Dự án này được xây dựng dựa trên concept: “Trung tâm nghiên cứu và phát triển tạo giá trị thực phẩm từ Việt Nam ra thế giới”. D-GROOVE – đây không đơn thuần là một cái tên, mà còn là một lời cam kết về triết lý vận hành. Trong đó chữ “D” đại diện cho Development (phát triển) – điểm khởi đầu của mọi sự sáng tạo. Và từ nền tảng đó, “GROOVE” như một dòng chảy được tạo nên bởi 6 giá trị cốt lõi:
Với cấu trúc dự kiến 5 tầng trên diện tích đất hơn 7.000 m2, D-GROOVE được thiết kế theo mô hình tích hợp thông minh: Tầng trệt được bố trí như một nhà máy thu nhỏ với các dây chuyền sản xuất liền mạch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm mẫu thử nghiệm trước sản xuất. Từ tầng 2 trở lên là khu vực văn phòng được thiết kế đơn giản, không gian được phát triển tối ưu cho mục đích sử dụng, từ không gian mở thúc đẩy giao tiếp giữa các nhân viên đến các không gian riêng tư để tập trung làm việc.
Song song đó, tòa nhà Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển mới này còn được thiết kế với không gian linh hoạt, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và thử nghiệm trong nhiều giai đoạn phát triển khác nhau.
Đặc biệt, với tầm nhìn và cam kết phát triển dài hạn, bền vững, trung tâm sẽ được tích hợp các giải pháp thân thiện với môi trường như hệ thống điện năng lượng mặt trời, vật liệu cách nhiệt, kính Low-E cùng hệ thống chiếu sáng có thể điều chỉnh độ sáng và màu sắc, góp phần tiết kiệm năng lượng và tối ưu môi trường làm việc.
Thông qua việc đầu tư Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển D-GROOVE, Acecook Việt Nam từng bước hoàn thiện hệ sinh thái từ nghiên cứu – phát triển – sản xuất – phân phối, hướng đến mục tiêu trở thành doanh nghiệp sản xuất thực phẩm tổng hợp toàn diện, không ngừng đổi mới để mang lại giá trị bền vững cho người tiêu dùng và xã hội. Theo kế hoạch, dự án dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2027.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Kaneda Hiroki – Tổng giám đốc Acecook Việt Nam chia sẻ: “Để giữ vững vị thế dẫn đầu và phát triển bền vững, chúng tôi hiểu rằng: Năng lực R&D chính là “trái tim” của doanh nghiệp. Để vươn tới những đỉnh cao mới, chúng tôi cần một “đòn bẩy” mạnh mẽ hơn. Việc đầu tư xây dựng Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển mới không chỉ là mở rộng quy mô nghiên cứu, mà là khoản đầu tư cấp thiết vào tương lai, vào khả năng đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng với những tiêu chuẩn khắt khe nhất của thị trường toàn cầu”.
Tin Gốc: Thanh Niên

Mở đầu phát biểu, ông Nguyễn Ngọc Thắng chỉ rõ: Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục biến động, tiêu dùng nội địa ngày càng trở thành trụ cột quan trọng cho tăng trưởng của Việt Nam. Khi xuất khẩu, đầu tư và thị trường quốc tế chịu nhiều tác động khó lường, thị trường gần 100 triệu dân chính là nền tảng chủ đạo để duy trì nhịp độ tăng trưởng kinh tế.
Ông Thắng dẫn số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính): Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4 ước đạt 646.300 tỉ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 4 tháng đầu năm, quy mô thị trường đạt khoảng hơn 2,5 triệu tỉ đồng, tăng 11,1%. Nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng đạt 6,3%.
"Đây là mức tăng trưởng tích cực trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn chịu nhiều sức ép từ lạm phát, chi phí logistics và biến động địa chính trị. Những con số này cho thấy tiêu dùng nội địa tiếp tục giữ vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế" - đại diện Saigon Co.op khẳng định.
Trong khi đó, Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa để phát triển bán lẻ nhờ quy mô dân số lớn, tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh, tốc độ đô thị hóa cao và xu hướng tiêu dùng hiện đại ngày càng rõ nét.
Thực tế, bán lẻ hàng hóa đang tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ đạo với doanh thu gần 1,94 triệu tỉ đồng, tương đương hơn 76% tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều nhóm hàng thiết yếu ghi nhận mức tăng trưởng khả quan như xăng dầu tăng 17,4%, lương thực - thực phẩm tăng 11,6%, may mặc tăng gần 10%, vật phẩm văn hóa và giáo dục tăng hơn 9%.
Những tín hiệu này phản ánh sức mua của người dân đang từng bước phục hồi theo hướng tích cực và lan tỏa rộng hơn sang nhiều lĩnh vực tiêu dùng khác nhau.
"Khi sức mua nội địa được khơi dậy hiệu quả, tác động sẽ không chỉ dừng ở lĩnh vực bán lẻ mà còn lan tỏa mạnh tới sản xuất, logistics, nông nghiệp, du lịch và nhiều ngành liên quan khác. Do đó, cần phát huy vai trò của thị trường trong nước như một "bệ đỡ" then chốt cho tăng trưởng kinh tế bền vững" - ông Nguyễn Ngọc Thắng nói.
Từ góc nhìn của một doanh nghiệp bán lẻ phục vụ hàng chục triệu lượt khách mỗi năm, đại diện Saigon Co.op nhận thấy xuất hiện xu hướng hiện nay là người tiêu dùng không giảm mua hoàn toàn mà lựa chọn cẩn trọng hơn, ưu tiên giá trị thực và chất lượng, chi tiêu có chọn lọc. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết cho doanh nghiệp bán lẻ: Ngoài việc cung ứng hàng hóa, doanh nghiệp cần xây dựng và củng cố niềm tin tiêu dùng, khơi dậy động lực mua sắm và góp phần ổn định tâm lý thị trường.
"Để kích cầu tiêu dùng hiệu quả và bền vững, yếu tố then chốt là khơi thông niềm tin của người tiêu dùng. Người dân giờ họ khác xưa nhiều, phải tin thì mới mua. Họ sẵn sàng chi tiêu khi cảm thấy giá cả hợp lý, hàng hóa đảm bảo chất lượng, nguồn gốc xuất xứ minh bạch, có nhiều chương trình ưu đãi thiết thực và đặc biệt là an tâm khi mua sắm. Vì vậy, doanh nghiệp bán lẻ không chỉ dừng ở vai trò cung ứng hàng hóa mà còn phải xây dựng niềm tin, duy trì ổn định thị trường và khơi dậy động lực mua sắm" - ông Nguyễn Ngọc Thắng nhận định.
Để khơi thông sức mua nội địa, ông Nguyễn Ngọc Thắng cho rằng cần kết hợp: Củng cố niềm tin tiêu dùng, phát triển hàng Việt chất lượng, tổ chức các chương trình kích cầu thiết thực, ứng dụng chuyển đổi số để cá nhân hóa và đẩy mạnh tiêu dùng xanh. Đồng thời, hệ thống bán lẻ hiện đại cần làm cầu nối hiệu quả giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa địa phương và thị trường, nhằm kích hoạt toàn diện chuỗi cung ứng và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững.
Trong mối liên kết này, đại diện Saigon Co.op đề xuất phía nhà nước duy trì chính sách kích cầu thiết thực, tiếp tục áp dụng các công cụ đã cho hiệu quả như giảm thuế VAT có mục tiêu, các tháng khuyến mãi tập trung, chương trình kết nối cung - cầu và xúc tiến thương mại nội địa, điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thị trường. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã cải tiến chất lượng, đạt tiêu chuẩn xanh, thực hiện truy xuất nguồn gốc và nâng cấp bao bì để đáp ứng xu hướng tiêu dùng hiện đại.
Mối liên kết địa phương - sản xuất - phân phối cũng cần tăng cường để rút ngắn kênh phân phối, giảm chi phí trung gian và mở rộng đầu ra cho nông sản, giúp người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm chất lượng với giá hợp lý.
Cùng với đó, đẩy mạnh chuyển đổi số trong bán lẻ; kích hoạt "cảm xúc" trong tiêu dùng nội địa: Không chỉ bán sản phẩm, doanh nghiệp cần tạo ra trải nghiệm và giá trị tinh thần cho người tiêu dùng thông qua các chiến dịch gắn với gia đình, văn hóa Việt, lòng tự hào hàng Việt và lối sống tích cực. Khi người dân "muốn mua" chứ không chỉ "cần mua", sức tiêu dùng sẽ được thúc đẩy bền vững hơn.
Đặc biệt, phía doanh nghiệp bán lẻ mong muốn xây dựng hệ sinh thái tiêu dùng Việt theo mô hình "mỗi đồng chi tiêu - nhiều giá trị cộng hưởng": Kết nối bán lẻ với du lịch, ẩm thực, giải trí, tài chính số và dịch vụ cộng đồng để mỗi hành vi mua sắm không chỉ phục vụ nhu cầu cá nhân mà tạo thêm lợi ích cho doanh nghiệp Việt, nông dân Việt và nền kinh tế trong nước.
Ngoài ra, tạo các "mùa tiêu dùng quốc gia" mang dấu ấn Việt Nam: Hình thành những chiến dịch tiêu dùng quy mô lớn gắn với ngày hội hàng Việt, lễ hội vùng miền, văn hóa ẩm thực hoặc các cột mốc quốc gia để kích thích nhu cầu mua sắm theo mùa, tương tự các lễ hội mua sắm quốc tế...
Tin Gốc: Thanh Niên

KCN Số 02 - Hưng Yên sở hữu vị trí chiến lược ngay nút giao Yên Mỹ, điểm kết nối trực tiếp giữa cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và cao tốc Hưng Yên - Thái Bình. Từ đây vào trung tâm Hà Nội 20 km, đến sân bay quốc tế Nội Bài 65 km, sân bay quốc tế Gia Bình 25 km và cảng Đình Vũ, Hải Phòng 87 km.
KCN hoạt động theo mô hình khu công nghiệp hỗ trợ, tập trung thu hút các nhà sản xuất trong lĩnh vực điện tử viễn thông, cơ khí chính xác, tự động hóa, bán dẫn và các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao, hướng tới trở thành điểm kết nối giữa các nhà sản xuất công nghiệp hỗ trợ với các tập đoàn công nghệ trong và ngoài nước.
Hạ tầng kỹ thuật được đầu tư đồng bộ ngay từ giai đoạn đầu, gồm trạm biến áp 110/22kV công suất 2x63 MVA đặt trong KCN, hệ thống cấp nước sạch đấu nối đến hàng rào từng nhà máy với công suất 20.000 m³/ngày đêm và nhà máy xử lý nước thải tập trung công suất 7.000 m³/ngày đêm, có thể nâng công suất theo nhu cầu thực tế. Không gian cây xanh và mặt nước chiếm gần 14,2% tổng diện tích.
Gắn liền với hệ thống khu công nghiệp, Hòa Phát đang triển khai dự án khu nhà ở công nhân, nhà ở xã hội tại xã Yên Mỹ với gần 9.000 căn hộ, cách KCN này khoảng 5 km, nhằm đáp ứng nhu cầu an cư cho công nhân và người lao động làm việc tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đây là một phần trong chiến lược phát triển hạ tầng khu công nghiệp gắn với nhà ở xã hội mà Hòa Phát triển khai tại các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời hưởng ứng chủ trương của Chính phủ về phát triển nhà ở xã hội cho người lao động.
Phát biểu tại lễ khởi công, ông Nguyễn Mạnh Quyền, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên nhận định: "Trong quý 1/2026, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hưng Yên đạt 10,43%, nằm trong top 4 cả nước. Các dự án khu công nghiệp là trọng tâm để tỉnh duy trì đà tăng trưởng hai con số. Tỉnh Hưng Yên ghi nhận và biểu dương nỗ lực của chính quyền, nhân dân các xã Yên Mỹ, Việt Tiến, Xuân Trúc cùng các hộ dân đã ủng hộ công tác giải phóng mặt bằng. Chúng tôi đề nghị chủ đầu tư tập trung nguồn lực, đẩy nhanh hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, sớm thu hút nhà đầu tư thứ cấp vào sản xuất kinh doanh, đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế của địa phương."
Ông Hoàng Quang Việt, Thành viên HĐQT Tập đoàn Hòa Phát, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Xây dựng và Phát triển Đô thị Hòa Phát cho biết: Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, Việt Nam đang nổi lên là một trong những trung tâm sản xuất mới của châu Á, thu hút dòng vốn đầu tư lớn trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, cơ khí chính xác và công nghiệp hỗ trợ. Tỉnh Hưng Yên với vị trí chiến lược trong vùng Thủ đô, hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện và môi trường đầu tư thông thoáng, đang trở thành một trong những điểm đến công nghiệp hấp dẫn nhất khu vực phía Bắc.
"Hòa Phát xác định KCN Số 02 - Hưng Yên là mắt xích quan trọng trong chiến lược xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hiện đại tại Hưng Yên, hướng tới đưa tỉnh trở thành trung tâm công nghiệp hỗ trợ và sản xuất công nghệ cao của Vùng Thủ đô. Chúng tôi sẵn sàng tiếp nhận nhà đầu tư từ tháng 9", ông Việt khẳng định.
Tính đến thời điểm khởi công KCN Số 02 - Hưng Yên, tổng quỹ đất khu công nghiệp của Hòa Phát trên toàn quốc đạt hơn 2.260 ha, phân bổ tại Hưng Yên, Ninh Bình, Bắc Ninh và Hải Phòng. Các KCN đang vận hành gồm Phố Nối A, Yên Mỹ II tại Hưng Yên và Hòa Mạc tại Ninh Bình đều đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 95% diện tích đã đầu tư hạ tầng kỹ thuật, là điểm đến của hàng trăm nhà sản xuất trong và ngoài nước, trong đó có các tập đoàn đến từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 29.5 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố dự thảo sửa đổi bổ sung Nghị định 24/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng. Điểm mới đáng chú ý được đưa vào dự thảo lần này là bỏ giấy phép con đối với hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng trang sức mỹ nghệ (TSMN) kể từ ngày 1.7. Đồng thời, NHNN không còn kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động sản xuất vàng TSMN như quy định cũ. Dù vậy, dự thảo cũng yêu cầu tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng TSMN có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn, đo lường, nhãn hàng hóa, niêm yết giá, hóa đơn, chứng từ, thuế, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng chống rửa tiền và pháp luật khác có liên quan.
Giám đốc một doanh nghiệp (DN) sản xuất vàng nữ trang có trụ sở tại TP.HCM cho biết hiện để có được giấy phép sản xuất vàng trang sức, DN sẽ phải mất từ 3 - 6 tháng đáp ứng các điều kiện đưa ra để hoàn tất hồ sơ, trong đó quan trọng nhất là phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường. Ngay cả tiệm chuyên kinh doanh vàng, muốn có thợ sửa trang sức cũng phải có giấy phép. Vì vậy khi được bỏ giấy phép con thì các DN được giảm thủ tục hành chính, rút ngắn được thời gian.
Ông Nguyễn Văn Dưng, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ kim hoàn TP.HCM, phấn khởi cho biết: Nhiều năm qua, Hiệp hội Kinh doanh vàng VN (VGTA) liên tục kiến nghị đưa hoạt động sản xuất TSMN ra khỏi danh sách ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Đến luật Đầu tư sửa đổi, bổ sung chính thức được thông qua năm 2025 đã đưa TSMN ra khỏi ngành nghề kinh doanh có điều kiện và nay Dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định 24/2012 là tin vui lớn đối với ngành kim hoàn.
"Trên thế giới cũng xem hoạt động sản xuất chế tác và kinh doanh vàng TSMN là ngành nghề sản xuất kinh doanh hàng hóa thông thường, không quốc gia nào quy định là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Các nước Thái Lan, Singapore, Indonesia, UAE… còn có nhiều chính sách hỗ trợ, khuyến khích để phát triển mạnh mẽ ngành này nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ. Đó là lý do các quốc gia này xuất khẩu sản phẩm vàng TSMN lên tới 5 - 7 tỉ USD mỗi năm", ông Dưng phân tích.
Ông Huỳnh Trung Khánh, Phó chủ tịch VGTA, nhận xét: Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông báo số 211-TB/VPTW ngày 30.5.2025 về "khuyến khích phát triển thị trường vàng trang sức đưa VN trở thành trung tâm chế tác, xuất khẩu vàng trang sức chất lượng cao trong khu vực" là chỉ đạo mang tính đột phá và chiến lược quan trọng để phát triển ngành này thành ngành mũi nhọn, tái tạo nguồn ngoại tệ cho đất nước, góp phần tăng dự trữ ngoại hối quốc gia. Bởi năng lực và trình độ của các DN VN không chỉ đủ sản xuất, chế tác vàng trang sức đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có thể cạnh tranh xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Tuy nhiên theo ông Khánh, sau khi tháo gỡ giấy phép con, để ngành TSMN hoạt động minh bạch, phát triển lành mạnh trong thời gian tới, cơ quan chức năng cần sớm giải quyết vấn đề vàng nguyên liệu, cho phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Trong những năm qua, nhu cầu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, vàng trang sức trung bình khoảng 50 tấn/năm, tương đương khoảng 5 tỉ USD/năm (khoảng 420 triệu USD/tháng). Sau khi đưa vào sản xuất, chế tác thì môt nửa để đáp ứng nhu cầu trong nước, một nửa để xuất khẩu. Tức là 25 tấn vàng dùng để xuất khẩu, có thể thu về từ 3,5 - 5 tỉ USD. Trong đó giá trị sức lao động chiếm tới trên 30% giá trị sản phẩm xuất khẩu. Như vậy, việc cho DN nhập vàng nguyên liệu về sản xuất, chế tác thành vàng TSMN không những đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước mà còn xuất khẩu, tái tạo nguồn ngoại tệ khá lớn cho đất nước.
Để VN trở thành trung tâm chế tác, xuất khẩu vàng trang sức chất lượng cao trong khu vực, theo ông Nguyễn Văn Dưng, còn nhiều việc cần làm trong thời gian tới, đặc biệt là về nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Thực tế, thị trường trang sức vàng VN liên tục suy giảm trong giai đoạn 2023 - 2025 với khối lượng trang sức vàng tiêu thụ giảm trung bình 15%/năm. Nhiều cửa hàng kinh doanh phải đóng cửa, kéo theo nhiều nhân viên bán hàng và công nhân sản xuất phải nghỉ chờ việc hoặc chuyển ngành. Nguyên nhân suy giảm một phần từ sức ép thiếu hụt nguồn nguyên vật liệu. Các DN chế tác gặp nhiều khó khăn trong vận hành nên không dám mạnh dạn đẩy mạnh đầu tư, từ đó bỏ lỡ các lợi thế cạnh tranh của VN. Trong khi đó, những nước lân cận như Thái Lan, Indonesia đang là những quốc gia xuất khẩu trang sức hàng đầu dù họ cũng chỉ có trình độ tương đương, thậm chí thấp hơn chúng ta trong một số lĩnh vực… Nguyên nhân gốc rễ là do chúng ta gộp chung quản lý vàng TSMN với vàng miếng.
Từ góc nhìn đó, ông Nguyễn Văn Dưng kiến nghị quản lý sản phẩm trang sức vàng mỹ nghệ như là hàng hóa tiêu dùng, tham khảo theo thông lệ quốc tế. Còn vàng miếng, vàng đầu tư thì do ngân hàng trung ương quản lý. Từ đó xây dựng chính sách phát triển ngành kim hoàn VN như một ngành công nghiệp trọng điểm. Ở các quốc gia có ngành kim hoàn phát triển, hằng năm xuất khẩu lượng TSMN lớn ra quốc tế như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, ngành kim hoàn được quản lý như một ngành công nghiệp tiêu dùng. Các quốc gia này cũng có các chính sách hỗ trợ rất chi tiết, từ việc xây dựng các khu công nghiệp tập trung đến các chính sách triển khai chuỗi giá trị của ngành.
"Cơ chế quản lý ngành kim hoàn VN như một ngành công nghiệp vừa giữ gìn và phát triển một ngành nghề thủ công mỹ nghệ mang bản sắc dân tộc, vừa hướng tới trở thành quốc gia hàng đầu về xuất khẩu TSMN trên trường quốc tế", ông Nguyễn Văn Dưng nhấn mạnh.
Tin Gốc: Thanh Niên

