Những ngày này, tại các điểm thu mua mo cau ở xã Thiện Tín, không khí mua bán khá sôi động. Người dân mang từng bó mo cau khô tập kết để bán cho thương lái và cơ sở sản xuất.
Bà Trịnh Thị Xí (67 tuổi, trú xã Thiện Tín) cho biết trước đây mo cau thường bị gom lại rồi đốt bỏ vì không ai sử dụng. Vài năm trở lại đây, khi có người thu mua, nhiều hộ dân bắt đầu tận dụng để kiếm thêm thu nhập.
“Người già ở quê như tôi giờ có thêm việc để làm. Trước kia mo cau bỏ đi hết, giờ nhặt bán cũng có đồng ra đồng vào”, bà Xí nói.
Theo bà Xí, công việc chủ yếu là đi nhặt mo cau trong vườn, lựa những mo còn nguyên, không bị mốc hay rách rồi cắt bỏ phần lá và đem phơi khô trước khi bán.
Mỗi mo cau hiện được thu mua khoảng 1.000 đồng. Dù số tiền không lớn nhưng với nhiều lao động lớn tuổi hoặc người làm nông, đây là nguồn thu nhập phụ đáng kể trong thời gian nông nhàn.
Không chỉ người lớn tuổi, nhiều hộ dân có diện tích trồng cau cũng tranh thủ thu gom mo cau thay vì bỏ đi như trước. Theo tính toán, với 1 ha cau, mỗi năm có thể thu được khoảng 10.000 mo cau; trong đó khoảng 6.000 – 7.000 mo đạt tiêu chuẩn để bán.
Nhờ vậy, ngoài nguồn thu từ quả cau, người dân có thể tăng thêm khoảng 6 – 7 triệu đồng mỗi năm từ phần phế phẩm vốn từng không có giá trị.
Việc tận dụng mo cau cũng góp phần hạn chế tình trạng đốt bỏ gây khói bụi ở nhiều vùng quê, đồng thời hình thành thói quen tái sử dụng phế phẩm nông nghiệp để tạo giá trị kinh tế.
Người khởi đầu mô hình sản xuất chén, dĩa từ mo cau tại Quảng Ngãi là anh Nguyễn Văn Tuyến (43 tuổi), Giám đốc Công ty TNHH Mega Eco ở xã Nghĩa Hành.
Anh Tuyến cho biết trong quá trình tìm hiểu các sản phẩm xanh trên thị trường, anh biết tại Ấn Độ, mo cau được sử dụng để sản xuất đồ dùng sinh hoạt thay thế nhựa dùng một lần. Nhận thấy Quảng Ngãi có vùng nguyên liệu lớn, anh quyết định thử sức với hướng đi mới.
Năm 2020, anh nhập máy móc từ Ấn Độ về, thuê vài lao động địa phương để bắt đầu sản xuất. Tuy nhiên, thời gian đầu gặp rất nhiều khó khăn. “Lúc mới triển khai, nhiều người không tin mo cau có thể bán được nên việc thu mua nguyên liệu rất vất vả”, anh Tuyến nhớ lại.
Không chỉ thiếu nguyên liệu, đầu ra sản phẩm cũng gặp nhiều trở ngại vì các sản phẩm làm từ mo cau còn khá xa lạ với thị trường trong nước.”Có thời điểm gần như không bán được hàng. Mang sản phẩm đi giới thiệu nhiều nơi nhưng ít người quan tâm”, anh Tuyến nói.
Dù vậy, anh vẫn tiếp tục theo đuổi mô hình bởi tin rằng xu hướng tiêu dùng thân thiện môi trường sẽ phát triển mạnh trong tương lai. Sau thời gian tìm kiếm thị trường, doanh nghiệp bắt đầu đẩy mạnh quảng bá trên mạng xã hội, đồng thời giới thiệu quy trình sản xuất tự nhiên, không sử dụng hóa chất.
Theo quy trình sản xuất, mo cau sau khi thu gom sẽ được làm sạch, ngâm mềm rồi đưa vào máy ép nhiệt khoảng 40 giây để tạo hình. Sau đó, sản phẩm được cắt gọt theo khuôn để hoàn thiện thành chén, dĩa hoặc khay đựng thực phẩm.
Nhờ đặc tính thân thiện môi trường, sản phẩm dần được thị trường đón nhận. Đơn hàng bắt đầu tăng, đặc biệt từ các thị trường như Mỹ, Hà Lan, Hàn Quốc và Canada.
Đầu năm 2023, anh Tuyến thành lập Công ty TNHH Mega Eco để mở rộng quy mô sản xuất và phát triển thương hiệu. Hiện doanh nghiệp sản xuất hơn 30 dòng sản phẩm từ mo cau với giá dao động khoảng 2.000 – 3.000 đồng/sản phẩm. Các mặt hàng tiêu thụ tốt gồm dĩa vuông, chén vuông và khay đựng thực phẩm.
Theo anh Tuyến, sản phẩm từ mo cau có độ cứng tốt, không thấm nước và có thể sử dụng để đựng thực phẩm, trái cây hoặc gia vị. Sau khi hoàn thiện, sản phẩm được khử khuẩn và đóng gói trước khi đưa ra thị trường.
Nếu như trước đây thị trường nội địa còn dè dặt thì hiện nay sức tiêu thụ đã tăng đáng kể. Nhiều hệ thống lớn như AEON hay hãng hàng không Vietjet Air đã sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.
Hiện tại, các sản phẩm của công ty anh Tuyến đã xuất đi thị trường 5 quốc gia gồm: Hà Lan, Mỹ, Hàn Quốc, Canada, Nhật Bản.
Theo kế hoạch, trong năm 2026, công ty dự kiến cung ứng ra thị trường khoảng 4,5 triệu sản phẩm từ mo cau. Sau hơn 6 năm theo đuổi mô hình, doanh nghiệp hiện tạo việc làm ổn định cho khoảng 25 lao động địa phương. Bên cạnh đó, khoảng 20 điểm thu mua mo cau cũng giúp hàng trăm hộ dân có thêm thu nhập.
Chương trình do Đoàn phường Chánh Hưng (TP.HCM, khu vực quận 8 trước đây) phối hợp với Đội chữa cháy và cứu nạn cứu hộ khu vực 8 tổ chức, tạo sân chơi bổ ích trong dịp hè. Qua đó trang bị kiến thức, kỹ năng về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho thiếu nhi.
Tại chương trình, hơn 100 em thiếu nhi, đoàn viên, thanh niên đã được các cán bộ, chiến sĩ trực tiếp tuyên truyền, hướng dẫn những kiến thức cơ bản về công tác phòng cháy, chữa cháy; kỹ năng thoát nạn khi xảy ra cháy, nổ; cách sử dụng một số phương tiện chữa cháy thông dụng và tham gia nhiều hoạt động trải nghiệm thực tế đầy hấp dẫn.
Các "chiến sĩ nhí" đã được trải nghiệm cách ứng phó khi gặp cháy nổ, cách sử dụng bình chữa cháy, thang dây, thiết bị phòng cháy để thoát hiểm…
Em Nguyễn Ngọc Tuyền (khu phố 8, phường Chánh Hưng) thích thú khi được các chiến sĩ hướng dẫn cách dùng bình chữa cháy và vòi rồng.
"Lần đầu tiên em biết cách dùng bình chữa cháy và hiểu được những vất vả của các chú công an phòng cháy chữa cháy. Em luôn nhớ khi gặp sự cố cháy nổ ngoài việc hô to kêu cứu mình phải tìm cách gọi 114 để các chú cảnh sát phòng cháy chữa cháy kịp thời đến cứu", Tuyến nói.
Chị Đoàn Thị Thúy Hằng - Phó bí thư Đoàn phường Chánh Hưng - chia sẻ: "Tham gia chương trình, các em không chỉ được rèn luyện kỹ năng sống, nâng cao ý thức phòng ngừa cháy, nổ mà còn hiểu hơn về những khó khăn, vất vả và sự hy sinh thầm lặng của lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ.
Nhờ đó góp phần bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân. Hy vọng các em cũng sẽ trở thành một tuyên truyền viên tại gia đình, nơi sinh sống".
Người khuyết tật hiểu cảm giác bất lực khi cơ thể không còn nghe lời, hiểu những ánh nhìn thương hại pha lẫn tò mò, hiểu cả những lần muốn buông xuôi mà không dám nói thành lời.
Có không ít nhân vật như Nguyễn Ngọc Nhứt, Lưu Nguyễn, Trần Trà My mà phía sau khiếm khuyết thân thể là một nghị lực sống lớn lao. Họ không chỉ tìm cách đứng vững cho riêng mình mà quay lại chìa tay với những người giống mình.
Chàng trai Nguyễn Ngọc Nhứt (quê Cần Thơ) đã biến bất hạnh thành động lực sống, làm việc, kết nối, chia sẻ và mở ra không gian để người cùng cảnh có thể tìm thấy nhau. Trong khi nhà văn 8X Trần Trà My (quê Quảng Trị) không thể tự đi bằng đôi chân đã chọn bước tiếp bằng chữ nghĩa. Viết với My không chỉ là biểu đạt mà là cách giữ mình không chìm xuống, bước ra khỏi trang văn như điểm tựa tinh thần cho nhiều người.
Lưu Nguyễn hay nhiều bạn trẻ khuyết tật khác tạo nhóm, mở lớp chia sẻ kỹ năng, hỗ trợ nhau tìm việc...
Chưa phải là điều quá lớn trong xã hội song nếu nhìn từ cộng đồng người khuyết tật có thể ấy là những "chiếc phao". Đi qua những thiệt thòi của phận mình, họ giúp người không bằng lòng thương hại mà chính là trải nghiệm. Không ai dạy họ phải mạnh mẽ nhưng họ buộc phải mạnh mẽ để tồn tại, để có thể chìa những bàn tay thật ấm với người đồng cảnh.
Người khuyết tật vẫn thường bị đặt ở vị trí "được giúp đỡ", hiếm khi được nhìn nhận như những chủ thể có khả năng đóng góp. Chính sách hỗ trợ đâu đó vẫn còn tư duy ban phát thay vì tạo điều kiện để họ tự đứng lên. Thế nên những mô hình người khuyết tật giúp người khuyết tật có thể xem là cách đặt ra gợi ý chính sách hãy trao quyền nhiều hơn cho người khuyết tật.
Họ không cần được thương hại mà cần được tin tưởng, cần những diễn đàn để họ tự nói, tự làm, tự dẫn dắt, tự kiến tạo chứ không phải là ai đó nói thay. Điều này vốn dĩ không chỉ người khuyết tật mới cần mà thực ra cộng đồng đều mong muốn. Tinh thần "tự cứu và cứu nhau" là điều đáng để suy ngẫm. Có lần nhà văn Trà My từng tự nhận không nghĩ rằng mình truyền cảm hứng gì đâu, chỉ là bạn đang sống tiếp thôi! Nhưng chính niềm tin "sống tiếp" trong hoàn cảnh không dễ dàng ấy đã trở thành nguồn cảm hứng thật sự với bao người.
Đã đến lúc thay vì chỉ nhìn họ như những người cần được giúp, chúng ta cần nhìn họ như những người đang giúp nhau theo cách của riêng họ. Biết đâu chính từ những con người tưởng như yếu thế ấy, xã hội lại học được nhiều nhất về sức mạnh của con người.
Trong lĩnh vực việc làm, chỉ 7,8% người khuyết tật nặng có việc làm, so với hơn 78% ở người không khuyết tật.
Những con số này không chỉ phản ánh khoảng trống và sự thiếu hụt những cơ hội cho người khiếm thính, mà còn cho thấy một hệ thống vẫn còn nhiều khoảng cách để giúp người khiếm thính hòa nhập.
Tại Việt Nam, mặc dù đã có những chính sách hỗ trợ người khuyết tật, việc phát hiện và can thiệp sớm đối với trẻ khiếm thính vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở cấp cộng đồng.
Nhiều trẻ khuyết tật nghe, nói tại Việt Nam không được phát hiện và can thiệp sớm. Việc thiếu tiếp cận ngôn ngữ (ngôn ngữ ký hiệu hoặc ngôn ngữ nói có hỗ trợ) trong những năm đầu đời dẫn đến "nghèo ngôn ngữ", ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy và khả năng học tập.
Hệ quả là trẻ khó theo kịp chương trình học hòa nhập, tỉ lệ bỏ học cao, cơ hội học nghề bị thu hẹp ngay từ đầu.
Về cơ hội việc làm, nhiều người khuyết tật nghe, nói có khả năng làm việc tốt, thậm chí có những lợi thế như tập trung cao, khéo léo, nhưng họ vẫn gặp rào cản trong việc tiếp cận việc làm. Có thể kể đến thiếu dịch vụ phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu (hoặc kinh phí cao và rất khó có thể chi trả cho các khoản này), doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp nhận và điều chỉnh môi trường làm việc, định kiến không giao tiếp được nghĩa là không làm việc được,
Điều này khiến nhiều người phải chọn tự làm việc nhỏ lẻ, không ổn định, không được bảo vệ quyền lợi lao động.
Trong không gian công cộng, người khiếm khuyết như bị "vô hình hóa".
Ở nhiều nơi công cộng như nhà ga, sân bay chưa có các điều chỉnh tiếp cận thông tin với người khuêts tật nghe, nói, thông báo thiếu phụ đề, thiếu ngôn ngữ ký hiệu, thiết kế dịch vụ chưa tính đến người không nghe được. Khi đó, người khiếm thính trở thành người ngoài cuộc ngay trong chính xã hội của mình.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất là nhận thức. Gần đây các chương trình trên tivi có phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu, mọi người đã biết hơn về cộng đồng này. Nhưng vẫn còn đó quan điểm rằng người khuyết tật nghe, nói "kém thông minh", không thể học cao, không thể làm việc chuyên môn.
Thực tế trên thế giới đã có nhiều chứng minh về khả năng của người điếc/khiếm thính có thể trở thành giáo viên, nghệ sĩ, kỹ sư, doanh nhân. Tại Việt Nam cũng có một số bạn điếc/khiếm thính đã tốt nghiệp đại học, đi làm và thậm chí có bạn còn đi du học, lấy bằng thạc sĩ tại nước ngoài. Con số tuy chưa cao nhưng đấy cũng là một điều khích lệ và điều đó cũng chỉ ra vấn đề không phải là khả năng - mà là cơ hội và môi trường.
Phát hiện sớm và can thiệp sớm giúp trẻ điếc/khiếm thính và gia đình định hướng sớm và thực hiện việc can thiệp sớm nhằm rút ngắn khoảng cách về ngôn ngữ cho trẻ so với các trẻ không khiếm thính khác.
Ngoài ra cần có chính sách sàng lọc sơ sinh, hỗ trợ cha mẹ học giao tiếp với con (ký hiệu hoặc nói).
Giao tiếp là chìa khóa của thành công, vì vậy nếu chúng ta giải quyết được các vấn đề trên thì đây là "chìa khóa vàng" quyết định 70-80% khả năng hòa nhập sau này của trẻ.
• Đào tạo giáo viên giáo dục đặc biệt - chuyên ngành.
• Có trợ giảng hoặc phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu.
• Phát triển song ngữ: ngôn ngữ ký hiệu và tiếng Việt.
• Nên thống nhất ngôn ngữ ký hiệu phổ thông tại Việt Nam.
• Có các chương trình hướng dẫn cha mẹ giúp trẻ khuyết tật nghe, nói phát triển giao tiếp và ngôn ngữ tại gia đình, nâng cao năng lực cho cha mẹ trong việc đồng hành nuôi dạy trẻ khiếm thính.
• Xây dựng mô hình "nơi làm việc hòa nhập".
• Đào tạo nội bộ về giao tiếp với người khuyết tật nghe, nói.
• Có chính sách tuyển dụng rõ ràng.
Người khuyết tật nghe, nói chiếm một lực lượng không nhỏ, vì vậy nếu khai khác được và giúp họ các kiến thức kỹ năng để có thể bước chân vào thị trường lao động thì sẽ giải quyết được hơn cả một vấn đề việc làm mà cả vấn đề an sinh, hướng đến cuộc sống độc lập, bình đẳng cho người khuyết tật nghe, nói và tận dụng được nguồn nhân lực đang bị bỏ quên.
• Tăng nội dung có phụ đề, ngôn ngữ ký hiệu.
• Kể câu chuyện thành công.
• Đưa hình ảnh người khuyết tật vào đời sống bình thường, không phải "ngoại lệ".
Người khuyết tật nghe, nói không cần sự thương hại. Họ cần cơ hội để được lắng nghe, theo cách của riêng mình. Một xã hội hòa nhập không phải là nơi người khuyết tật nghe, nói phải nỗ lực gấp đôi để "theo kịp", mà là nơi mọi người cùng bước chậm lại một chút để đi cùng nhau.