Ghi nhận tại điểm thi Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM, không khí diễn ra nghiêm túc, trật tự với khoảng 3.200 thí sinh dự thi, được bố trí tại 97 phòng thi đánh giá năng lực. Ngay từ sớm, thí sinh đã có mặt đông đủ để làm thủ tục, ổn định vào phòng thi theo quy định. Nhiều thí sinh rạng rỡ, tự tin chuẩn bị bước vào phòng thi, trong khi một số em vẫn lộ rõ sự hồi hộp, căng thẳng trước giờ làm bài.

Ở Đất Mũi, nơi nhiều tuyến đường bộ chưa thông suốt, chuyện học sinh đi học bằng đò từ lâu đã trở thành hình ảnh quen thuộc. Từ những chuyến đò ấy lại có một học trò đạt giải nhì quốc gia môn lịch sử nhờ đam mê môn học này.
Câu chuyện của Hồng Phúc Khang, học sinh lớp 12X1 Trường THPT Viên An đang được nhiều người nhắc đến như một dấu mốc đặc biệt của giáo dục vùng Đất Mũi. Bởi em không chỉ là thí sinh duy nhất của tỉnh Cà Mau đạt giải nhì học sinh giỏi quốc gia môn lịch sử (năm học 2025 - 2026), mà còn là học sinh đầu tiên của vùng Đất Mũi đạt thành tích này.
Gia đình Khang làm nuôi trồng thủy sản với diện tích nhỏ, cuộc sống không khá giả. Để lo cho gia đình và chuyện học hành của con trai, cha Khang phải làm thêm nhiều việc khác. Có lẽ hoàn cảnh ấy khiến em sớm hiểu rằng học tập là con đường quan trọng nhất để thay đổi tương lai.
Nhà cách trường vài cây số nhưng giao thông đường bộ chưa thông tuyến. Mỗi ngày đến lớp, Khang phải đi bằng đò. Riêng những ngày học thêm ngoài giờ, em được cha chở đi rồi đợi đón về. Những chuyến đò qua sông suốt nhiều năm đã hun đúc nên sự bền bỉ và ý chí vượt khó của Khang. "Cha mẹ luôn sát cánh cùng em… nên em càng quyết tâm học tập, không phụ lòng cha mẹ", Khang chia sẻ.
Trong suy nghĩ của nhiều học sinh, lịch sử thường là môn học nhiều dữ kiện, nhiều mốc thời gian và dễ tạo cảm giác khô khan. Nhưng với Khang, môn học này lại mở ra một thế giới khác.
Điều khiến câu chuyện của Khang trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở giải thưởng quốc gia mà còn ở cách em tiếp cận môn lịch sử. Khang không học theo kiểu ghi nhớ máy móc. Em đến với lịch sử bằng cảm xúc, bằng sự tò mò khám phá và cả sự kết nối với quê hương, đất nước.
Với nam sinh này, mỗi trang sử không chỉ là sự kiện hay con số. Đó còn là hình ảnh của những vùng đất, những câu chuyện về các anh hùng dân tộc, về phong tục, tập quán và hành trình hình thành của đất nước qua từng giai đoạn. "Ở mỗi trang sử em như thấy được hình ảnh quê hương, đất nước", Khang nói.
Có lẽ chính cách học bằng cảm xúc ấy khiến môn lịch sử trở nên gần gũi hơn với em. Thay vì học để nhớ rồi quên sau kỳ thi, Khang chọn cách hiểu bản chất vấn đề, liên kết sự kiện và tự đặt mình vào dòng chảy của lịch sử.
Cô Trần Kim Yến, giáo viên dạy lịch sử Trường THPT Viên An, người trực tiếp ôn luyện cho Khang, cho biết điều khiến cô ấn tượng ở cậu học trò này là tinh thần chủ động học tập. Trong các tiết học, Khang thường xuyên đặt câu hỏi, tranh luận và mở rộng vấn đề. Em luôn muốn hiểu sâu hơn nguyên nhân, bối cảnh và ý nghĩa của từng sự kiện lịch sử. "Niềm đam mê thật sự với môn học cùng tình yêu quê hương, đất nước chính là yếu tố quan trọng giúp Khang tạo nên thành tích đặc biệt này", cô Yến nói.
Một điểm khác biệt nữa trong hành trình học tập của Khang là việc tận dụng công nghệ để học lịch sử. Ở thời đại số, nam sinh vùng Đất Mũi không giới hạn việc học trong sách giáo khoa hay bài giảng trên lớp. Đối diện lượng kiến thức lớn và nhiều mốc thời gian dễ nhầm lẫn của môn lịch sử, Khang chọn cách hệ thống bằng sơ đồ tư duy, liên kết các sự kiện theo từng giai đoạn để dễ ghi nhớ hơn.
Song song đó, em tận dụng nền tảng học trực tuyến để xem video bài giảng, tìm thêm tài liệu và sử dụng AI để giải thích lại những phần kiến thức khó, đặt câu hỏi mở rộng hoặc luyện đề. Không dừng ở đó, việc học còn được "mềm hóa" bằng nhiều hình thức như xem phim tư liệu, tạo video clip, chơi game lịch sử hay tham gia các tiết học STEM trên lớp.
Điều đáng nói là Khang không xem công nghệ như công cụ thay thế việc học mà là cách giúp bản thân chủ động hơn trong tiếp cận kiến thức. "Nhờ ứng dụng công nghệ, việc học giúp em hiểu sâu và ghi nhớ lâu hơn", nam sinh nói.
Tuy nhiên, giữa thời đại AI và thông tin tràn ngập, Khang cũng tự đặt ra nguyên tắc rõ ràng, luôn kiểm chứng, đối chiếu thông tin để tránh sai lệch kiến thức lịch sử.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo danh sách cập nhật đến hết tháng 3 của Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, số này tăng hai so với trước, gồm trường Đại học Mở TP HCM và Quốc tế Hồng Bàng.
Chứng chỉ tiếng Anh theo khung năng lực 6 bậc dùng cho Việt Nam (VSTEP) hiện được dùng trong tuyển dụng công chức, viên chức, tuyển sinh sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ). Ở bậc đại học, đây là điều kiện để sinh viên được công nhận tốt nghiệp, tối thiểu bậc 3/6 trở lên (tương đương bậc B1 theo khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR). Một số trường cũng chấp nhận chứng chỉ này trong tuyển sinh đầu vào.
Để được tổ chức thi, các trường phải có bộ phận độc lập, chuyên thực hiện chức năng đánh giá năng lực ngoại ngữ; có đội ngũ nhân sự quản lý, chấm thi, ra đề, phân tích dữ liệu thi và kỹ thuật viên; đủ điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, phần mềm tổ chức thi trên máy tính...
Danh sách 38 trường đại học được tổ chức thi và cấp chứng chỉ tiếng Anh VSTEP năm 2026 như sau:
TT
Tên đơn vị
1
Trường Đại học Sư phạm TP HCM
2
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế
3
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
4
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
5
Đại học Thái Nguyên
6
Trường Đại học Cần Thơ
7
Trường Đại học Hà Nội
8
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
9
Trường Đại học Vinh
10
Trường Đại học Sài Gòn
11
Trường Đại học Ngân hàng TP HCM
12
Trường Đại học Trà Vinh
13
Trường Đại học Văn Lang
14
Trường Đại học Quy Nhơn
15
Trường Đại học Tây Nguyên
16
Học viện An ninh Nhân dân
17
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
18
Trường Đại học Công Thương TP HCM (HUIT)
19
Trường Đại học Thương mại
20
Học viện Khoa học Quân sự
21
Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP HCM
22
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM
23
Học viện Cảnh sát Nhân dân
24
Đại học Bách Khoa Hà Nội
25
Trường Đại học Nam Cần Thơ
26
Trường Đại học Ngoại thương
27
Trường Đại học Công nghiệp TP HCM
28
Trường Đại học Kinh tế quốc dân
29
Trường Đại học Kinh tế TP HCM
30
Trường Đại học Lạc Hồng
31
Trường Đại học Đồng Tháp
32
Đại học Duy Tân
33
Trường Đại học Phenikaa
34
Học Viện Ngân hàng
35
Trường Đại học Tài chính - Marketing
36
Trường Đại học Thành Đông
37
Trường Đại học Mở TP HCM
38
Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng
Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam được ban hành năm 2014, trên cơ sở khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR) và một số khung trình độ tiếng Anh ở các nước, kết hợp thực tế tại Việt Nam.
Khung này được chia làm 3 cấp (sơ cấp, trung cấp, cao cấp) và 6 bậc (từ 1 đến 6 tương thích với các bậc từ A1 đến C2 trong CEFR):
Bậc 1 (sơ cấp) tương thích với bậc A1 trong CEFR.
Bậc 2 (sơ cấp) tương thích với bậc A2 trong CEFR.
Bậc 3 (trung cấp) tương thích với bậc B1 trong CEFR.
Bậc 4 (trung cấp) tương thích với bậc B2 trong CEFR.
Bậc 5 (cao cấp) tương thích với bậc C1 trong CEFR.
Bậc 6 (cao cấp) tương thích với bậc C2 trong CEFR.
Dương Tâm

Kết thúc môn thi đầu tiên, môn ngữ văn trong kỳ thi vào lớp 10 tại Hà Nội, thí sinh đánh giá đề thi sử dụng ngữ liệu và yêu cầu gần gũi với giới trẻ.
Phần nghị luận xã hội cũng "chạm" đúng vào tâm tư của các em khi yêu cầu viết về sự kết nối của người trẻ với cuộc sống xung quanh trong xã hội hiện đại.
Sau đây là gợi ý đáp án của các giáo viên Tuyensinh247 để phụ huynh và thí sinh tham khảo.
Phần đọc hiểu
Câu 1 (0,5 điểm)
- Thể thơ tự do. Dấu hiệu: số chữ trong các dòng thơ không đều nhau, nhịp thơ ngắt linh hoạt...
Câu 2 (0,5 điểm): Hai từ ngữ chỉ thiên nhiên trong khổ đầu: biển, trăng...
Câu 3 (1 điểm)
Biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong hình ảnh: "gương mặt dịu lành".
Tác dụng: Làm cho hình ảnh trăng trở nên gần gũi, sinh động, có tâm hồn như một con người. Thể hiện vẻ đẹp hiền hòa, thân thiện của ánh trăng đối với những đứa trẻ nơi rừng núi. Qua đó bộc lộ tình yêu thiên nhiên...
Câu 5 (1 điểm)
Học sinh nêu lựa chọn cá nhân và có lý giải phù hợp. Gợi ý: Lựa chọn dấn thân để khám phá những chân trời mới. Bởi vì mỗi trải nghiệm mới đều giúp con người mở rộng hiểu biết, học hỏi thêm nhiều điều bổ ích và trưởng thành hơn. Nếu chỉ bằng lòng với cuộc sống hiện tại, chúng ta có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội để phát triển bản thân. Tuy nhiên, việc khám phá cần đi đôi với sự chuẩn bị và trách nhiệm. Khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, con người sẽ tích lũy được kinh nghiệm quý giá và làm cho cuộc sống trở nên phong phú, ý nghĩa hơn.
Phần viết:
Câu 1 (2 điểm)
Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
Thân đoạn: Những đứa trẻ gắn bó với thiên nhiên núi rừng: "Ở rừng", "đón trăng rằm qua kẽ lá": Không gian thiên nhiên trong trẻo, bình yên, gần gũi, nhưng cuộc sống khó khăn, trẻ em chịu nhiều thiệt thòi.
Những đứa trẻ mang vẻ đẹp hồn nhiên, ngây thơ, giàu trí tưởng tượng: Đôi mắt trong trẻo, đầy niềm vui và sự háo hức trước vẻ đẹp thiên nhiên: "Những vệt ngời nho nhỏ", "đôi mắt ngây thơ";
"Trăng tròn ơi xuống đây chơi": nhân hóa vầng trăng như người bạn thân thiết thể hiện sự hồn nhiên, tâm hồn giàu trí tưởng tượng của trẻ thơ;
Khát vọng khám phá thế giới: "Ai hiểu hết nỗi khát thèm của bé?" => Khát khao được vui chơi, học hỏi, khám phá, được trải nghiệm thế giới.
Nghệ thuật: thể thơ tự do, ngắt nhịp linh hoạt. Hình ảnh thơ giàu ý nghĩa. Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ: nhân hóa, câu hỏi tu từ...
Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Câu 2 (4 điểm)
Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Thân bài, gợi ý gồm các phần chính:
Giải thích: kết nối là những mối quan hệ mang lại sự thấu hiểu, chia sẻ, hỗ trợ và giúp con người phát triển tốt hơn. Mất kết nối là tình trạng sống khép kín, thờ ơ với mọi người và môi trường xung quanh.
Nhiều bạn trẻ lại đang dần xa rời các mối quan hệ thực tế, thiếu sự gắn kết với gia đình, bạn bè và cộng đồng.
Thực trạng và nguyên nhân: Người trẻ ngày nay dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội, ngại giao tiếp trực tiếp. Từ đó hình thành việc thiếu sự quan tâm tới gia đình và cộng đồng, sống trong "thế giới riêng".
Nguyên nhân xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, áp lực học tập, công việc. Người trẻ thiếu kỹ năng giao tiếp và chia sẻ cảm xúc…
Giải pháp: Bản thân mỗi người cần: chủ động trò chuyện, lắng nghe và chia sẻ với người khác; hạn chế phụ thuộc vào điện thoại, mạng xã hội; rèn luyện kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm. Dành thời gian cho gia đình mỗi ngày.
Nhà trường tổ chức các hoạt động trải nghiệm, ngoại khóa. Khuyến khích học sinh tham gia câu lạc bộ, hoạt động tập thể. Giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp.
Gia đình cần quan tâm, lắng nghe con cái, tạo không khí gắn kết giữa các thành viên. Dành thời gian sinh hoạt chung.
Xã hội tăng cường các hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, xây dựng môi trường sống tích cực, nhân văn nhằm lan tỏa những giá trị tốt đẹp.
Học sinh có thể lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
Mở rộng vấn đề, thí sinh có thể phê phán những người sống thờ ơ, vô cảm, chỉ quan tâm đến bản thân.Khẳng định kết nối không chỉ là số lượng bạn bè mà quan trọng là sự chân thành và giá trị của các mối quan hệ.
Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi ngữ văn, bạn đọc xem TẠI ĐÂY
Tin Gốc: Thanh Niên

