Điểm chung của nhiều bệnh nhân là tuổi cao hoặc đang mang bệnh mạn tính, trong khi triệu chứng ban đầu khá mờ nhạt nên dễ bị bỏ qua. Theo các bác sĩ, không ít người nhập viện chỉ sau vài ngày xuất hiện những biểu hiện tưởng như cảm cúm thông thường như mệt mỏi, đau đầu, sốt nhẹ hoặc ho. Tuy nhiên, bệnh nhanh chóng tiến triển thành viêm phổi, suy hô hấp, thậm chí phải hỗ trợ thở máy.
Một trong những bệnh nhân đang điều trị là bà T.T.N. (77 tuổi). Trước khi nhập viện 4 ngày, bà chỉ thấy mệt, đau đầu và buồn nôn nên gia đình nghĩ là cảm thông thường. Khi đến viện, bệnh nhân đã suy hô hấp, phải thở ôxy, xét nghiệm cho kết quả dương tính với cúm B. Bệnh nhân đồng thời có tiền sử tăng huyết áp và đã xuất hiện tổn thương phổi.
Một trường hợp khác là ông N.H.H. (60 tuổi, Hải Dương), có tiền sử đái tháo đường và viêm gan B. Sau một tuần điều trị tại cơ sở tư nhân, bệnh nhân tưởng đã ổn định nhưng sau đó lại sốt trở lại, khó thở tăng dần. Khi chuyển đến Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, các bác sĩ xác định người bệnh bị viêm phổi tiến triển trên nền nhiễm cúm B.
Nặng hơn là bệnh nhân H.N.T. (65 tuổi, Hà Nội), mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) nhiều năm. Người bệnh nhập viện trong tình trạng suy hô hấp nghiêm trọng, phải thở ôxy lưu lượng cao rồi chuyển sang thở máy. Bác sĩ nhận định cúm B trên nền bệnh phổi mạn có thể kéo theo bội nhiễm nấm xâm lấn – biến chứng nguy hiểm ở những người sức đề kháng suy giảm.
ThS. bác sĩ nội trú Phạm Thanh Bằng, Khoa Cấp cứu, cho biết cúm B là bệnh nhiễm virus đường hô hấp với các triệu chứng thường gặp như sốt, đau nhức, ho, chảy mũi. Phần lớn người khỏe mạnh có thể tự hồi phục, nhưng ở người cao tuổi hoặc có bệnh nền, virus có thể kích hoạt hàng loạt biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, suy hô hấp, bội nhiễm vi khuẩn hoặc nấm.
Điều đáng lo ngại là nhiều người vẫn xem cúm B là bệnh nhẹ nên chủ quan điều trị tại nhà. Khi xuất hiện khó thở hoặc toàn trạng xấu đi mới đến viện thì bệnh thường đã nặng, khiến quá trình điều trị khó khăn hơn.
Các chuyên gia khuyến cáo, người cao tuổi và người mắc các bệnh mạn tính như tiểu đường, COPD, bệnh gan, suy thận… nếu có dấu hiệu sốt, ho, đau mỏi người hoặc khó thở kéo dài trên 1-2 ngày cần đi khám sớm. Việc tự dùng thuốc kéo dài tại nhà, kể cả thuốc kháng virus, có thể khiến bệnh diễn biến âm thầm và trở nên nguy hiểm. Khi trong gia đình có người có biểu hiện ho, sốt, sổ mũi, cần chủ động xét nghiệm, đồng thời áp dụng các biện pháp phòng lây nhiễm.
Bên cạnh đó, tiêm vắc-xin cúm định kì vẫn là biện pháp hiệu quả giúp giảm nguy cơ mắc bệnh và hạn chế biến chứng nặng. Từ những ca bệnh thực tế, bác sĩ nhấn mạnh cúm B không đơn thuần là một bệnh cảm cúm thông thường, đặc biệt với những người có sức khỏe yếu hoặc mang bệnh lí nền, đây có thể là điểm khởi đầu của các biến chứng nghiêm trọng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời.
Cúm B là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp phổ biến, với thời gian ủ bệnh từ 1 đến 4 ngày. Khi khởi phát, bệnh thường gây ra các triệu chứng toàn thân rõ rệt như sốt cao, có thể lên tới 39-41°C, kèm theo ớn lạnh, mệt mỏi và đau nhức cơ bắp khắp người.
Bên cạnh đó, người bệnh cũng gặp các vấn đề về hô hấp như ho, sổ mũi, viêm họng. Ở một số trường hợp, virus cúm B còn có thể ảnh hưởng đến thần kinh, gây phù não hoặc cường thần kinh phó giao cảm với biểu hiện mặt đỏ, mắt đỏ.
Đa số người mắc, đặc biệt là trẻ em, có thể tự hồi phục sau 5-7 ngày nếu được chăm sóc tốt tại nhà. Tuy nhiên, chúng ta cần hết sức cảnh giác với các dấu hiệu cảnh báo biến chứng nặng.
Khi sốt cao liên tục trên 39°C không hạ, khó thở, ho có đờm, run tay chân hoặc da xanh tái, cần đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế ngay. Cúm B có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm cơ tim, suy hô hấp hoặc nhiễm trùng huyết.
Từ các ca bệnh thực tế cho thấy, cúm B không đơn thuần là bệnh lý nhẹ. Ở những người có nền sức khỏe yếu hoặc mắc bệnh mạn tính, đây có thể là điểm khởi đầu của các biến chứng nghiêm trọng nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời.
Hải sản vốn được xem là thực phẩm lành mạnh, tuy nhiên nếu tiêu thụ không đúng cách, đây lại có thể trở thành mối nguy cho sức khỏe.
Một trường hợp tại Đài Loan (Trung Quốc) cho thấy việc ăn hải sản thường xuyên đã dẫn đến suy thận do tích tụ kim loại nặng trong cơ thể, theo China Times.
Theo đó, bác sĩ Hồng Vĩnh Tường, chuyên gia thận học tại khoa Thận, Bệnh viện Đa khoa Tam Quân, Đài Loan (Trung Quốc), đã chia sẻ về trường hợp ông Lý, 64 tuổi, vốn có sức khỏe tốt, suốt 30 năm qua duy trì thói quen đi câu cá biển và gần như ngày nào cũng ăn hải sản do chính mình đánh bắt.
Tuy nhiên, trong một lần khám sức khỏe định kỳ, kết quả kiểm tra cho thấy độ thanh thải creatinin chỉ còn 46 mL/phút, tương ứng với suy thận mức trung bình. Ngoài ra, nồng độ kim loại nặng như chì và asen trong cơ thể của người bệnh cao gấp nhiều lần mức cho phép.
Sau khi xác định được nguyên nhân, đội ngũ y tế yêu cầu người đàn ông ngừng ăn hải sản, sử dụng nước đã lọc và kết hợp điều trị bằng thuốc. Sau 6 tháng, chức năng thận của bệnh nhân cải thiện rõ rệt, độ thanh thải creatinin tăng từ 46 lên 80 mL/phút, qua đó giảm nguy cơ phải chạy thận trong tương lai.
Kim loại nặng gây nguy hiểm vì có tính tích lũy sinh học, vào cơ thể nhanh nhưng thải ra rất chậm. Dưới đây là 4 kim loại nặng ảnh hưởng đến thận mạnh nhất:
- Chì: Có trong ống nước cũ, đồ dùng kém chất lượng, một số thuốc đông y không rõ nguồn gốc. Chì có thể gây viêm thận kẽ mạn tính, tăng huyết áp, gout.
- Cadmium (Cd): Được biết đến là "kẻ giết người kép đối với xương và thận", Cadmium tồn tại trong đất bị ô nhiễm, đặc biệt là lúa và các loại rau củ. Cadmium có độc tính mạnh nhất đối với thận, tích tụ tới 20-30 năm trong cơ thể, gây tổn thương ống thận nặng.
- Thủy ngân: Đặc biệt là methylmercury, tích tụ trong các loài cá săn mồi lớn. Tiếp xúc thủy ngân gây hoại tử ống thận cấp hoặc dẫn đến bệnh thận mạn.
- Asen: Được tìm thấy trong nước ngầm ô nhiễm và sinh vật đáy, asen được xếp là chất gây ung thư nhóm 1. Ngoài độc tính đối với thận, nó còn có độc tính mạnh đối với mạch máu, ảnh hưởng đến nguồn cung cấp máu cho thận.
Bác sĩ Hồng cảnh báo những nhóm thực phẩm có nguy cơ chứa kim loại nặng mà người dân cần đặc biệt lưu ý:
-Cá biển lớn sống ở vùng biển sâu
Các loài cá săn mồi sống lâu năm như cá kiếm, cá mập nằm ở đỉnh chuỗi thức ăn. Do hiện tượng tích lũy sinh học, nồng độ methylmercury trong cơ thể chúng có thể cao gấp hàng chục nghìn lần so với trong nước biển. Methylmercury có độc tính cao đối với thận và tấn công trực tiếp vào cầu thận.
Khuyến nghị: Thay thế bằng các loại cá nhỏ như cá thu hoặc cá thu gai, tránh ăn da và nội tạng.
-Nội tạng động vật
Quan niệm "ăn gì bổ nấy", đặc biệt là ăn thận để bổ thận, được bác sĩ nhận định là sai lầm. Kim loại nặng như cadimi có thể tích tụ trong gan và thận của gia súc. Việc tiêu thụ nội tạng động vật thường xuyên có thể gây tổn thương thận.
-Gạo và ngũ cốc không rõ nguồn gốc
Gạo và các loại ngũ cốc có khả năng hấp thụ cadimi. Nếu được trồng trên đất ô nhiễm, sản phẩm có thể chứa hàm lượng kim loại nặng nguy hiểm, sử dụng lâu dài có thể gây tiểu đạm và suy giảm chất lượng xương. Người tiêu dùng nên lựa chọn loại gạo, ngũ cốc có nguồn gốc rõ ràng.
Một số chất tạo màu công nghiệp được thêm vào bất hợp pháp hoặc trái cây sấy khô và kẹo giá rẻ có thể chứa hàm lượng chì cao trong chất tạo màu. Chì có thể gây xơ hóa mô kẽ thận mạn tính, đặc biệt gây hại cho thận của trẻ em đang phát triển.
Ngoài việc hạn chế các thực phẩm trên, bác sĩ Hồng cũng khuyến nghị mọi người bổ sung một số thực phẩm hỗ trợ cơ thể thải độc.
Mộc nhĩ đen và khoai lang chứa nhiều chất xơ, giúp hấp phụ kim loại nặng trong đường ruột. Bí đỏ và táo giàu pectin, có khả năng liên kết kim loại nặng và đào thải ra ngoài. Tỏi, hành tây và rau mùi chứa hợp chất lưu huỳnh, hỗ trợ gan tổng hợp glutathione - chất giải độc quan trọng của cơ thể. Ngoài ra, một số loại men vi sinh cũng có thể giảm hấp thu kim loại nặng trong ruột.
Cách đây không lâu, Khoa Hồi sức tích cực của Bệnh viện Thái Châu (Chiết Giang, Trung Quốc) đã tiếp nhận một bệnh nhân nam 70 tuổi bị viêm phổi nặng do nhiễm vi khuẩn Legionella.
Bệnh nhân có tiền sử cao huyết áp và tiểu đường nhiều năm. Đầu năm, ông được chuyển khẩn cấp đến Khoa Hồi sức tích cực của Bệnh viện Thái Châu với triệu chứng sốt cao kèm tức ngực kéo dài một tuần, trở nặng trong 1 ngày.
Theo người nhà, khi mới phát bệnh, ông sốt cao tới 40,5 độ C , kèm theo rét run, ho có đờm, thậm chí đờm lẫn máu, cùng với tiêu chảy dạng nước. Các triệu chứng ban đầu khá giống một đợt cảm cúm nặng. Sau khi tự uống thuốc hạ sốt, tình trạng có giảm tạm thời nhưng nhanh chóng tái phát.
Sau khoảng 1 tuần điều trị tại bệnh viện địa phương, tình trạng sức khoẻ của ông đột ngột xấu đi. Bệnh nhân bắt đầu khó thở, rối loạn ý thức.
Kết quả chụp CT cho thấy 2 phổi bị nhiễm trùng nặng, gần như "trắng xóa" . Dù đã được hỗ trợ thở máy nhưng tình trạng oxy máu vẫn không cải thiện. Nhờ can thiệp bằng ECMO, các bác sĩ mới tạm thời ổn định được dấu hiệu sinh tồn cho bệnh nhân.
Bác sĩ Thôi Khả, Trưởng khoa Hồi sức tích cực của bệnh viện, cho biết quá trình diễn tiến bệnh ở bệnh nhân rất nhanh. Chỉ trong khoảng 3- 4 ngày từ khi khởi phát, bệnh nhân đã tiến triển đến suy đa cơ quan. Các loại kháng sinh thông thường gần như không có tác dụng.
Sau khi tiến hành giải trình tự gen metagenome từ dịch rửa phế nang, các bác sĩ xác định bệnh nhân mắc viêm phổi do vi khuẩn Legionella pneumophila.
Do nam bệnh nhân có nhiều bệnh nền và hệ miễn dịch suy yếu nên tình trạng đặc biệt nghiêm trọng. Sau hơn 20 ngày điều trị tích cực, kết hợp ECMO và kháng sinh đặc hiệu, bệnh nhân mới có thể cai máy thở và dần hồi phục.
Khi khai thác thêm thông tin, gia đình cho biết điều hòa trong nhà bệnh nhân lâu ngày không được vệ sinh, đồng thời ông có thói quen đóng kín cửa bật điều hòa trong thời gian dài. Theo bác sĩ, đây có thể chính là nguồn lây nhiễm.
Theo tìm hiểu, bệnh viêm phổi do bị nhiễm loại vi khuẩn Legionella thể nặng được gọi là bệnh legionnaires. Bệnh xảy ra khi hít phải mầm bệnh vi khuẩn trong hơi nước và bụi trong môi trường bị ô nhiễm.
Khi bị mắc bệnh, người bệnh thường có các triệu chứng như sốt, ớn lạnh, ho và thở hụt hơi hay khó thở. Một số trường hợp có thể bị đau nhức bắp thịt, nhức đầu, mệt mỏi, ăn không ngon và đi tiêu chảy. Tuy vậy bệnh có thể diễn biến nặng do viêm phổi, phần lớn được hồi phục sau điều trị, nhưng có khi dẫn đến tử vong.
Trên thực tế mặc dù có nhiều loại vi khuẩn legionelle khác nhau, nhưng 2 loại thường hay gây bệnh được ghi nhận ở tiểu bang New South Wales tại Úc là legionella pneumophila và legionella longbeachae.
Vi khuẩn legionella pneumophila xâm nhập vào tháp làm lạnh của hệ thống điều hòa không khí, hồ nước hay bồn nước phun sục luồng nước, vòi tắm hoa sen và những vùng ao hồ, sông suối khác. Vi khuẩn Legionella longbeachae xâm nhập vào đất hoặc đất trộn với phân bón để trồng cây trong chậu.
Con người thường có thể tiếp xúc với khi khuẩn này ở nhà, tại nơi làm việc hoặc ngay cả ở chỗ công cộng; chúng có thể xâm nhập vào cơ thể để gây bệnh. Đặc điểm của bệnh legionnaires là không có khả năng lây lan từ người này sang người khác. Thời gian từ lúc tiếp xúc với mầm bệnh vi khuẩn cho đến lúc khởi phát bệnh với các triệu chứng lâm sàng đã nêu ở trên trong khoảng từ 2 đến 10 ngày.
Triệu chứng lâm sàng do nhiễm vi khuẩn legionella thay đổi tùy thuộc vào từng thể bệnh.
Sốt pontiac là thể nhẹ của bệnh không kèm theo viêm phổi. Biểu hiện lâm sàng dễ nhầm lẫn cảm cúm cấp tính với sốt cao, ớn lạnh, mệt mỏi, đau cơ toàn thân, nhức đầu... Bệnh thường tự giới hạn và khỏi trong khoảng vài ngày và không ghi nhận được trường hợp nào bị tử vong nào khi mắc phải sốt pontiac.
Trái lại, bệnh legionnaires là một thể bệnh nặng với biểu hiện viêm phổi khá phổ biến. Thời gian ủ bệnh thay đổi, có những trường hợp kéo dài trên 10 ngày. Các triệu chứng trong giai đoạn sớm thường bao gồm sốt, mệt mỏi, nhức đầu, chán ăn, rối loạn tiêu hóa... Ở giai đoạn sau, bệnh nhân thường ho, hơn 50% trường hợp ho có đờm, có khi ho ra máu, kèm theo đau ngực, hụt hơi, thậm chí ghi nhận cả các thay đổi về tâm thần.
Khi bị bệnh legionnaires cần nhanh chóng nhập viện để điều trị, nếu không, có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng, bao gồm cả di chứng về não. Bệnh diễn biến rất nhanh, người bệnh thường tử vong trong tình trạng suy hô hấp cấp tính do viêm phổi tiến triển, có thể kèm theo sốc và suy đa cơ quan.
Vì vậy, khi có các triệu chứng lâm sàng nghi ngờ, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được chẩn đoán kịp thời và chính xác.
Ông T.V.B (49 tuổi, Tp.HCM) vừa được phát hiện u thận trong một lần khám sức khỏe định kỳ tại Bệnh viện An Bình, Tp.HCM dù trước đó chỉ có biểu hiện tiểu ra máu thoáng qua và không gây khó chịu rõ rệt.
ThS.BS Trần Quốc Phong, trưởng Đơn vị Tiết niệu Bệnh viện An Bình chia sẻ với Người Lao Động, bệnh nhân trước đó thỉnh thoảng nhận thấy nước tiểu có màu đỏ nhạt nhưng do không đau, không sốt nên nghĩ rằng đó chỉ là tình trạng tạm thời do nóng trong người hoặc thay đổi chế độ ăn uống. May mắn là trong một lần khám tổng quát định kỳ, siêu âm bụng tổng quát tại bệnh viện đã phát hiện bất thường tại thận, từ đó chỉ định chụp cắt lớp vi tính để đánh giá rõ hơn. Kết quả cho thấy một khối u khu trú tại cực dưới thận, chưa xâm lấn ra ngoài, chưa ảnh hưởng đến các cơ quan lân cận.
Sau khi thăm khám và làm các xét nghiệm, các bác sĩ cho rằng trường hợp này cần phẫu thuật bảo tồn thận là phương pháp điều trị được ưu tiên. Thay vì cắt bỏ toàn bộ thận, BS chỉ lấy đi phần khối u và giữ lại phần thận lành. Điều này đặc biệt quan trọng, bởi chức năng thận có vai trò thiết yếu trong việc lọc máu, điều hòa điện giải và duy trì cân bằng nội mô. Bảo tồn được thận đồng nghĩa với việc giảm nguy cơ suy thận về sau, đặc biệt khi người bệnh bước vào tuổi trung niên và có thể đối mặt với các bệnh lý mạn tính khác.
Một thực trạng đáng lo ngại hiện nay là nhiều người dân vẫn còn chủ quan với các triệu chứng như tiểu máu. Không ít trường hợp cho rằng nước tiểu có màu đỏ là do nóng trong do ăn uống hoặc do lao động nặng, từ đó tự ý mua thuốc về uống mà không đi khám. Điều này vô tình làm chậm trễ thời điểm chẩn đoán, khiến bệnh tiến triển âm thầm.