Để có cơ sở pháp lý cho khách hàng sử dụng điện áp dụng giá bán lẻ điện theo khung giờ cao điểm – thấp điểm mới phù hợp với biểu đồ phụ tải của hệ thống điện quốc gia, Bộ Công Thương đề xuất sửa đổi Thông tư số 60 để áp dụng khung giờ cao thấp điểm mới tại Quyết định 963 trong mùa nắng nóng năm nay.
Theo dự thảo tờ trình sửa đổi Thông tư 60, khung giờ cao thấp điểm của hệ thống điện quốc gia được áp dụng đến nay là 12 năm. Tuy nhiên, từ năm 2019, với sự thâm nhập mạnh mẽ và tăng nhanh tỉ trọng của nguồn điện mặt trời, biểu đồ huy động công suất các loại hình nguồn điện có sự thay đổi đáng kể.
Cùng đó, cơ cấu tiêu thụ điện cũng thay đổi lớn, khi tiêu thụ điện của khách hàng công nghiệp tăng từ gần 30% lên hơn 50% tổng điện thương phẩm. Trong khi đó, tiêu dùng điện của nhóm dân dụng – sinh hoạt giảm từ 50% xuống còn gần 33%.
Thêm nữa, cơ cấu nguồn điện đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió. Việc xác định hợp lý các khung giờ cao – thấp điểm giúp tối ưu hiệu quả sử dụng năng lượng.
Với cơ chế mới, các khách hàng sử dụng điện sẽ điều chỉnh hành vi tiêu thụ để giảm chi phí, giảm sử dụng giờ cao điểm và chuyển dịch sang khung giờ thấp điểm, giờ bình thường, từ đó giúp giảm áp lực cho hệ thống điện.
Ngoài ra, việc điều chỉnh khung giờ cao điểm, thấp điểm giúp khuyến khích chủ đầu tư nguồn năng lượng tái tạo phát triển thêm thiết bị lưu trữ. Từ đó giúp nâng cao hiệu quả vận hành hệ thống điện, giảm áp lực huy động các nguồn truyền thống vào giờ cao điểm, hạn chế tình trạng thừa công suất vào giờ thấp điểm.
Với khung giờ mới được Bộ Công Thương ban hành theo Quyết định 963, đặt trong bối cảnh cung ứng điện gặp khó khăn, bộ kỳ vọng sẽ là một trong những giải pháp hiệu quả góp phần giảm nguy cơ mất cân bằng cung cầu điện, nhất là vào khung giờ cao điểm chiều.
Tuy nhiên, điểm vướng mắc lớn nhất là theo quy định hiện hành, việc áp dụng khung giờ cao thấp điểm sẽ thực hiện kể từ ngày điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân gần nhất. Nhưng kể từ ngày 10-5-2025 đến nay, giá bán lẻ điện chưa thực hiện việc điều chỉnh. Vì vậy, Bộ Công Thương đề xuất sửa đổi Thông tư 60 nhằm quy định hiệu lực thi hành ngay với khung giờ cao thấp điểm.
Để thực hiện, Bộ Công Thương đề nghị Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO) có báo cáo, phân tích về lợi ích tổng thể liên quan vận hành hệ thống điện khi áp dụng khung giờ cao thấp điểm mới kèm theo số liệu ước lượng tác động, lợi ích mang lại.
Bộ giao Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các Tổng công ty điện lực trực thuộc có đánh giá tác động đến chi phí tiền điện của các khách hàng sử dụng điện khi áp dụng khung giờ cao thấp điểm mới tại Quyết định 963 và các tác động liên quan.
Diễn biến cung cầu điện những ngày qua theo thông tin của NSMO, thời tiết cực đoan và nắng nóng kéo dài khiến cho tiêu thụ điện liên tục thiết lập kỷ lục trong nhiều ngày. Số liệu cập nhật lúc 13h20 trưa 26-5, phụ tải hệ thống điện quốc gia và miền Bắc đạt lần lượt 57.590 MW và 29.385 MW.
Ngày 25-5 cũng ghi nhận sản lượng tiêu thụ điện và vận hành của toàn hệ thống điện quốc gia và miền Bắc đều xác lập kỷ lục cả công suất và sản lượng. Trong đó, công suất cực đại hệ thống điện quốc gia đạt 57.120 MW (vào thời điểm 13h40), tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2025. Sản lượng tiêu thụ điện đạt 1,171 tỉ kWh, cao hơn 5,3% so kỷ lục của năm 2025.
Giờ cao điểm tiêu thụ điện đã chuyển sang buổi tối, khi nhu cầu tăng mạnh khiến cho NSMO phải huy động các nguồn điện đắt đỏ như khí LNG và chạy dầu DO để phục vụ cho nhu cầu điện. Vì vậy, đơn vị này kiến nghị áp dụng ngay khung giờ cao thấp điểm mới trong tháng 6 để phù hợp với nhu cầu phụ tải.
Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) vừa có văn bản về việc Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) thực thi Quy định quản lý đăng ký doanh nghiệp sản xuất thực phẩm nước ngoài nhập khẩu vào Trung Quốc (Lệnh 280).
Theo Cục Xuất nhập khẩu, trước đó, ngày 18-3-2026, GACC đã ban hành Thông báo số 27 năm 2026 hướng dẫn triển khai các nội dung liên quan đến Lệnh 280. Nội dung này đã được Cục Xuất nhập khẩu chuyển tới các cơ quan liên quan.
Theo đó, đối với tài liệu đánh giá rủi ro các sản phẩm liên quan đến Lệnh 280, sản phẩm phải có thư giới thiệu chính thức của cơ quan có thẩm quyền khi đăng ký mã doanh nghiệp.
Việc xem xét được thực hiện trên cơ sở mức độ rủi ro về an toàn thực phẩm, tỉ lệ lô hàng nhập khẩu không đạt yêu cầu, các sự cố an toàn thực phẩm nghiêm trọng từng phát sinh và sự phù hợp với thông lệ quốc tế.
Ngoài ra, việc không áp dụng gia hạn tự động mã đăng ký sẽ được xem xét trong trường hợp thông tin doanh nghiệp cần cập nhật và thẩm tra thủ công.
Việc đánh giá hệ thống quản lý của cơ quan có thẩm quyền và doanh nghiệp phải thực hiện thủ công, hoặc khi phát sinh sự cố đột xuất liên quan đến sản phẩm ở cấp độ quốc gia, ngành hoặc khu vực.
Đáng chú ý, theo danh mục sản phẩm và kết luận đánh giá, có 17/18 nhóm thực phẩm nhập khẩu vào Trung Quốc phải thực hiện đăng ký doanh nghiệp theo hình thức có thư giới thiệu của cơ quan có thẩm quyền.
Riêng trái cây đông lạnh không thuộc diện này, trừ một số sản phẩm có yêu cầu theo nghị định thư.
Về cơ chế gia hạn, đa số nhóm sản phẩm được phép gia hạn tự động. Tuy nhiên, thịt và sản phẩm từ thịt, tổ yến và sản phẩm từ tổ yến không được áp dụng gia hạn tự động do được đánh giá có rủi ro cao.
Cục Xuất nhập khẩu lưu ý, việc phân tích chi tiết rủi ro đối với 18 nhóm thực phẩm nhập khẩu vào Trung Quốc tập trung vào các khía cạnh: nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất - chế biến, vận chuyển - bảo quản, tình hình vi phạm và thông lệ quản lý quốc tế.
Cụ thể, sản phẩm yến và tổ yến cần kiểm soát nitrit, nhôm và dịch bệnh. Dầu thực vật tiềm ẩn nguy cơ nhiễm sinh vật gây hại, biến đổi gen, chỉ số axit và chỉ số peroxit. Sản phẩm bánh từ bột có nhân tiềm ẩn rủi ro về an toàn thực phẩm, vận chuyển và bảo quản.
Với gạo, danh mục "ngũ cốc dùng làm thực phẩm" được điều chỉnh thành "nhóm gạo". Các rủi ro gồm nhiễm sinh vật gây hại, dư lượng kim loại nặng (cadimi) và gạo biến đổi gen.
Rau củ sấy khô có nguy cơ tồn dư sulfur dioxide, phụ gia vượt mức cho phép và kim loại nặng.
Bột gia vị tiềm ẩn rủi ro về mốc, chỉ số axit, chỉ số peroxit vượt ngưỡng, vi khuẩn Escherichia coli O157:H7, Salmonella và ethylene oxide (ETO). Các loại hạt và hạt giống có nguy cơ về an toàn thực phẩm và lây lan dịch hại.
Với sản phẩm sữa, rủi ro gồm nguy cơ lây lan dịch bệnh từ động vật sang người và vi sinh vật gây bệnh như Listeria, Salmonella.
Thủy sản dễ gặp rủi ro về dịch bệnh, dư lượng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, vi sinh vật, ký sinh trùng, chất ô nhiễm vượt mức và ghi nhãn không phù hợp.
Riêng trái cây đông lạnh sẽ không áp dụng quản lý tiếp cận thị trường. Với các sản phẩm có yêu cầu theo nghị định thư, doanh nghiệp phải đăng ký theo hình thức có thư giới thiệu chính thức.
Ngân hàng Nhà nước mới đây ban hành Thông tư 08 liên quan đến các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Trọng tâm của văn bản này là việc điều chỉnh cách xác định tổng tiền gửi khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
Theo quy định mới, tiền gửi của các tổ chức trong và ngoài nước (bao gồm cả tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác) tiếp tục phải loại trừ một số khoản mục trước khi đưa vào mẫu số LDR. Các khoản mục bị loại trừ bao gồm: tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng của khách hàng, tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước và 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.
Như vậy, Thông tư 08 chính thức cho phép các ngân hàng thương mại tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức LDR. Phần tiền gửi không kỳ hạn của cơ quan này tiếp tục không được ghi nhận. Việc phân định cơ cấu kỳ hạn là yếu tố nền tảng, do quy định mới không áp dụng đối với toàn bộ hệ thống tiền gửi Kho bạc.
Động thái này đánh dấu sự điều chỉnh cơ chế so với lộ trình thắt chặt trước đó tại Thông tư 26/2022. Trước đây, tỷ lệ khấu trừ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khỏi mẫu số LDR được quy định tăng dần: từ 50% (năm 2023), 60% (năm 2024), 80% (năm 2025) và lên mức 100% kể từ ngày 1/1/2026. Tính đến đầu năm nay, toàn bộ dòng tiền này đã hoàn toàn nằm ngoài công thức xác định LDR.
Tỷ lệ LDR được tính bằng tổng dư nợ cho vay chia cho tổng tiền gửi được phép tính vào nguồn vốn huy động. Trong trường hợp dư nợ cho vay giữ nguyên, việc mẫu số tăng lên sẽ giúp tỷ lệ này giảm xuống.
Ví dụ, một ngân hàng có 2 triệu tỷ đồng tiền gửi và 1,5 triệu tỷ đồng dư nợ cho vay, tương ứng tỷ lệ LDR ở mức 75%. Nếu ngân hàng tiếp nhận thêm 300.000 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn từ Kho bạc Nhà nước, theo quy định mới, 20% số tiền này - tương đương 60.000 tỷ đồng được tính vào mẫu số của LDR.
Khi đó, tổng tiền gửi được phép tính tăng lên 2,06 triệu tỷ đồng, kéo tỷ lệ LDR giảm xuống còn khoảng 72,8%.
Trong bối cảnh trần LDR hiện hành là 85%, việc gia tăng 60.000 tỷ đồng ở mẫu số về lý thuyết có thể tạo thêm khoảng 51.000 tỷ đồng dư địa cho vay.
Tuy nhiên, khả năng mở rộng tín dụng trên thực tế còn phụ thuộc vào hạn mức tăng trưởng tín dụng được cấp, chất lượng tài sản, cơ cấu nguồn vốn, thanh khoản và các chỉ tiêu an toàn nội bộ của từng ngân hàng.
Ngoài ra, việc nới cách tính LDR giúp các nhà băng cải thiện tỷ lệ an toàn và có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, trong đó được hưởng lợi nhiều nhất là nhóm Ngân hàng có vốn nhà nước (Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank).
Tính tới cuối quý I, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại nhóm ngân hàng quốc doanh chiếm hơn 99% tiền gửi kho bạc toàn hệ thống. Tỷ lệ LDR của 4 ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank đều tăng trong những tháng đầu năm. Tại ngày 31/3, tỷ lệ này lần lượt ở mức 83%; 82,9%; 84,5% và 83,5%, tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
Các chuyên gia của Chứng khoán MBS nhận định tỷ lệ LDR của các ngân hàng quốc doanh có thể giảm từ 1,1-1,5% so với trước khi thay đổi chính sách. Đồng thời, dư địa cho vay mới được bổ sung tương đương khoảng 0,3-0,4% tổng dư nợ tín dụng hiện tại của toàn hệ thống.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm nay vẫn ở mức cao, trong khi áp lực giữ mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế vẫn hiện hữu. Khi huy động vốn chưa thể cải thiện nhanh, việc nới kỹ thuật trong cách tính LDR giúp các ngân hàng có thêm “không gian” để duy trì nhịp tăng trưởng tín dụng mà không tạo áp lực quá lớn lên chi phí vốn.
Bên cạnh đó, từ đầu năm nay, các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém cũng được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, qua đó tạo thêm dư địa cho vay toàn hệ thống. Tuy nhiên, theo MBS, tác động của chính sách này chủ yếu mang tính hỗ trợ cục bộ, giúp giảm áp lực thanh khoản và chi phí vốn ở một số nhà băng cụ thể, thay vì tạo thay đổi lớn trên toàn hệ thống.
Giá vàng thế giới bất ngờ đảo chiều tăng mạnh trong phiên giao dịch ngày 20/5 sau khi thị trường đón loạt tín hiệu mới từ Trung Đông. Giá dầu lao dốc gần 6%, lợi suất trái phiếu Mỹ hạ nhiệt và đồng USD suy yếu đã giúp dòng tiền quay lại với kim loại quý chỉ một ngày sau cú bán tháo mạnh.
Theo Kitco, vàng giao ngay có lúc lên quanh 4.542 USD/ounce, tăng hơn 1,3%, trong khi bạc bật gần 3%, lên khoảng 75,8 USD/ounce. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh giới đầu tư liên tục điều chỉnh kỳ vọng khi căng thẳng địa chính trị giảm nhiệt nhưng áp lực lãi suất từ Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn chưa biến mất.
Thị trường kim loại quý bật tăng trở lại sau khi căng thẳng quanh eo biển Hormuz có dấu hiệu hạ nhiệt. Theo Kitco, hai siêu tàu chở dầu Iraq hướng sang Trung Quốc đã đi qua khu vực này an toàn, trong khi một tàu chở dầu Kuwait cũng được ghi nhận đang di chuyển qua tuyến hàng hải quan trọng bậc nhất thế giới.
Ba tàu dầu vận chuyển khoảng 6 triệu thùng dầu, đánh dấu lượng dầu rời vùng Vịnh trong một ngày lớn nhất kể từ khi xung đột Mỹ - Israel với Iran leo thang hồi tháng 2. Thông tin này khiến giá dầu Brent giảm gần 6%, kéo theo áp lực lạm phát dịu xuống.
Trên thị trường tài chính, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm cũng lùi về dưới 4,6%, trong khi đồng USD suy yếu. Đây là yếu tố hỗ trợ trực tiếp cho vàng và bạc. Khi lợi suất trái phiếu giảm, chi phí cơ hội nắm giữ vàng thấp hơn, giúp kim loại quý hấp dẫn trở lại.
Tuy nhiên, biên bản cuộc họp Fed cuối tháng 4 cho thấy cơ quan này vẫn lo ngại rủi ro lạm phát liên quan tới giá năng lượng và Trung Đông. Thị trường quyền chọn hiện phản ánh khoảng 30% khả năng Fed còn tăng lãi suất trước quý I/2027.
Điều đó khiến vàng rơi vào trạng thái khá đặc biệt. Mỗi khi lợi suất tăng mạnh, giá vàng chịu áp lực điều chỉnh. Nhưng ngay khi lợi suất dịu xuống, lực mua lại xuất hiện rất nhanh.
Trong khi vàng hồi phục, chứng khoán Mỹ cũng bật tăng mạnh sau 3 phiên giảm liên tiếp. Chỉ số S&P 500 tăng 1,1%, Nasdaq tăng 1,5%, còn nhóm cổ phiếu vốn hóa nhỏ Russell 2000 bật tới 2,6%. Diễn biến này cho thấy khẩu vị rủi ro trên thị trường đang cải thiện, nhưng giới đầu tư vẫn chưa rời bỏ hoàn toàn tài sản trú ẩn như vàng.
Vàng giảm về 4.500 USD nhưng phố Wall chưa bi quan
Một trong những điểm gây chú ý nhất trên thị trường hiện nay là việc nhiều tổ chức tài chính lớn vẫn giữ quan điểm tích cực với vàng dù kim loại quý vừa điều chỉnh khá mạnh. Theo GoldSilver, Bank of America tiếp tục dự báo vàng có thể lên 6.000 USD/ounce. Với mặt bằng hiện tại quanh 4.500 USD, mức dự báo này tương đương dư địa tăng khoảng 33%.
Luận điểm của ngân hàng này tập trung vào 3 yếu tố chính gồm thâm hụt tài khóa kéo dài của Mỹ, nhu cầu mua vàng từ các ngân hàng trung ương và sự suy giảm niềm tin đối với trái phiếu kho bạc Mỹ như tài sản trú ẩn truyền thống.
Đáng chú ý, Goldman Sachs cũng không xem nhịp giảm hiện tại là tín hiệu tiêu cực. Ngân hàng này gọi vùng giá quanh 4.500 USD là “vùng tích lũy”, nơi các tổ chức lớn đang mua vào thay vì bán tháo. Theo Goldman Sachs, nhu cầu mua vàng từ ngân hàng trung ương toàn cầu hiện vẫn ở mức cao nhất nhiều thập kỷ. Đây được xem là lớp hỗ trợ quan trọng mỗi khi thị trường xuất hiện nhịp điều chỉnh ngắn hạn.
Diễn biến của bạc cũng đang phản ánh phần nào tâm lý này. Trong phiên 20/5, bạc tăng gần 3%, nhanh hơn vàng. Theo Kitco, phe mua bạc đang hướng tới vùng 76,7-77 USD/ounce, trước khi nhắm tới mốc 78 USD.
Ở chiều ngược lại, vàng hiện đang đối mặt vùng cản quan trọng quanh 4.552-4.572 USD/ounce. Nếu vượt được khu vực này, thị trường có thể hướng lên vùng 4.600 USD.
Ngoài câu chuyện lãi suất hay Trung Đông, giới phân tích cho rằng thị trường vàng hiện còn chịu tác động từ một thay đổi lớn hơn liên quan tới hệ thống giao dịch kim loại quý toàn cầu.
Theo GoldSilver, Hong Kong (Trung Quốc) dự kiến ra mắt nền tảng thanh toán bù trừ vàng mới vào tháng 7 với sự hợp tác từ Sàn giao dịch vàng Thượng Hải. Hệ thống này hỗ trợ thanh toán bằng nhân dân tệ song song với USD và hoạt động ngoài mạng lưới định giá truyền thống như LBMA hay COMEX.
Động thái này diễn ra cùng lúc với xu hướng gia tăng giao dịch hàng hóa bằng các đồng tiền ngoài USD giữa nhiều nền kinh tế lớn. Giới quan sát cho rằng những thay đổi đó chưa tác động ngay tới giá vàng trong ngắn hạn, nhưng đang tạo nền tảng nhu cầu vật chất lớn hơn cho thị trường kim loại quý trong nhiều năm tới.
Đó cũng là lý do nhiều tổ chức tài chính vẫn duy trì quan điểm lạc quan với vàng ngay cả khi giá liên tục biến động mạnh theo lợi suất và chính sách lãi suất của Fed.