Theo đó, dự thảo luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt gồm 4 chương, 40 điều, quy định nguyên tắc, chính sách, biện pháp và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống phổ biến và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Dự thảo luật áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam có liên quan đến hoạt động phòng, chống phổ biến, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Theo đó, vũ khí hủy diệt hàng loạt có khả năng gây thiệt hại trên diện rộng đối với con người, tài sản, môi trường, bao gồm vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học, vũ khí sinh học, vũ khí phóng xạ và loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự.
Phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt là hành vi cố ý thực hiện, tham gia, hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động nghiên cứu, phát triển, sản xuất, chế tạo, mua, bán, tàng trữ, vận chuyển, chuyển giao, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, trung chuyển, chuyển tải, sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc hàng hóa, vật liệu, thiết bị, công nghệ, dịch vụ liên quan đến vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc phương tiện mang vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Tài trợ cho phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt là việc cung cấp, huy động, chuyển giao, quản lý hoặc sử dụng tiền, tài sản, nguồn lực tài chính, dịch vụ tài chính, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhằm thực hiện, hỗ trợ hoạt động phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Dự thảo quy định 7 hành vi bị cấm gồm: nghiên cứu, phát triển, sản xuất, chế tạo, mua, bán, tàng trữ, lưu giữ, sở hữu, sử dụng, vận chuyển, chuyển giao vũ khí hủy diệt hàng loạt; cung cấp, huy động, chuyển giao, quản lý, sử dụng tiền, tài sản, nguồn lực tài chính, dịch vụ tài chính, hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp hoạt động phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc cung cấp cho đối tượng chỉ định, vì lợi ích của đối tượng bị chỉ định;
Lợi dụng hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ, đào tạo, hợp tác quốc tể, nhân đạo để phổ biến hoặc tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; che giấu, giả mạo, cung cấp thông tin sai lệch, tiêu hủy trái pháp luật hồ sơ, chứng từ, dữ liệu;
Cản trở, chống đối, không chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra, giám sát, áp dụng biện pháp quản lý, kiểm soát, biện pháp ngăn chặn, trừng phạt tài chính mục tiêu, phong tỏa tài sản; tiết lộ trái pháp luật bí mật nhà nước, bí mật công tác, bí mật kinh doanh, dữ liệu cá nhân, thông tin cảnh báo, thông tin điều tra, xác minh trong phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; hành vi khác theo quy định của pháp luật hoặc điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.
Dự thảo cũng quy định danh mục kiểm soát gồm: hàng hóa, vật liệu, thiết bị, công nghệ, dịch vụ có nguy cơ bị lợi dụng để phổ biến hoặc tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. Danh mục kiểm soát được xây dựng trên cơ sở: điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc có liên quan; yêu cầu bảo vệ quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Hoạt động thuộc diện quản lý, kiểm soát gồm: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh, trung chuyển, chuyển tải; nghiên cứu, phát triển, sản xuất, chế tạo, lưu giữ, sử dụng, vận chuyến, tiêu hủy; chuyển giao công nghệ, cung cấp dịch vụ; giao dịch tài chính và hoạt động khác có liên quan.
Các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hoạt động thuộc diện quản lý, kiểm soát có trách nhiệm xây dựng, áp dụng hệ thống tuân thủ nội bộ phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động, loại hình hàng hóa, công nghệ, dịch vụ và mức độ rủi ro.
Hệ thống tuân thủ nội bộ gồm: chính sách, quy trình kiểm soát nội bộ; cơ chế nhận diện, đánh giá, phân loại, quản lý rủi ro; kiểm soát người sử dụng cuối cùng, mục đích sử dụng cuối cùng, bên thụ hưởng; kiểm soát giao dịch, chuyển giao hàng hóa, công nghệ, dịch vụ; lưu giữ hồ sơ, chứng từ, dữ liệu, chế độ báo cáo; đào tạo, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người lao động.
Về chế tài xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, dự thảo quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định thì tùy tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra, cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, bao gồm: buộc chấm dứt hành vi vi phạm; buộc thu hồi, xử lý hàng hóa, vật liệu, thiết bị, công nghệ, dịch vụ, giao dịch có liên quan…
Người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn trong phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, cản trở hoạt động hợp pháp, bao che vi phạm hoặc trục lợi thì tùy tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Chiều 29.4, tại TAND TP.HCM, lãnh đạo TAND tối cao công bố quyết định phân công, bổ nhiệm Chánh án TAND TP.HCM.
Theo đó, Chánh án TAND tối cao phân công, bổ nhiệm ông Phạm Quốc Hưng (53 tuổi), Phó chánh án TAND tối cao, kiêm nhiệm chức vụ Chánh án TAND TP.HCM, thời hạn không quá 2 năm, kể từ ngày 29.4.2026.
Ông Phạm Quốc Hưng sẽ giữ chức vụ Chánh án TAND TP.HCM, thay ông Lê Thanh Phong khi ông Phong được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm thẩm phán TAND tối cao.
Ông Phạm Quốc Hưng có nhiều năm công tác tại TAND tối cao. Ông từng làm Trưởng phòng Tổng hợp văn phòng, Trưởng phòng Tổng hợp Vụ thống kê - tổng hợp, Vụ trưởng Vụ thống kê - tổng hợp.
Từ tháng 3.2019 - tháng 12.2020, khi đang làm Chánh văn phòng, thư ký Chánh án TAND tối cao, ông được điều động, bổ nhiệm giữ chức Chánh án TAND tỉnh Hòa Bình.
Sau đó, khi đang làm Chánh án TAND tỉnh Hòa Bình, ông Hưng được Quốc hội bỏ phiếu phê chuẩn bổ nhiệm Thẩm phán TAND tối cao.
Năm 2022, ông Phạm Quốc Hưng được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó chánh án TAND tối cao.
Như vậy, hiện nay, lãnh đạo TAND TP.HCM bao gồm: Chánh án Phạm Quốc Hưng, và 9 Phó chánh án là ông Trần Văn Vui, bà Phạm Thị Thu Hà, ông Phùng Văn Hải, bà Nguyễn Thị Thùy Dung, ông Quách Hữu Thái, ông Phạm Xuân Hưng, ông Bùi Thái Hùng, bà Nguyễn Ngọc Mai, ông Lê Hoàng Vương.
Tại lễ công bố, Chánh án TAND tối cao Nguyễn Văn Quảng cho biết việc phân công Phó chánh án TAND tối cao kiêm nhiệm Chánh án TAND TP.HCM là tiền lệ chưa từng có, nhưng vì đặc thù của TP.HCM là trung tâm tài chính, kinh tế, sắp tới TP.HCM sẽ có luật Đô thị đặc biệt nên cả nước đang kỳ vọng vào sự phát triển của TP.HCM, vì vậy, việc phân công này giúp TAND TP.HCM phát huy thế mạnh của mình.
Thông tư 72 quy định, mọi hoạt động của Bộ Quốc phòng phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật Việt Nam, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.
Bộ trưởng, các thứ trưởng giao nhiệm vụ đến cơ quan, đơn vị trực thuộc bộ; trường hợp cần thiết, giao nhiệm vụ trực tiếp đến cấp dưới của cơ quan, đơn vị trực thuộc bộ; chỉ huy cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ phải có trách nhiệm báo cáo cấp trên trực tiếp.
Trong quản lý và phân công công việc phải bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ kết quả, rõ thẩm quyền.
Một người hoặc một cơ quan, đơn vị được giao thực hiện nhiều nhiệm vụ, nhưng mỗi nhiệm vụ chỉ giao cho một người hoặc một cơ quan, đơn vị chủ trì chịu trách nhiệm chính, cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan phối hợp thực hiện.
Bộ Quốc phòng chú trọng đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, nhất là cải cách thủ tục hành chính, xử lý công việc trên môi trường điện tử; tinh giản ít nhất 10% số lượng cuộc họp hằng năm và chỉ tổ chức họp, hội nghị khi thực sự cần thiết; khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám tham mưu, dám chịu trách nhiệm, đề xuất những vấn đề mới có tính chất phức tạp, vì lợi ích chung.
Thông tư cũng quy định rõ về trách nhiệm, phạm vi, cách thức giải quyết công việc của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Theo đó, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ đạo, quản lý, điều hành toàn diện mọi hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng; phân công nhiệm vụ đối với các lãnh đạo bộ; thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định pháp luật và các nhiệm vụ do cấp có thẩm quyền giao, bao gồm cả các công việc được ủy quyền; chịu trách nhiệm cá nhân về mọi mặt công tác của Bộ Quốc phòng.
Bộ trưởng không trực tiếp giải quyết công việc đã phân công, phân cấp, ủy quyền cho thứ trưởng, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc bộ; trừ trường hợp cần thiết. Chỉ đạo, điều phối hoạt động giữa các lãnh đạo bộ. Chỉ đạo, kiểm tra hoạt động của chỉ huy cơ quan, đơn vị trực thuộc bộ. Trực tiếp chỉ đạo, điều hành các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng.
Về cách thức giải quyết công việc, bộ trưởng quyết định, chỉ đạo xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách; ban hành các văn bản hành chính theo thẩm quyền để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được phân công.
Cùng đó, đề nghị cấp có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cấp bách khác với quy định pháp luật hiện hành hoặc các biện pháp pháp luật chưa quy định trong các trường hợp thật cần thiết vì lợi ích quốc gia, phòng, chống, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa, thiên tai, dịch bệnh, bảo đảm tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng quyết định theo thẩm quyền hoặc trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng; trường hợp cần thiết, bộ trưởng có thể yêu cầu lấy ý kiến của các thứ trưởng hoặc các lãnh đạo bộ...
Trong trường hợp cần thiết, bộ trưởng trực tiếp chỉ đạo giải quyết những công việc đã phân công, ủy quyền cho thứ trưởng hoặc những việc liên quan đến các thứ trưởng nhưng còn ý kiến khác nhau.
Bộ trưởng ủy quyền tổng tham mưu trưởng - thứ trưởng Bộ Quốc phòng giải quyết các công việc của Bộ Quốc phòng trong thời gian bộ trưởng vắng mặt. Phân công các thứ trưởng theo dõi, chỉ đạo, giải quyết một số công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Quốc phòng.
Bộ trưởng thành lập các tổ chức phối hợp liên ngành để giúp bộ trưởng chỉ đạo, điều hành, xử lý các vấn đề phức tạp, quan trọng liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền hoặc đúng thẩm quyền nhưng nội dung quan trọng, phức tạp, có tính liên ngành thì phối hợp với bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có liên quan để hoàn chỉnh hồ sơ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định...
Theo đặc phái viên TTXVN, chiều 5/5 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến sân bay quân sự Palam, thủ đô New Delhi, bắt đầu thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Ấn Độ theo lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi.
Đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay có Quốc vụ khanh Bộ Nội vụ Ấn Độ Nityanand Rai; Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam Tshering Wangchuk Sherpa; Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Nguyễn Thanh Hải; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Mumbai (Ấn Độ) Lê Quang Biên cùng đông đảo cán bộ, nhân viên Đại sứ quán, cộng đồng người Việt Nam và lưu học sinh Việt Nam tại Ấn Độ.
Trên khắp thủ đô New Delhi, Chính phủ Ấn Độ đã bố trí các bức ảnh chân dung Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với khẩu hiệu song ngữ nhiệt liệt chào mừng.
Tại khách sạn, đông đảo nghệ sĩ Ấn Độ đã nồng nhiệt chào đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam bằng các điệu múa truyền thống.
Ngay sau khi tới thủ đô New Delhi, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Cố vấn an ninh Quốc gia Ấn Độ Ajit Doval; gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam tại Ấn Độ.
Chuyến thăm là sự kiện đối ngoại quan trọng và có ý nghĩa đặc biệt. Đây là lần đầu tiên Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Ấn Độ trên cương vị mới, diễn ra đúng dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện (2016 - 2026).
Chuyến thăm là minh chứng rõ nét đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta trong kỷ nguyên mới mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV đã đề ra. Đó là độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.