Rất nhiều lần, tôi đi ăn hàng quán, gặp phải tình huống oái ăm, gây linh cảm không tốt về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nhưng không biết phải làm sao. Trộm vía, có lẽ hệ tiêu hóa của tôi tốt, nên chưa xảy ra sự cố nào trong hơn chục năm chinh chiến khắp các hàng quán.
Tôi sợ nhất là trong quán có thú cưng chó, mèo của chủ. Có lần tôi tận mắt chứng kiến bà chủ quán sau khi bưng tô bún bò cho tôi, sau khi tháo cái găng tay nylon đã nhàu nhĩ, không biết đã dùng bao nhiêu lượt rồi, đã cúi người xuống bế con chó vào lòng.
Quy định về việc chủ quán phải đảm bảo vệ sinh khi chế biến thực phẩm thì ai cũng biết. Nhưng thực tế, nhiều người vẫn bóc tay trần cho đỡ vướng víu. Găng tay, nếu có, đôi khi chỉ mang tính đối phó, dùng đi dùng lại, thậm chí còn bẩn hơn cả tay không.
Đã có ai thực sự bị nhắc nhở, bị xử phạt nghiêm túc vì những vi phạm kiểu này chưa?
Thứ nữa là chuyện cầm tiền mặt. Một tay thối tiền, một tay bốc đồ ăn, chuyện quá quen thuộc. Có người vừa lau bàn xong, khăn còn ướt và đen, đã quay sang cắt thịt, chan nước dùng.
Nếu là món cơm, đến lúc đem chén canh ra cho khách, tôi sợ nhất là cảnh người phục vụ vô thức chạm ngón tay vào miệng chén. Những chi tiết nhỏ như vậy, nhưng đủ để khiến thực khách mất đi cảm giác ngon miệng.
Những rổ rau sống nhìn qua thì có vẻ xanh tươi, nhưng cách bảo quản thì khó mà yên tâm. Rau được để chồng lên nhau, rau thừa của khách trước chưa chắc đã bị bỏ đi. Khách sau đến, lại tiếp tục được bổ sung vào rổ cũ.
Điều đáng nói là, không phải chủ quán nào cũng vô ý thức. Rất nhiều người làm ăn tử tế, giữ gìn vệ sinh cẩn thận, coi uy tín là tài sản lớn nhất. Nhưng chính sự tồn tại của những quán làm ẩu, làm đối phó lại đang kéo mặt bằng chung đi xuống, khiến niềm tin của thực khách bị bào mòn.
Về những hàng quán không nghiêm túc về vấn đề vệ sinh, vấn đề nằm ở chỗ chúng ta đang quá dễ dãi với những tiêu chuẩn tối thiểu liên quan trực tiếp đến sức khỏe của chính mình.
Tôi cũng như vậy vì: Chẳng lẽ vào quán ăn, gọi món rồi nhìn họ chế biến lại kêu thôi, đừng làm nữa?
Thời gian qua có nhiều quy định được ban hành xung quanh hành vi ép người khác uống rượu bia và hút thuốc lá điện tử. Cụ thể, Nghị định 90/2026 vừa được Chính phủ ban hành, quy định mức xử phạt từ 3 đến 5 triệu đồng cho hành vi sử dụng thuốc lá điện tử hoặc thuốc lá nung nóng. Hay Nghị định 90/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định hành vi lôi kéo, ép buộc người khác uống rượu bia hoặc sử dụng thức uống này ngay trước, trong giờ làm việc, học tập sẽ khiến người vi phạm bị xử phạt 1-3 triệu đồng.
Tôi hoàn toàn ủng hộ các quy định trên. Nhưng điều khiến tôi băn khoăn không nằm ở con số xử phạt. Các mức phạt đã có đủ hết, nhưng thực tế đã có ai bị phạt chưa, tố giác vi phạm thế nào, ai xử phạt?
Lấy chính trường hợp của bản thân, tôi thường xuyên bị sếp gọi đi nhậu (thực chất là ép vì không đi không được). Trong những buổi như vậy, các đồng nghiệp của tôi hút thuốc lá (cả loại truyền thống lẫn thuốc lá điện tử) là chuyện cơm bữa. Tôi không muốn uống rượu bia, cũng không hút thuốc, nhưng vẫn phải ngồi đó trong hơi men và giữa làn khói trắng. Nếu những hành vi ấy là vi phạm, thì tôi phải làm gì? Tố giác ư? Với ai? Và rồi chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?
>> Kết quả sau nửa năm trời tôi từ chối tất cả lời mời nhậu
Không chỉ trong môi trường công sở. Ở nơi công cộng, tôi vẫn thường xuyên bắt gặp người hút thuốc lá điện tử. Có những lúc tôi tự hỏi: nếu muốn phản ánh, tôi phải báo cho ai? Liệu bản thân có bị liên lụy gì không? Hay chỉ có thể nhắc nhở rồi thôi? Những câu hỏi rất cụ thể ấy, nếu không có câu trả lời rõ ràng, thì quy định dù đúng đến đâu cũng dễ rơi vào tình trạng "biết là có, nhưng khó áp dụng".
Thực tế, không phải ai cũng đủ hiểu biết pháp luật và dũng khí để đứng ra tố giác, nhất là khi người vi phạm lại là cấp trên, đồng nghiệp, hay đơn giản là những người xa lạ nhưng có thể phản ứng tiêu cực. Nếu không có một cơ chế thực thi rõ ràng, dễ tiếp cận và an toàn, thì gánh nặng lại quay về phía người bị ảnh hưởng.
Có thể đó là một đường dây nóng dễ nhớ, một ứng dụng phản ánh nhanh, bảo mật danh tính, hay đơn giản là quy định rõ trách nhiệm của lực lượng tại chỗ như công an, quản lý trật tự, ban quản lý địa điểm công cộng... Khi người dân biết rõ, "gõ cửa" đúng nơi, pháp luật mới có cơ hội đi vào đời sống.
Tôi ủng hộ các quy định mới, nhưng sự ủng hộ đó đi kèm một kỳ vọng: luật không chỉ để đọc, mà phải để dùng. Và muốn dùng được, thì người như tôi cần biết rõ mình phải làm gì, khi nào, và ai sẽ đứng ra bảo vệ mình nếu tôi lên tiếng?
L.D'Nên xử phạt người hút thuốc lá khi lái xe bằng camera AI'
5 năm trước, khi bước sang tuổi ngoài 30, tôi bắt đầu nói với chồng về chuyện sinh thêm con. Khi đó, chúng tôi đã có một bé đầu lòng, cuộc sống đủ đầy, công việc ổn định. Với anh, như vậy là đủ. Nhưng tôi nghĩ một đứa con là chưa đủ cho một hành trình dài phía trước.
Những cuộc trò chuyện ban đầu dần trở thành tranh luận. Chồng tôi lo áp lực tài chính, lo thời gian, lo cả việc nuôi dạy con cái trong một xã hội ngày càng cạnh tranh. Anh nói: "Nuôi một đứa đã khó, hai đứa lại càng vất vả hơn, sao không tập trung chăm sóc tốt nhất cho đứa con hiện tại?".
Nhưng tôi vẫn không từ bỏ suy nghĩ của mình. Có lẽ vì tôi đã chứng kiến quá nhiều cảnh người già quanh mình sống neo đơn. Khi còn trẻ, họ mạnh mẽ, độc lập, nhưng đến lúc tuổi cao lại trở nên chậm chạp, mỏi mệt, mắt kém. Và điều đáng sợ nhất không phải là bệnh tật, mà là cảm giác cô đơn và bất an.
Tôi từng thấy có người chỉ thực sự yên tâm khi trong nhà có tiếng nói cười của con cháu. Ngược lại, có người dù có điều kiện kinh tế, vẫn không tránh khỏi cảm giác trống trải khi sống một mình trong căn nhà rộng. Chính những điều đó khiến tôi nghĩ nhiều hơn về tương lai của mình. Tôi không muốn đặt toàn bộ trách nhiệm chăm sóc cha mẹ già lên vai một đứa con duy nhất. Có anh, có em, dù mỗi người một hoàn cảnh, nhưng vẫn có thể san sẻ với nhau cả về vật chất lẫn tinh thần.
>> Nhà 5 anh chị em nhưng con gái phải 'gánh' cha mẹ
Suốt ba năm tôi kiên nhẫn thuyết phục chồng. Dần dần, anh cũng thay đổi suy nghĩ, nhận ra việc có thêm một đứa con không chỉ là gánh nặng, mà còn là một cách để gia đình trở nên đầy đặn hơn. Đến hôm nay, khi nhìn hai đứa trẻ chơi với nhau trong nhà, tôi thấy quyết định ngày đó là hoàn toàn đúng đắn. Đúng là vất vả hơn, chi phí nhiều hơn, thời gian riêng ít đi. Nhưng đổi lại là tiếng cười nhiều hơn, là cảm giác gia đình ấm áp hơn.
Tôi không phủ nhận rằng cuộc sống luôn có hai mặt. Người có con thì vất vả từ khi còn trẻ, lo ăn, lo học, lo từng bước trưởng thành cho con. Nhưng nếu những đứa con ấy biết hiếu thảo, về già họ sẽ có chỗ dựa tinh thần. Ngược lại, người không có con có thể tận hưởng sự tự do, nhẹ gánh trong những năm tháng tuổi trẻ. Nhưng khi về già, nếu không có điều kiện tài chính tốt hoặc người thân bên cạnh, họ sẽ phải tự lo liệu mọi thứ.
Có người nói viện dưỡng lão là một lựa chọn của xã hội hiện đại, nhưng không phải ai cũng đủ điều kiện để vào đó, và cũng không phải ai cũng muốn sống những năm cuối đời trong một môi trường xa lạ. Cuộc sống vốn dĩ không có lựa chọn nào hoàn hảo. Quan trọng là bạn chọn cách sống nào, thì hãy chấp nhận cả mặt tích cực lẫn tiêu cực của nó.
Với tôi, tôi chọn sinh hai con. Và tôi nhận ra, vướng bận con cái cũng là một dạng hạnh phúc kéo dài từ lúc còn trẻ cho đến khi về già.
Tôi là nhân viên của một công ty thương mại ở TP HCM, lương khoảng 18 triệu đồng một tháng. Mức thu nhập này không quá cao nhưng cũng đủ để tôi trang trải cuộc sống ở Sài Gòn và dành dụm một khoản nhỏ. Tôi không ngại làm thêm giờ nếu công việc thật sự cần. Có những giai đoạn chạy dự án, cả nhóm ở lại đến 9-10 giờ tối để kịp tiến độ, tôi luôn sẵn sàng.
Nhưng điều khiến tôi mệt mỏi là việc ngoài giờ ở công ty dần trở thành một điều mặc định. Ngày nào cũng vậy, khoảng 8-9 giờ tối, điện thoại của tôi lại rung lên với tin nhắn từ sếp: "Em chỉnh lại slide để mai gặp khách nhé", "viết thêm giúp anh nội dung cho báo cáo", "kiểm tra lại số liệu doanh thu", hoặc "làm nhanh bản kế hoạch này để sáng mai duyệt". Có hôm gần 11 giờ đêm, tôi vẫn phải mở laptop chỉ để sửa vài chi tiết trong bản thuyết trình.
Cuối tuần, đang đưa vợ con đi siêu thị hay ăn cơm với bố mẹ, tôi vẫn nhận được yêu cầu chỉnh sửa file hoặc gửi lại tài liệu. Vấn đề chưa bao giờ sếp hỏi: "Em có đang bận không?" hay "em có thể làm ngay được không?". Công việc cứ được giao như mệnh lệnh từ trên ban xuống, còn việc tôi đang làm gì ngoài giờ dường như không phải điều cần cân nhắc.
Có lần tôi đang dự sinh nhật mẹ. Điện thoại liên tục báo tin nhắn từ sếp thúc giục vì một bản báo cáo cần sửa ngay trong tối hôm đó. Tôi lặng lẽ xin phép mọi người ra xe lấy laptop làm việc gần một tiếng. Khi quay lại, bánh sinh nhật đã cắt xong. Mẹ chỉ cười bảo: "Con bận thì ráng giữ sức khỏe". Nghe vậy, tôi thấy vừa thương mẹ, vừa chạnh lòng.
>> 3 năm nay tôi bị sếp 'sa thải thầm lặng'
Điều đáng nói là tôi không hề được tính thêm tiền làm ngoài giờ. Mọi thứ diễn ra như một thói quen ngầm: sếp nhắn thì nhân viên trả lời, sếp giao thì nhân viên làm. Nếu phản hồi chậm, hôm sau tôi sẽ bị trách rằng thiếu tinh thần trách nhiệm. Lâu dần, tôi hình thành thói quen luôn để điện thoại bên cạnh, kể cả lúc ăn cơm hay chuẩn bị đi ngủ. Chỉ cần tiếng thông báo vang lên là đầu óc lập tức nghĩ ngay tới công việc. Thời gian dành cho gia đình của tôi bị cắt vụn bởi những lần mở máy tính, điện thoại để làm việc.
Tôi hiểu làm quản lý cũng chịu nhiều áp lực. Có những tình huống khách hàng đổi yêu cầu vào phút chót hoặc phát sinh sự cố cần xử lý ngay. Nhưng phần lớn những việc tôi nhận buổi tối đều xuất phát từ việc sếp không chủ động sắp xếp giao ngay trong giờ làm việc hoặc có thể chờ đến sáng hôm sau cũng chẳng sao. Chỉ vì người giao việc đã quen nhắn bất cứ lúc nào, còn người nhận thì không dám từ chối.
Tôi nghĩ một người đi làm nhận lương thì phải có trách nhiệm với công việc. Nhưng nhận lương mỗi tháng không có nghĩa là bán luôn cả buổi tối, cuối tuần hay những bữa cơm gia đình cho công việc. Giá như trước khi giao việc ngoài giờ, người quản lý có thể hỏi một câu đơn giản: "Em có tiện làm lúc này không?", có lẽ nhân viên chúng tôi sẽ cảm thấy mình được tôn trọng hơn rất nhiều.