Văn phòng Thống đốc Florida ngày 30/3 cho biết ông Ron DeSantis đã ký ban hành đạo luật về “Dịch vụ Các sân bay Thương mại”, được nghị viện bang thông qua hồi tháng 2. Luật sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7, trong đó kèm điều khoản “đổi tên Sân bay Quốc tế Palm Beach thành Sân bay Quốc tế Tổng thống Donald J. Trump”.
Quyết định đổi tên sân bay vẫn cần sự chấp thuận từ Cơ quan Hàng không Liên bang Mỹ (FAA), đồng thời phải hoàn tất những thỏa thuận liên quan đến quyền sử dụng.
“Đổi tên sân bay là vấn đề thuộc thẩm quyền địa phương và FAA không thể phê duyệt quyết định này. Tuy nhiên, chúng tôi cần thực hiện một số công việc hành chính, gồm cập nhật bản đồ hàng không và cơ sở dữ liệu định vị”, FAA cho biết.
Palm Beach là thị trấn nổi tiếng với bãi cát trải dài và các khu biệt thự xa hoa. Sân bay Quốc tế Palm Beach chỉ cách khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago của ông Trump khoảng vài km. Khi thông qua dự luật đổi tên sân bay hồi tháng 2, các nghị sĩ Cộng hòa ở Florida nói họ muốn làm vậy bởi ông Trump là “tổng thống đầu tiên thường trú tại bang”.
Tổng thống Trump, ông trùm bất động sản thường gắn tên mình lên các tòa nhà khắp thế giới, luôn tìm cách để lại dấu ấn trên khắp nước Mỹ thông qua chiến dịch xây dựng và quảng bá hình ảnh chưa từng có.
Hồi tháng 12/2025, ban quản trị Trung tâm nghệ thuật Kennedy, khu phức hợp nghệ thuật đồng thời là nơi tưởng niệm cố tổng thống John F. Kennedy ở Washington, đã bỏ phiếu đổi tên cơ sở thành “Trung tâm Trump – Kennedy”.
Như Tâm (Theo AFP, Reuters)
Nguồn: https://vnexpress.net/bang-florida-dat-ten-ong-trump-cho-san-bay-5056662.html
Thế Giới
Trung Đông sáng 9-4: Mỹ yêu cầu Iran mở lại eo biển Hormuz ngay lập tức

Theo Hãng tin AFP, ngày 9-4, Thủ tướng Nawaf Salam của Lebanon tuyên bố quốc tang, sau khi các cuộc không kích mới nhất của Israel làm rung chuyển nước này và khiến ít nhất 182 người thiệt mạng.
Văn phòng Thủ tướng Lebanon nói rằng ngày 9-4 sẽ là "ngày quốc tang dành cho các nạn nhân thiệt mạng và bị thương trong các cuộc tấn công của Israel nhằm vào hàng trăm dân thường vô tội, không có khả năng tự vệ", đồng thời ra lệnh đóng cửa các cơ quan công quyền và treo cờ rủ.
Văn phòng của ông Salam cũng cho biết ông đang tiến hành các nỗ lực ngoại giao "nhằm huy động toàn bộ nguồn lực chính trị và ngoại giao của Lebanon để chấm dứt cỗ máy giết chóc của Israel".
Ngày 8-4, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cho biết ông đã thúc giục Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian đưa Lebanon vào thỏa thuận ngừng bắn đã đạt được giữa hai bên.
Các cuộc tấn công của Israel vào Lebanon trong ngày 8-4 khiến 182 người thiệt mạng và 890 người bị thương, theo số liệu ban đầu của Chính phủ Lebanon. Trong đó, thủ đô Beirut hứng chịu các đợt oanh kích dữ dội nhất kể từ khi cuộc chiến giữa Israel và nhóm vũ trang Hezbollah bùng phát đầu tháng 3.
"Tôi đã bày tỏ hy vọng rằng thỏa thuận ngừng bắn sẽ được tất cả các bên tham chiến tôn trọng đầy đủ, trên mọi khu vực đối đầu, gồm cả tại Lebanon" - ông Macron viết trên nền tảng X sau khi trao đổi với hai nhà lãnh đạo.
Ông nêu rõ đây là "điều kiện cần thiết để thỏa thuận ngừng bắn có tính đáng tin cậy và lâu dài".
Trong khi đó, Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian khẳng định việc ngừng bắn tại Lebanon là một trong những điều kiện then chốt trong kế hoạch 10 điểm của Cộng hòa Hồi giáo Iran nhằm chấm dứt xung đột ở Trung Đông, theo Hãng tin ISNA.
Ngày 8-4, Mỹ nói rằng Iran phải mở lại eo biển Hormuz "ngay lập tức, nhanh chóng và an toàn", sau khi rộ lên thông tin tuyến đường thủy chiến lược này vẫn bị đóng cửa dù Mỹ và Iran đã đạt thỏa thuận ngừng bắn kéo dài hai tuần.
Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt nói với các phóng viên rằng bất kỳ hành động đóng cửa nào tại eo biển này đều "hoàn toàn không thể chấp nhận".
“Tôi xin nhắc lại kỳ vọng và yêu cầu của Tổng thống Trump rằng eo biển Hormuz phải được mở lại ngay lập tức, nhanh chóng và an toàn" - bà nêu rõ.
Ngày 8-4, Bahrain cho biết nước này đã mở lại không phận, sau khi Iran và Mỹ đạt được thỏa thuận ngừng bắn kéo dài hai tuần. Trước đó, Iraq cũng thông báo mở lại không phận của mình.
Cơ quan hàng không dân dụng nước này thông báo "mở lại không phận trên Vương quốc Bahrain", trong khi đơn vị vận hành sân bay quốc tế Bahrain, gần thủ đô Manama, "xác nhận việc dần nối lại các chuyến bay".
Ngày 8-4, Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) nói rằng Iran phải bồi thường cho những thiệt hại do các cuộc tấn công của Tehran tại vùng Vịnh gây ra, đồng thời cho biết họ đang muốn được làm rõ về việc thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ - Iran sẽ bảo đảm Tehran chấm dứt các hành động thù địch và mở lại eo biển Hormuz như thế nào.
Mỹ và Iran đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn kéo dài hai tuần sau hơn một tháng xung đột, nhưng thỏa thuận ngừng bắn này vẫn mong manh khi một số quốc gia Vùng Vịnh, gồm cả UAE, cho biết họ đã bị Tehran tấn công.
Bộ Ngoại giao UAE nói nước này "đang muốn được làm rõ thêm về các điều khoản của thỏa thuận nhằm bảo đảm Iran cam kết đầy đủ việc chấm dứt ngay lập tức mọi hành động thù địch trong khu vực, cũng như việc mở lại hoàn toàn và vô điều kiện đối với eo biển Hormuz".
Cơ quan này cũng nhấn mạnh các cuộc tấn công của Iran "đòi hỏi lập trường cứng rắn, bao gồm việc bảo đảm Iran phải chịu trách nhiệm đầy đủ đối với các thiệt hại và bồi thường".
Ngày 8-4, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu tuyên bố nước này vẫn sẵn sàng đối đầu với Iran nếu cần thiết, bất chấp thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ - Iran.
"Xin nói rõ: Chúng tôi vẫn còn những mục tiêu cần hoàn thành và chúng tôi sẽ đạt được chúng, hoặc thông qua thỏa thuận, hoặc thông qua việc nối lại giao tranh" - ông Netanyahu phát biểu trên truyền hình.
Nhà lãnh đạo Israel nêu rõ: "Chúng tôi sẵn sàng quay trở lại chiến đấu bất cứ lúc nào cần thiết. Ngón tay của chúng tôi vẫn đặt trên cò súng. Đây không phải là kết thúc của chiến dịch, mà là một bước trên con đường đạt được tất cả mục tiêu".
"Iran bước vào giai đoạn tạm ngừng này trong tình trạng yếu hơn bao giờ hết" - ông Netanyahu nhận định.
Ngày 8-4, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf nhận định thỏa thuận ngừng bắn và các cuộc đàm phán với Mỹ hiện nay "không hợp lý", do những hành động vi phạm kế hoạch 10 điểm của Tehran, bao gồm các cuộc tấn công của Israel tại Lebanon, một chiếc máy bay không người lái xâm nhập không phận Iran, và việc phủ nhận quyền làm giàu uranium của Tehran.
"Sự ngờ vực sâu sắc mang tính lịch sử mà chúng tôi dành cho Mỹ bắt nguồn từ việc nước này liên tục vi phạm mọi cam kết - một khuôn mẫu đáng tiếc đã lặp lại một lần nữa", ông Ghalibaf đăng trên X, đồng thời liệt kê ba hành động vi phạm đối với đề xuất của Iran.
Ông bình luận: "Hiện nay chính "nền tảng khả thi để tiến hành đàm phán" đã bị vi phạm một cách công khai và rõ ràng, thậm chí ngay trước khi các cuộc đàm phán bắt đầu. Trong tình huống như vậy, một thỏa thuận ngừng bắn song phương hoặc các cuộc đàm phán là điều không hợp lý".
Ngày 8-4, Nhà Trắng cho biết ông Trump sẽ tiếp tục thảo luận với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu về ý tưởng đưa Lebanon vào thỏa thuận ngừng bắn trong cuộc xung đột ở Trung Đông.
"Tôi chắc chắn rằng vấn đề này sẽ tiếp tục được thảo luận giữa Tổng thống Trump và Thủ tướng Netanyahu" - Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt nói với các phóng viên.
Thế Giới
4 yếu tố quyết định cục diện chiến sự Nga - Ukraine giai đoạn 2026-2027

Sau hơn 4 năm kể từ khi xung đột Nga - Ukraine bùng phát toàn diện, chiến trường Đông Âu đang bước vào một giai đoạn mang tính quyết định đối với tương lai an ninh châu Âu cũng như trật tự địa chính trị quốc tế.
Nếu giai đoạn 2022-2024 được đặc trưng bởi những chiến dịch phản công quy mô lớn, các cuộc tranh giành lãnh thổ quyết liệt và những biến động khó lường trên chiến trường, thì từ đầu năm 2025 đến nay, cuộc chiến chuyển dần sang hình thái “chiến tranh tiêu hao” kéo dài, nơi sức mạnh quân sự không còn là yếu tố duy nhất quyết định thắng bại.
Nhiều trung tâm nghiên cứu hàng đầu của phương Tây và Nga cho rằng cục diện xung đột Nga - Ukraine giai đoạn 2026-2027 sẽ không được định đoạt bởi một trận đánh mang tính bước ngoặt, mà phụ thuộc vào năng lực duy trì chiến tranh lâu dài của mỗi bên.
Trong bối cảnh đó, 4 yếu tố nổi lên như những biến số chiến lược có khả năng định hình toàn bộ tiến trình xung đột gồm: nguồn nhân lực quân sự, cuộc cách mạng công nghệ UAV, sức chịu đựng của nền kinh tế Nga và khả năng duy trì viện trợ phương Tây dành cho Ukraine.
Nhân lực là biến số quyết định của “chiến tranh tiêu hao”
Giới chuyên gia nhận định, trong mọi cuộc chiến tranh hiện đại, con người vẫn là yếu tố trung tâm quyết định hiệu quả sử dụng vũ khí, công nghệ và năng lực tác chiến. Đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine, vấn đề nhân lực đang nổi lên như thách thức chiến lược lớn nhất của cả hai bên khi chiến tranh bước sang năm thứ năm.
Bản chất của chiến tranh tiêu hao là cuộc cạnh tranh về khả năng duy trì lực lượng chiến đấu trong thời gian dài. Sau hàng triệu lượt quân nhân được huy động và hàng trăm nghìn thương vong tích lũy từ năm 2022 đến nay, cả Nga và Ukraine đều phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn trong việc bổ sung quân số, bảo đảm chất lượng huấn luyện và duy trì tinh thần chiến đấu của lực lượng tiền tuyến.
Nga vẫn sở hữu lợi thế đáng kể về quy mô dân số và nguồn dự bị quân sự. Với dân số trên 140 triệu người, Nga có dư địa huy động lớn hơn Ukraine. Những năm qua, chính quyền Nga triển khai hàng loạt biện pháp nhằm duy trì nguồn tuyển quân, bao gồm tăng lương thưởng quân nhân hợp đồng, mở rộng tuyển mộ tại các khu vực ngoài trung tâm và đẩy mạnh các chương trình khuyến khích tình nguyện nhập ngũ.
Tuy nhiên, lợi thế về dân số không đồng nghĩa với việc Nga không gặp khó khăn. Việc duy trì lực lượng lớn trên nhiều mặt trận làm gia tăng áp lực đối với thị trường lao động và nền kinh tế dân sự. Nhiều ngành công nghiệp thiếu lao động có tay nghề do một bộ phận đáng kể lực lượng lao động đã chuyển sang phục vụ quân đội hoặc các nhà máy quốc phòng. Một số chuyên gia Nga thừa nhận rằng vấn đề nhân lực đang trở thành điểm nghẽn đối với cả nền kinh tế và quân đội trong dài hạn.
Về phía Ukraine, thách thức thậm chí còn nghiêm trọng hơn. Sau nhiều năm chiến tranh, nguồn nhân lực quân sự của Kiev bị thu hẹp bởi thương vong, làn sóng di cư và sự suy giảm dân số trong độ tuổi lao động. Những cuộc tranh luận gay gắt trong xã hội Ukraine về chính sách động viên quân sự thời gian qua cho thấy bài toán nhân lực đã trở thành vấn đề an ninh quốc gia mang tính sống còn.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Chiến tranh (ISW), và Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS), khả năng duy trì lực lượng chiến đấu có chất lượng cao trong hai năm tới sẽ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực kiểm soát chiến trường của cả Moscow lẫn Kiev. Trong điều kiện mọi hoạt động quân sự đều bị UAV giám sát liên tục và hỏa lực chính xác có thể tiêu diệt mục tiêu chỉ trong vài phút, việc bảo toàn nhân lực đang trở thành ưu tiên hàng đầu.
Nói cách khác, xung đột Nga - Ukraine không còn đơn thuần là cuộc đua về số lượng binh sĩ, mà là cuộc cạnh tranh về khả năng sử dụng hiệu quả từng quân nhân trên chiến trường.
UAV và robot chiến trường
Nếu nhân lực là yếu tố quyết định sức bền chiến tranh thì công nghệ UAV đang trở thành công cụ giúp giảm thiểu tổn thất và gia tăng hiệu quả tác chiến. Đây được xem là nhân tố làm thay đổi sâu sắc nhất bản chất của cuộc chiến Nga - Ukraine trong giai đoạn hiện nay.
Chưa có cuộc xung đột nào trong lịch sử hiện đại chứng kiến việc sử dụng thiết bị không người lái quy mô lớn như chiến trường Ukraine. Từ những chiếc UAV trinh sát cỡ nhỏ giá vài trăm USD đến các loại UAV tấn công tầm xa có khả năng bay hàng nghìn km, toàn bộ chiến trường đang được bao phủ bởi mạng lưới cảm biến và phương tiện không người lái dày đặc.
Các chuyên gia quân sự phương Tây cho rằng Ukraine đã trở thành phòng thí nghiệm quân sự lớn nhất thế giới về chiến tranh không người lái. Kiev đang đầu tư mạnh vào sản xuất UAV nội địa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nhận dạng mục tiêu và phát triển các phương tiện mặt đất không người lái (UGV) nhằm thay thế con người trong những nhiệm vụ nguy hiểm nhất.
Xu hướng này phản ánh một thực tế quan trọng: trong bối cảnh nguồn nhân lực ngày càng hạn chế, các quốc gia buộc phải sử dụng công nghệ để duy trì hiệu quả chiến đấu. Một chiếc UAV FPV trị giá vài trăm USD có thể phá hủy xe bọc thép trị giá hàng triệu USD. Một đội robot mặt đất có thể thực hiện nhiệm vụ tiếp tế, rà phá vật cản hoặc sơ tán thương binh mà trước đây phải sử dụng binh sĩ.
Nga cũng đang thích nghi nhanh chóng với môi trường tác chiến mới. Trong 2 năm qua, Moscow mở rộng đáng kể năng lực sản xuất UAV, phát triển nhiều dòng máy bay không người lái tấn công tầm xa và tăng cường sử dụng các hệ thống chiến tranh điện tử nhằm vô hiệu hóa UAV của Ukraine. Giới phân tích quân sự cho rằng cuộc cạnh tranh công nghệ hiện nay không chỉ là cuộc đua giữa các loại UAV, mà là cuộc cạnh tranh giữa hai hệ sinh thái tác chiến số hóa. Bên nào có khả năng kết nối UAV, vệ tinh, trí tuệ nhân tạo, pháo binh và hệ thống chỉ huy thành một mạng lưới thống nhất sẽ giành được ưu thế chiến trường.
Đặc biệt, việc Ukraine liên tục mở rộng các cuộc tấn công UAV vào sâu trong lãnh thổ Nga gần đây và việc Nga gia tăng các đòn đánh tầm xa vào cơ sở hạ tầng của Ukraine để đáp trả mạnh mẽ cho thấy khái niệm “hậu phương an toàn” đang dần biến mất. Chiến tranh không người lái đã mở rộng không gian tác chiến từ tiền tuyến tới toàn bộ lãnh thổ của các bên tham chiến.
Nhiều chuyên gia quốc phòng châu Âu nhận định rằng những bài học từ chiến trường Ukraine đang làm thay đổi tư duy quân sự toàn cầu và có thể định hình học thuyết tác chiến của các cường quốc trong nhiều thập niên tới.
Sức chịu đựng của kinh tế Nga
Trong các cuộc xung đột kéo dài, chiến trường cuối cùng luôn là nền kinh tế. Khả năng sản xuất vũ khí, duy trì ngân sách quốc phòng và bảo đảm ổn định xã hội quyết định trực tiếp tới sức bền chiến lược của một quốc gia.
Sau hơn 4 năm chịu các lệnh trừng phạt chưa từng có từ Mỹ/phương Tây, nền kinh tế Nga đã thể hiện khả năng thích nghi đáng kể. Trái với nhiều dự báo bi quan thời điểm năm 2022, Nga không rơi vào khủng hoảng tài chính và sụp đổ mà vẫn duy trì được tăng trưởng ở mức nhất định nhờ xuất khẩu năng lượng, mở rộng thương mại với châu Á và đẩy mạnh sản xuất quốc phòng.
Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng vẫn tồn tại nhiều thách thức mang tính cơ cấu. Các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại (FPRI) cho rằng nền kinh tế Nga đang vận hành theo mô hình kinh tế thời chiến với chi tiêu quốc phòng ở mức rất cao. Mô hình này giúp duy trì hoạt động sản xuất quân sự trong ngắn hạn nhưng đồng thời tạo ra những sức ép ngày càng lớn đối với nền kinh tế dân sự. Tình trạng thiếu hụt lao động, lãi suất cao, áp lực lạm phát và sự phụ thuộc vào nguồn thu năng lượng đặt ra nhiều thách thức đối với khả năng duy trì tăng trưởng lâu dài.
Cùng với đó, các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của phương Tây tiếp tục ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến của Nga. Mặc dù Nga xây dựng được nhiều kênh nhập khẩu thay thế, song việc tiếp cận các linh kiện điện tử, thiết bị công nghệ cao và một số loại máy móc công nghiệp vẫn gặp khó khăn hơn trước.
Một yếu tố khác là sự biến động của thị trường năng lượng toàn cầu. Dầu khí vẫn là nguồn thu quan trọng đối với ngân sách Nga. Trong trường hợp giá năng lượng suy giảm kéo dài hoặc các biện pháp trừng phạt được siết chặt hơn, áp lực đối với ngân sách quốc phòng của Moscow có thể gia tăng đáng kể.
Viện trợ phương Tây - nhân tố quyết định khả năng trụ vững của Ukraine
Nếu sức mạnh kinh tế là nền tảng của Nga thì viện trợ quốc tế lại là yếu tố sống còn đối với Ukraine. Thực tế chiến trường trong hơn 4 năm qua cho thấy khả năng kháng cự của Kiev gắn chặt với mức độ hỗ trợ từ Mỹ và đồng minh châu Âu.
Ukraine xây dựng được ngành công nghiệp quốc phòng đáng kể, song vẫn phụ thuộc vào phương Tây với nhiều loại khí tài chiến lược như hệ thống phòng không, tên lửa tầm xa, đạn pháo cỡ lớn và hỗ trợ tài chính cho ngân sách nhà nước. Vì vậy, sự ổn định của dòng viện trợ có ý nghĩa quyết định đối với khả năng duy trì chiến tranh của Kiev.
Diễn biến đáng chú ý nhất đầu tháng 6 vừa qua là việc Hạ viện Mỹ thông qua Đạo luật hỗ trợ Ukraine với tỷ lệ 226 phiếu thuận và 195 phiếu chống. Đạo luật bao gồm hơn 1 tỷ USD viện trợ trực tiếp, mở đường cho tối đa 8 tỷ USD hỗ trợ dưới hình thức các khoản vay, đồng thời bổ sung các biện pháp trừng phạt nhằm vào lĩnh vực tài chính, năng lượng và khai khoáng của Nga. Ý nghĩa của cuộc bỏ phiếu này không chỉ nằm ở giá trị tài chính mà còn ở thông điệp chính trị. Việc một bộ phận nghị sĩ Cộng hòa ủng hộ đạo luật cho thấy vẫn tồn tại sự đồng thuận nhất định trong Quốc hội Mỹ về việc tiếp tục hỗ trợ Ukraine, bất chấp những tranh luận ngày càng gay gắt trong nội bộ chính trường Washington.
Tại châu Âu, xu hướng hỗ trợ Ukraine tiếp tục được duy trì. Nhiều quốc gia NATO đang tăng chi tiêu quốc phòng, mở rộng năng lực sản xuất đạn dược và đẩy nhanh các chương trình hỗ trợ quân sự dài hạn cho Kiev. Đồng thời, Liên minh châu Âu cũng tiếp tục thúc đẩy các gói hỗ trợ tài chính 90 tỷ euro nhằm bảo đảm khả năng vận hành của nền kinh tế Ukraine trong điều kiện chiến tranh.
Tuy nhiên, giới quan sát lưu ý rằng viện trợ phương Tây không phải là nguồn lực vô hạn. Áp lực ngân sách, các cuộc bầu cử và những ưu tiên chiến lược mới có thể tác động tới mức độ hỗ trợ dành cho Ukraine trong tương lai. Vì vậy, thách thức lớn nhất đối với Kiev hiện nay không chỉ là nhận được nhiều viện trợ hơn, mà là bảo đảm tính liên tục và khả năng dự báo của dòng hỗ trợ đó. Đối với một cuộc chiến kéo dài, sự ổn định thường quan trọng hơn những gói viện trợ đột biến mang tính ngắn hạn.
Giai đoạn 2026 - 2027, triển vọng xung đột Nga - Ukraine sẽ phụ thuộc vào khả năng duy trì sức bền tổng hợp của cả hai bên. Nhân lực quyết định khả năng trụ vững trên chiến trường; công nghệ UAV quyết định hiệu quả tác chiến; sức mạnh kinh tế quyết định khả năng duy trì chiến tranh; còn viện trợ quốc tế quyết định mức độ bền vững của nỗ lực kháng cự từ phía Ukraine.
Trong bối cảnh chưa xuất hiện dấu hiệu rõ ràng về một giải pháp chính trị toàn diện, cuộc cạnh tranh giữa 4 yếu tố này sẽ tiếp tục định hình cục diện chiến trường cũng như tương lai an ninh của châu Âu trong những năm tới. Cuộc chiến có thể chưa được quyết định bởi một trận đánh mang tính lịch sử, nhưng chắc chắn sẽ được quyết định bởi khả năng huy động và duy trì nguồn lực quốc gia của mỗi bên trong cuộc đua sức bền khốc liệt nhất của thế kỷ 21.
Tin Gốc: Dân Trí

"Tin rất tốt đây! Tôi vừa nhận được thông báo rằng 8 phụ nữ dự kiến bị tử hình tại Iran tối nay sẽ không bị xử tử nữa. 4 người sẽ được thả ngay lập tức, 4 người còn lại bị kết án một tháng tù. Tôi đánh giá cao Iran và các lãnh đạo của họ vì tôn trọng đề nghị của Tổng thống Mỹ và hủy kế hoạch thi hành án", Tổng thống Mỹ Donald Trump đăng trên mạng xã hội Truth Social ngày 22/4.
Trả lời trên Fox News sau đó, Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt cũng nói rằng ông Trump đã "nhận được thông tin trực tiếp từ chính quyền Iran rằng những phụ nữ này sẽ được tha mạng".
Tổng thống Mỹ hôm 21/4 dẫn lại bài viết của một nhà hoạt động ủng hộ Israel, trong đó cho biết 8 phụ nữ tại Iran sắp bị treo cổ. Ông kêu gọi lãnh đạo Iran trả tự do cho những phụ nữ này để tạo "khởi đầu tuyệt vời" cho đàm phán.
Tuy nhiên, giới chức Iran khẳng định không có kế hoạch nào như vậy. Trang Mizan Online của cơ quan tư pháp Iran cho rằng Tổng thống Trump "một lần nữa bị tin giả đánh lừa". "Trong số những phụ nữ được cho là sắp bị tử hình, một số người đã được thả, số khác đối diện với những cáo buộc có mức án tối đa là tù giam", trang này cho hay.
Tổng thống Mỹ từng nhiều lần đưa ra thông tin về án tử hình tại Iran, nhưng thường gây tranh cãi hoặc không được xác thực.
Ông Trump hôm 21/4 gia hạn lệnh ngừng bắn với Iran, nhưng vẫn yêu cầu quân đội Mỹ phong tỏa các cảng biển nước này, gây sức ép buộc Tehran đưa ra đề xuất thống nhất nhằm nối lại đàm phán. Theo CNN, tính đến tối 21/4, chính quyền Mỹ gần như không nhận được phản hồi đáng kể nào từ Iran.
Iran ngày 22/4 tuyên bố sẽ không mở lại eo biển Hormuz chừng nào lệnh phong tỏa của Mỹ vẫn còn hiệu lực. Giá dầu, vốn đã tăng vọt kể từ khi Mỹ - Israel tấn công Iran ngày 28/2, tiếp tục tăng nhẹ do sự mơ hồ về khả năng chiến sự tiếp diễn.
Tin Gốc: Vnexpress

