Nằm ngay dưới chân núi Đính thuộc quần thể chùa Bái Đính, phường Tây Hoa Lư (Ninh Bình), giếng Ngọc có hình mặt nguyệt, đường kính mặt giếng rộng 30m, sâu 10m, xung quanh miệng giếng được xây bằng đá núi Đính. Nước giếng có màu xanh ngọc bích được ví như mặt trăng non và không bao giờ cạn nước nên được nhân dân gọi là “giếng thần” hay “mắt rồng”.
Tương truyền, xưa kia giếng là nơi thiền sư Nguyễn Minh Không đã lấy nước để sắc thuốc chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông và nhân dân trong vùng. Giếng Ngọc đã tồn tại cách đây gần 1.000 năm.
Theo đại diện chùa Bái Đính, giếng Ngọc là một mạch nước ngầm và được người dân địa phương gọi là “lỗ lùng” (ổ gà). Xưa kia, khi quốc sư Minh Không tu tập ở trên núi đã đào nơi đây thành giếng và dùng nước ở giếng để sắc thuốc chữa bệnh cho vua và nhân dân. Đến năm 2007, giếng Ngọc được nâng cấp mở rộng ra như hiện tại.
Cũng theo đại diện nhà chùa, giếng Ngọc còn được gọi là nhãn long lộ thiên, tức “mắt rồng ở chân núi”; từ xa xưa các cụ cao niên trong vùng gọi đây là long mạch của chùa. Cùng với trên núi Đính, ở trong hang tối có ao tiên “mắt rồng ẩn sơn”, tạo nên 2 mắt rồng (một mắt ở chân núi, một mắt trên đỉnh núi) và ở Việt Nam hiếm có ngôi chùa nào có hệ thống mắt rồng như chùa Bái Đính.
Theo Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Ninh Bình Trương Đình Tưởng, nguồn nước ở giếng Ngọc được hội tụ chảy ngầm từ hang núi ở thung thuốc, khu vực trồng thuốc xưa của thiền sư Minh Không. Người dân từng chứng minh điều này bằng cách thả quả bóng từ hang núi khi trời mưa lớn, quả bóng sẽ theo mạch ngầm trôi xuống đúng vị trí giếng Ngọc.
Giếng Ngọc nằm trong khuôn viên hình vuông rộng khoảng 6.000m2, và 4 góc của khuôn viên được xây dựng 4 lầu bát giác. Giếng hình tròn tượng trưng cho trời, khuôn viên được xây hình vuông tượng trưng cho đất và đó là sự giao thoa của trời đất.
Cái tên giếng Ngọc xuất phát từ xa xưa; về ban đêm, động trời, nước long lanh phản chiếu lên bầu trời những ánh sáng tạo thành vầng như những viên ngọc ngũ sắc.
Năm 2007, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã xác nhận kỷ lục “Ngôi chùa có giếng lớn nhất Việt Nam” và từ đó giếng Ngọc cũng được mệnh danh là giếng nước lớn nhất Việt Nam.
Mỗi dịp lễ hội chùa Bái Đính đầu xuân, hàng nghìn du khách lại đổ về đây không chỉ để vãn cảnh mà còn để xin nước giếng Ngọc. Với người dân địa phương và du khách, dòng nước xanh mát này không chỉ là nguồn sinh thủy mà còn mang theo lời nguyện cầu về bình an, sức khỏe và may mắn.
Tham dự lễ phát động có lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đại diện các bộ, ban, ngành Trung ương; các tổ chức quốc tế; cộng đồng doanh nghiệp công nghệ cùng đông đảo phụ huynh, học sinh.
Chương trình có sự đồng hành từ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam (VietinBank).
Sự kiện cũng mở đầu cho chiến dịch quy mô toàn quốc, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm kiến tạo một thế hệ "công dân số" Việt Nam an toàn và bản lĩnh.
Bám sát tinh thần xây dựng một xã hội số an toàn, lành mạnh, Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 đánh dấu sự chuyển dịch quan trọng trong chiến lược quốc gia về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Theo đó, thay vì chủ yếu xử lý sự vụ sau khi phát sinh, chương trình hướng tới phương thức chủ động phòng ngừa, nhận diện và ngăn chặn rủi ro từ sớm, từ xa; từng bước xây dựng không gian mạng an toàn, thân thiện cho trẻ em.
Trong giai đoạn mới, chương trình tiếp tục cụ thể hóa các giải pháp ở tầm vĩ mô, đồng thời tăng cường tính thực tiễn trong quá trình triển khai. Trong đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng được xác định là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả bảo vệ, hỗ trợ trẻ em trên môi trường số.
Từ đó, hướng tới cột mốc năm 2030: Phấn đấu 100% cơ sở giáo dục phổ thông được triển khai giải pháp an ninh mạng hỗ trợ quản lý hoạt động và bảo vệ học sinh; Đảm bảo 100% doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet (ISP) tại Việt Nam tích hợp giải pháp ngăn chặn thông tin độc hại ngay trên đường truyền mạng; Triển khai tại 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương các giải pháp công nghệ hỗ trợ giáo dục kỹ năng số, tư vấn và hỗ trợ thông minh cho trẻ em; Bảo đảm 100% trẻ em là nạn nhân bị xâm hại trên môi trường mạng được hỗ trợ, can thiệp kịp thời khi có yêu cầu từ bản thân, người thân hoặc cộng đồng xã hội.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa công bố dự thảo Thông tư ban hành Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho người có nguyện vọng trở thành giáo viên tại các cơ sở giáo dục phổ thông, nhằm lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và Cổng Thông tin điện tử của Bộ.
Dự thảo Thông tư được xây dựng để thay thế Thông tư số 11 và Thông tư số 12 ban hành ngày 5/4/2021, với nhiều điều chỉnh theo hướng linh hoạt, cập nhật và sát thực tiễn hơn.
Một trong những điểm đáng chú ý là việc mở rộng đối tượng tham gia bồi dưỡng. Nếu như trước đây, chương trình chỉ áp dụng với người đã tốt nghiệp đại học, thì theo dự thảo mới, sinh viên đã hoàn thành tối thiểu 70% khối lượng chương trình đào tạo thuộc ngành phù hợp cũng có thể tham gia.
Quy định này áp dụng cho nhiều môn học, đặc biệt là các môn đặc thù ở tiểu học như Nghệ thuật (Âm nhạc, Mỹ thuật), Tin học và Công nghệ, Giáo dục thể chất, Ngoại ngữ, cũng như các môn ở bậc THCS và THPT.
Theo Bộ GDĐT, việc mở rộng đối tượng không chỉ giúp rút ngắn thời gian đào tạo, chuẩn bị sớm nguồn giáo viên mà còn góp phần thu hút nhân lực vào ngành, nhất là trong bối cảnh nhiều địa phương đang thiếu giáo viên ở một số môn học.
Dự thảo cũng thể hiện rõ định hướng chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực. Chương trình được thiết kế theo các nhóm năng lực cốt lõi như năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực quan hệ xã hội và phát triển cộng đồng, năng lực phát triển bản thân.
Qua đó, người học không chỉ được trang bị kiến thức sư phạm mà còn nâng cao khả năng tư vấn học sinh, phối hợp với gia đình và cộng đồng, cũng như đổi mới phương pháp giảng dạy.
Đáng chú ý, lần đầu tiên các nội dung về ứng dụng công nghệ số trong dạy học, dạy học trực tuyến, sử dụng nền tảng số và trí tuệ nhân tạo (AI) được đưa vào chương trình bồi dưỡng. Đây được xem là bước cập nhật cần thiết, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay.
Về cấu trúc, chương trình dự kiến gồm 32 tín chỉ, giảm so với quy định trước đây, trong đó 12 tín chỉ kiến thức chung và 20 tín chỉ kiến thức chuyên ngành, thực tập sư phạm.
Dự thảo nhấn mạnh việc tăng tỷ trọng thực hành, chú trọng các kỹ năng nghề nghiệp như thiết kế bài giảng, quản lý lớp học, xử lý tình huống sư phạm và tổ chức hoạt động giáo dục.
Ngoài ra, người học được phép lựa chọn học phần theo nhu cầu và định hướng nghề nghiệp, phù hợp với từng cấp học và môn học, góp phần cá nhân hóa quá trình bồi dưỡng.
Để bảo đảm chất lượng đầu ra, dự thảo quy định thời gian thực hiện chương trình tối thiểu là 10 tháng. Trường hợp được miễn trừ một số học phần, thời gian học có thể được rút ngắn tương ứng.
Năm 2026, Bộ GD&ĐT dự kiến tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT sớm hơn mọi năm, diễn ra trong 2 ngày 11-12/6. Do đó, lịch thi vào lớp 10 tại các tỉnh, thành trên cả nước cũng có sự điều chỉnh.
Học sinh Nghệ An dự kiến biết kết quả sớm nhất, vào 4/6, tức chỉ hơn một tuần sau kỳ thi. Kế đó là Quảng Trị (ngày 6/6) và Lai Châu (7/6).
Nhiều địa phương khác công bố điểm thi lớp 10 sau đó vài ngày, gồm: Hà Tĩnh, Hưng Yên, Lào Cai, Ninh Bình... Nhóm này đều tổ chức thi vào cuối tháng 5, đầu tháng 6.
Một số tỉnh, thành tổ chức vào cuối tháng 6 thường công bố kết quả trong tháng 7, như: Cần Thơ, Gia Lai, Lâm Đồng, Vĩnh Long.
Lịch công bố điểm thi, điểm chuẩn lớp 10 năm 2026 của 34 tỉnh, thành như sau:
Trước đó, Bộ GD&ĐT ban hành khung kế hoạch thời gian năm học 2025-2026 đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Trong đó, Bộ yêu cầu các trường xét công nhận hoàn thành chương trình tiểu học và xét công nhận tốt nghiệp THCS trước ngày 30/6. Công tác tuyển sinh các lớp đầu cấp dự kiến hoàn thành trước ngày 31/7.