Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm TP HCM, cố vấn Khoa Nhiễm Thần kinh Bệnh viện Nhi đồng 1, cho biết phế cầu khuẩn từ lâu được xem là tác nhân hàng đầu gây viêm phổi, viêm màng não, viêm tai giữa và nhiễm trùng huyết, song nhận thức của người dân về bệnh chưa cao. Sau đại dịch Covid-19, khi tình trạng bội nhiễm hô hấp được nhắc nhiều hơn, phế cầu khuẩn mới được chú ý hơn.
“Nhiều người chưa hiểu đúng mức độ nguy hiểm của vi khuẩn phế cầu”, bác sĩ Khanh nói, thêm rằng không ít người nghĩ viêm phổi là bệnh hô hấp thông thường mà không biết phế cầu khuẩn là tác nhân phổ biến có thể phòng ngừa bằng vaccine.
Theo bác sĩ Khanh, khi nghi ngờ phế cầu khuẩn xâm lấn vào phổi hoặc màng não, bác sĩ gần như luôn phải tính đến nguy cơ kháng thuốc. Điều này khiến phế cầu khuẩn ngày càng khó điều trị, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người cao tuổi và người mắc bệnh nền, suy giảm miễn dịch. Bác sĩ thường không dùng đơn lẻ một loại kháng sinh thông thường điều trị phế cầu khuẩn, mà phối hợp từ hai loại trở lên, thậm chí dùng đến kháng sinh mạnh.
Phế cầu khuẩn là nguyên nhân hàng đầu gây viêm phổi ở trẻ nhỏ, liên quan khoảng 70% ca nhập viện và với viêm màng não, tỷ lệ cũng rất cao. Vi khuẩn còn gây viêm tai giữa, có thể để lại giảm thính lực lâu dài ở trẻ. Vi khuẩn này có thể cư trú trong họng người khỏe mạnh mà không gây triệu chứng, lây qua giọt bắn khi nói chuyện, tiếp xúc gần. Trẻ dưới 5 tuổi và người trên 60 tuổi dễ mắc bệnh nặng, còn người khỏe mạnh vẫn có thể trở thành “nguồn lây thầm lặng”.
Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng tăng khi thời tiết thay đổi hoặc sau các đợt nhiễm virus hô hấp như cúm, RSV do virus làm suy yếu niêm mạc, tạo điều kiện cho phế cầu khuẩn tấn công. Phế cầu khuẩn có hơn 100 type huyết thanh, trong đó một số type dễ gây bệnh nặng và xâm lấn não, máu. Các type lưu hành cũng thay đổi theo thời gian và khu vực, khiến vaccine phế cầu liên tục được cải tiến, từ bao phủ 7 type lên 13, 14, 15 và hiện nay là 20 type. Vì vậy, bác sĩ sẽ tư vấn lựa chọn biện pháp phòng ngừa phù hợp cho bệnh nhân.
Trẻ có thể sống thực vật sau viêm màng não
Nhiều trường hợp mắc di chứng nặng nề do phế cầu khuẩn xâm lấn. Bác sĩ Khanh dẫn trường hợp một bé hơn 3 tháng tuổi nhập viện vì viêm màng não do phế cầu khuẩn kháng thuốc. Bé được cứu sống song bị tổn thương thần kinh nghiêm trọng, tái nhập viện nhiều lần và sống phụ thuộc hoàn toàn.
Một trường hợp khác vài tháng tuổi bị viêm màng não tiến triển thành áp xe não, phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật dẫn lưu mủ trên sọ. Thời gian điều trị các ca xâm lấn thường kéo dài từ hai tuần đến vài tháng, tiêu tốn hàng chục triệu đồng.
Theo bác sĩ, tỷ lệ tử vong do phế cầu khuẩn phụ thuộc thời điểm nhập viện và mức độ nặng của bệnh. Điều đáng lo hơn là di chứng thần kinh sau viêm màng não, xảy ra khoảng 30% trường hợp với mức độ khác nhau. Nhiều trường hợp cứu được nhưng trẻ không thể phát triển bình thường nữa.
Vaccine phế cầu khuẩn được tiêm chủng bắt buộc mở rộng từ 1/7
Từ ngày 1/7, vaccine phế cầu được bổ sung vào Chương trình tiêm chủng mở rộng cùng vaccine HPV. Theo bác sĩ Khanh, đây là bước tiến quan trọng khi nhiều nước phát triển đã triển khai tiêm miễn phí vaccine phế cầu từ lâu và ghi nhận hiệu quả rõ rệt trong giảm bệnh nặng, nhập viện và kháng kháng sinh.
Ngoài vaccine, các biện pháp như rửa tay, đeo khẩu trang khi mắc bệnh hô hấp, tránh hôn trẻ nhỏ và hạn chế tiếp xúc gần khi có triệu chứng cúm cũng giúp giảm nguy cơ lây nhiễm. Tuy nhiên, phế cầu khuẩn thường trú trong họng người lành và có thể phát tán ngay cả khi không ho hay sốt.
“Đây là loại vi khuẩn rất khó kiểm soát bằng biện pháp thông thường, vaccine vẫn là cách hiệu quả nhất để giảm bệnh nặng và hạn chế nguồn lây trong cộng đồng”, bác sĩ Khanh nói.
Hôm 7/5, đại diện Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Sơn La xác nhận sự việc xảy ra tại bản Nà Hiên, xã Phiêng Pằn. Hiện tại, 4 trong 5 bệnh nhân nằm điều trị chuyên sâu tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) sau khi tuyến dưới chuyển lên. Cơ quan chức năng đã lấy mẫu thực phẩm và bệnh phẩm đem xét nghiệm nhằm làm rõ nguyên nhân.
Trước đó, trưa 2/5, một gia đình ở bản Nà Hiên tổ chức bữa cơm với 24 người tham gia. Thực đơn gồm thịt chó hấp, ngan luộc, canh măng khô, rượu cần và rượu trắng. Dùng bữa xong, 6 người tiếp tục ăn thêm món canh nấm hái trong rừng.
Tới 20h cùng ngày, nhóm người này bắt đầu đau bụng, buồn nôn, nôn nhiều lần và tiêu chảy. Con gái chủ nhà có triệu chứng nặng nhất, nôn và đi ngoài liên tục ra nước, rồi tử vong tại nhà vào sáng 4/5. 18 người không ăn canh nấm vẫn duy trì sức khỏe bình thường.
Giới chức y tế nhận định thủ phạm có thể là nấm tán trắng - loài chứa độc tố amatoxin cực mạnh. Loại chất độc này không phân hủy khi nấu chín, phá hủy trực tiếp gan, thận, tim và hệ thần kinh, khiến nạn nhân đau bụng, tiêu chảy, suy đa tạng rồi hôn mê. Chỉ một lượng nhỏ amatoxin đi vào cơ thể cũng đủ gây chết người.
Loài nấm độc này mọc nhiều dưới tán rừng miền núi từ tháng 5 đến tháng 10. Chúng có mũ màu trắng, phiến trắng dày không dính cuống, gốc phình to bọc trong bao và cuống mang vòng. Hình dáng này dễ làm người dân nhầm lẫn với nấm rơm, nấm mỡ hoặc nấm non dạng "trứng".
Ngành y tế khuyến cáo người dân tuyệt đối không hái, mua hoặc ăn các loại nấm lạ. Khi xuất hiện dấu hiệu trúng độc, bệnh nhân cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất, mang theo mẫu nấm để bác sĩ có phác đồ can thiệp kịp thời.
Điển hình là nam thanh niên 20 tuổi, sẩn đỏ ở tay chân có mụn nước, ngứa nhiều, tắm và đắp lá không bớt. Một bệnh nhi 7 tuổi có những tổn thương tương tự, bôi thuốc có giảm ngứa song vẫn xuất hiện nốt sẩn mới.
TS Quách Thị Hà Giang, Trưởng Khoa điều trị bệnh da nam giới, Bệnh viện Da liễu Trung ương, cho hay trường hợp bị phản ứng mạnh, vùng da quanh sẩn có thể viêm tấy đỏ lan tỏa, hình thành bọng nước. Thương tổn thường gặp ở vùng da hở như tay, chân, lan rộng toàn thân nếu nặng. Người bệnh rất ngứa, châm chích, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và chất lượng cuộc sống.
Một số bệnh nhân cho biết phát hiện con bọ chét có kích thước rất nhỏ, màu đen hoặc hơi nâu đỏ, không có cánh, có khả năng nhảy rất nhanh ở trên da và môi trường như sàn nhà, ga giường, thảm, vật nuôi. Đây có thể là nguyên nhân gây kích ứng da.
"Điều trị bằng các loại thuốc không rõ nguồn gốc hoặc áp dụng phương pháp dân gian có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng da khu trú hoặc lan tỏa, khiến tình trạng bệnh trở nên phức tạp hơn", TS Giang nói.
Bọ chét đốt người, để hút máu gây bệnh sẩn ngứa, ở Việt Nam thường gặp bọ chét chó và bọ chét mèo. Thương tổn là các sẩn huyết thanh, kích thước 1-2 mm, gờ cao hơn mặt da, đỉnh chóp sẩn có mụn nước nhỏ, rất ngứa.
Trường hợp phản ứng mạnh có thể bị viêm tấy đỏ lan tỏa xung quanh sẩn. Thương tổn thường gặp ở phần da hở hoặc vùng da tiếp xúc trực tiếp với con vật khi ôm, bế chúng như vùng cổ, mặt, tay, chân, quanh thắt lưng.
Ngoài ra, bọ chét có thể là vật chủ trung gian truyền một số bệnh. Bọ chét phương Đông (Xenopsylla cheopis) truyền một số bệnh dịch, bệnh sốt kéo dài từ chuột sang người. Bọ chét mèo và chó truyền bệnh sán dây từ vật chủ này sang vật chủ khác.
Bọ chét phát triển trong điều kiện nóng ẩm, thích hợp ở nhiệt độ 21-35 độ C và độ ẩm 70-85%. Ở môi trường trong nhà, bọ chét sinh sản quanh năm, còn ở ngoài trời chúng chỉ phát triển vào những tháng ấm. Ở miền Bắc, bọ chét phát triển nhiều vào tháng 2 tháng 3 khi thời tiết chuyển từ mùa đông sang mùa xuân hè.
Khi bị ngứa nhiều, nổi sẩn đỏ, sẩn có mụn nước, bọng nước, đặc biệt ở tay, chân, vùng da hở; bệnh có xu hướng kéo dài, xuất hiện thương tổn mới... nên đến cơ sở y tế khám, điều trị đúng cách. Không tự điều trị hoặc áp dụng mẹo dân gian như bôi thuốc không rõ nguồn gốc, dùng thuốc corticoid kéo dài, tắm lá, đắp lá.
Điều trị sai có thể làm bệnh kéo dài, lan rộng, tăng nguy cơ nhiễm trùng da, để lại sẹo hoặc thâm da. Trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, cần chú ý hơn đến vệ sinh môi trường sống và chăm sóc vật nuôi.
Trong một thử nghiệm quốc tế diễn ra tại 11 quốc gia, loại thuốc mang tên “amivantamab” được sử dụng cho những bệnh nhân ung thư đã di căn hoặc tái phát, đồng thời không còn đáp ứng với các phương pháp điều trị trước đó. Đáng chú ý, ở 15 bệnh nhân, các bác sĩ ghi nhận khối u đã biến mất hoàn toàn sau điều trị, theo tờ The Guardian (Anh).
Trong thử nghiệm, 102 bệnh nhân mắc ung thư vùng đầu cổ - loại ung thư phổ biến đứng thứ 6 thế giới - được điều trị bằng amivantamab. Kết quả cho thấy: 43 bệnh nhân có khối u thu nhỏ hoặc biến mất hoàn toàn. Trong đó, 28 bệnh nhân có khối u thu nhỏ đáng kể và 15 bệnh nhân không còn phát hiện khối u sau điều trị.
Giáo sư Kevin Harrington, chuyên gia điều trị ung thư sinh học tại Viện Nghiên cứu Ung thư London - ICR (Anh), nhận định: Đây là những đáp ứng điều trị mạnh mẽ chưa từng thấy ở nhóm bệnh nhân mà bệnh đã kháng cả hóa trị lẫn liệu pháp miễn dịch. Phương pháp này có tiềm năng mang lại lợi ích cho hàng ngàn bệnh nhân mỗi năm.
Các nhà nghiên cứu cũng cho biết thuốc đã cho thấy kết quả tương tự ở một số bệnh nhân ung thư phổi. Hiện, amivantamab do hãng Johnson & Johnson phát triển đang được đánh giá trong khoảng 60 thử nghiệm lâm sàng khác nhau, chủ yếu ở ung thư phổi, đồng thời mở rộng sang ung thư đại trực tràng, ung thư não và ung thư dạ dày.
Amivantamab được xem là một liệu pháp “thông minh” vì có khả năng tác động lên tế bào ung thư theo 3 hướng:
Thuốc được sử dụng mỗi 3 tuần 1 lần. Phần lớn tác dụng phụ chỉ ở mức nhẹ đến trung bình, chưa tới 10% bệnh nhân phải ngừng điều trị vì tác dụng phụ.