt chẽ bằng siêu âm 4D, doppler màu, đo tim thai... để phát hiện sớm bất thường. Nhờ đó, bác sĩ khám, siêu âm thai định kỳ mới đưa ra hướng xử trí phù hợp, an toàn cho mẹ và bé.