Ngày 4-7, ông Lê Đại Dương – Chủ tịch UBND phường Bắc Nha Trang – cho biết phường vừa tiếp tục có cảnh báo nguy cơ cháy rừng và các mối nguy hiểm đối với hoạt động leo núi tự phát tại khu vực núi Cô Tiên.
Theo UBND phường Bắc Nha Trang, địa hình núi Cô Tiên có đường đèo dốc quanh co, dễ xảy ra sạt lở, trơn trượt; khi thời tiết xấu dễ khiến người tham gia giao thông hoặc người leo núi bị mất lái, mất phương hướng, dẫn đến bị lạc sâu vào trong rừng, mất tín hiệu liên lạc và thiếu hụt lương thực, thực phẩm, bị kiệt sức.
Thực tế từng xảy ra nhiều vụ cháy rừng ở núi Cô Tiên và có nhiều trường hợp người dân, du khách gặp nạn khi vào rừng, leo núi này.
Trong khi hiện nay khu vực núi Cô Tiên chưa có hệ thống biển báo, đèn chiếu sáng hay chỉ dẫn rõ ràng; đường mòn trên núi lại có nhiều rẽ nhánh rất dễ gây mất phương hướng, lạc đường vào rừng sâu, vực thẳm, nhất là với người lạ hay du khách.
Để đảm bảo an toàn tuyệt đối về tính mạng, tài sản của cư dân, du khách, UBND phường Bắc Nha Trang “cảnh báo khẩn cấp” đến các tổ chức, cá nhân thực hiện, chấp hành khi đến khu vực núi Cô Tiên.
Đó là tuyệt đối không tổ chức leo núi khi thời tiết xấu (mưa bão, gió lớn…) và khi chưa đảm bảo các điều kiện an toàn, không có đầy đủ trang thiết bị bảo hộ;
Không tổ chức leo núi Cô Tiên sau 13h chiều hằng ngày để tránh việc không còn thời gian đủ sáng để kịp thời di chuyển xuống, rời khỏi núi.
Trường hợp leo núi tham quan có tổ chức và đảm bảo các điều kiện an toàn, có đầy đủ trang thiết bị bảo hộ, UBND phường Bắc Nha Trang khuyến cáo phải có kế hoạch di chuyển rõ ràng, có thông báo trước số lượng người tham gia leo núi cho các cơ quan chức năng của phường để được theo dõi, kịp thời cứu hộ cứu nạn khi xảy ra sự cố.
Phường cũng cảnh báo người tham gia leo núi phải chuẩn bị đầy đủ các vật dụng thiết yếu như: thức ăn, nước uống, thiết bị sạc pin dự phòng… và tìm hiểu kỹ về địa hình; khi leo núi phải luôn đi cùng và theo sát các thành viên trong đoàn, không tự ý tách nhóm;
Trẻ em, người lớn tuổi, những người không có đủ sức khỏe, thiếu trang thiết bị bảo hộ cần thiết… không nên tham gia hoạt động leo núi Cô Tiên.
Theo phường Bắc Nha Trang, thảm thực vật trên núi Cô Tiên (chủ yếu là cỏ tranh, lau sậy và bụi rậm) đang trong tình trạng khô hanh nghiêm trọng, dễ bắt lửa, cháy. Chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể gây ra cháy rừng trên diện rộng, đe dọa trực tiếp đến cả các khu dân cư phía dưới chân núi.
UBND phường khuyến cáo mọi người khi đến núi Cô Tiên phải thực hiện nghiêm các yêu cầu: Không sử dụng các vật dụng gây ra lửa cháy, hóa chất hoặc các chất dễ cháy, nổ vào rừng.
Tuyệt đối không đốt lửa cắm trại, nhóm lửa sưởi ấm, nấu nướng hoặc nướng đồ ăn tại các khu vực có thảm thực vật khô ở khu vực núi Cô Tiên. Tuyệt đối không hút thuốc, không vứt tàn thuốc bừa bãi trong rừng.
Phường đã nghiêm cấm đốt rác tự phát dưới chân núi vì nguy cơ cháy lan lên sườn núi rất cao và không dùng lửa để đốt tổ ong, tổ kiến hoặc hun khói để bắt các loại động vật ở khu vực núi Cô Tiên.
Nghiêm cấm hoàn toàn việc dùng lửa trong rừng khi thời tiết nắng nóng cao điểm hoặc khi có cảnh báo cháy rừng từ cấp IV (cấp nguy hiểm) và cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm).
Ngày nay, ẩm thực cao cấp được xem là ADN của văn hóa Pháp. Tuy nhiên, trước thế kỷ 18, viễn cảnh ăn uống tại Paris khá ảm đạm. Trong cuốn hướng dẫn du lịch năm 1727, học giả người Đức Joachim Christoph Nemeitz mô tả: "Chỉ giới quý tộc mới được ăn ngon nhờ có đầu bếp riêng, khách du lịch không có lời mời ăn tối thường phải dùng thịt nấu dở, thực đơn lặp lại và nghèo nàn".
Thời kỳ này, các quán trọ hay nhà nghỉ chỉ phục vụ những món cơ bản. Các quán rượu (cabaret) tập trung vào đồ uống, tiệm cà phê chỉ có kem và rượu mùi, khách sạn cung cấp nhu yếu phẩm và các tiệm quay bán thịt chín mang về. Khái niệm về nhà hàng, nơi thực khách có thể chọn món từ thực đơn và thưởng thức tại chỗ, chưa tồn tại.
Sự thay đổi bắt đầu vào năm 1765. Mathurin Roze de Chantoiseau, doanh nhân kiêm nhà từ thiện, mở một cửa hàng nhỏ gần bảo tàng Louvre. Ban đầu, Roze phục vụ các món súp ninh từ xương, thịt gia cầm muối và trứng tươi trên những chiếc bàn đá cẩm thạch nhỏ.
Trước cửa tiệm treo tấm biển: "Hãy đến với tôi, những ai đang đau dạ dày, tôi sẽ giúp bạn hồi phục". Đây là cách chơi chữ dựa trên một câu kinh thánh, đánh vào tâm lý coi trọng tiêu hóa để bảo vệ sức khỏe của giới trí thức bấy giờ. Tên gọi "restaurant" (nhà hàng) thực chất bắt nguồn từ động từ tiếng Pháp "restaurer" (hồi phục).
Roze đã thiết lập những tiêu chuẩn mà ngày nay thực khách coi là hiển nhiên. Bàn ăn riêng biệt thay vì ngồi chung bàn dài. Thực đơn niêm yết giá công khai. Sử dụng khăn trải bàn và đồ sứ sạch sẽ. Mô hình này lập tức thành công. Triết gia Denis Diderot, sau khi dùng bữa tại đây vào năm 1767, đã ca ngợi sự tiện lợi và riêng tư của tiệm.
Dù Roze đặt nền móng, nhưng phải đến năm 1786, khái niệm nhà hàng mới thực sự bùng nổ tại khu phức hợp Palais-Royal. Antoine Beauvilliers, cựu đầu bếp của các bá tước, đã mở La Grande Taverne de Londres - nhà hàng đầu tiên về cả hình thức lẫn tinh thần.
Các hướng dẫn du lịch đầu thập niên 1820 mô tả những nhà hàng mới nổi là nơi để giới trung lưu ăn uống và phô diễn đẳng cấp. Không gian tràn ngập gương lớn, lò sưởi bằng sứ, đèn pha lê và các cột trụ trang trí. Tại đây, những phụ nữ thanh lịch ngồi ở bàn cao để điều hành, viết hóa đơn và chào đón khách.
Beauvilliers đưa trải nghiệm ăn uống xa hoa của giới quý tộc ra không gian công cộng. Nhà hàng của ông có bàn gỗ gụ, tường bọc nệm và đèn chùm lộng lẫy. Thực đơn tại đây dài tới 178 món, bao gồm 10 loại súp, 12 món khai vị, 36 món tráng miệng và nhiều danh mục khác. Tại đây, ăn uống không chỉ là nạp năng lượng mà trở thành một nghi thức xã hội, nơi thực khách được phục vụ bởi các trưởng bộ phận chuyên nghiệp.
Cuộc Cách mạng Pháp năm 1789 vô tình trở thành chất xúc tác cho ngành kinh doanh này. Khi các gia đình quý tộc tháo chạy hoặc bị tịch thu tài sản, hàng nghìn đầu bếp riêng của họ bị mất việc. Những người này tràn ra đường phố Paris, mở các cơ sở kinh doanh độc lập.
Cùng lúc, các đại biểu từ khắp nơi đổ về thủ đô để soạn thảo hiến pháp mới. Họ cần những không gian yên tĩnh, trật tự để vừa dùng bữa vừa tranh luận chính trị. Nhà hàng chính là lựa chọn tối ưu. Nhà văn Louis-Sébastien Mercier từng nhận xét: "Nhà bếp được dựng lên ngay cạnh máy chém".
Từ khoảng 50 cơ sở năm 1789, số lượng nhà hàng tại Paris tăng vọt lên hơn 500 vào năm 1804 và đạt hơn 2.000 vào năm 1834. Các địa điểm như Méot, Véry hay Les Trois Frères Provençaux trở thành nơi giới trung lưu trải nghiệm sự tinh tế của tầng lớp quý tộc cũ.
Không chỉ dừng lại ở phân khúc cao cấp, mô hình này bắt đầu bình dân hóa. Năm 1855, thợ xẻ thịt Pierre-Louis Duval mở các cửa hàng bouillon (nhà hàng phục vụ nước dùng và thịt hầm) với giá rẻ cho người lao động, được coi là tiền thân của mô hình thức ăn nhanh hiện đại.
Khi sự cạnh tranh tại Paris trở nên quá khốc liệt, các đầu bếp Pháp bắt đầu mang công thức và mô hình này ra nước ngoài. Các nhà hàng phong cách Pháp xuất hiện tại nhiều thành phố châu Âu. Năm 1837, Delmonico’s mở cửa tại New York, trở thành nhà hàng hiện đại đầu tiên tại Mỹ, đánh dấu sự thống trị của mô hình ẩm thực từ Paris ra toàn cầu.
Từ một bát súp dành cho người đau dạ dày, nhà hàng Pháp đã trải qua một hành trình dài để trở thành biểu tượng, góp phần định hình ngành dịch vụ toàn cầu.
Công ty TNHH Jungle Boss (đơn vị chuyên tổ chức du lịch mạo hiểm, du lịch hang động ở Quảng Trị) cho biết, đơn vị vừa phối hợp Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Trị) khảo sát và phát hiện một hang động mới với hệ thống thạch nhũ quy mô lớn cùng nhiều cụm ngọc động có kích thước đặc biệt hiếm gặp.
Đây là một trong những phát hiện nổi bật về hang động trong những năm gần đây, góp phần khẳng định giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, đồng thời mở ra nhiều triển vọng cho công tác nghiên cứu khoa học, bảo tồn và phát triển du lịch khám phá.
Trước đó, vào tháng 3.2026, sau khi tiếp nhận thông tin từ người dân địa phương về việc phát hiện hang động mới, đội thám hiểm Jungle Boss đã phối hợp với Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng triển khai chương trình khảo sát kéo dài 6 ngày.
Hang động mới được đặt tên là hang Thắng (Victory Cave), theo tên người dân đã phát hiện vị trí hang. Hang nằm trên tuyến đường nối hang Voi và hồ Ma Đa, thuộc thung lũng Ma Đa trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
Đội khảo sát xác định hang Thắng có chiều dài khoảng 3 km, bề rộng trung bình khoảng 70 m, nhiều đoạn rộng trên 100 m. Hang có 2 cửa và chia thành 2 nhánh riêng biệt. Cửa vào rộng khoảng 5 m², trong khi cửa còn lại rất hẹp, chỉ đủ để một người trưởng thành lách qua.
Để tiếp cận lòng hang, các thành viên phải đu dây xuống độ sâu khoảng 20 m. Ngay khi chạm đáy, trước mắt đoàn khảo sát hiện ra không gian rộng lớn với hệ thống thạch nhũ được kiến tạo qua hàng trăm nghìn năm. Gần như toàn bộ chiều dài 3 km của hang đều được bao phủ bởi thạch nhũ với quy mô ấn tượng. Nhiều cột thạch nhũ cao tới 50 m vươn lên giữa lòng hang, xen kẽ là những rèm đá rủ từ trần xuống vách cùng các khối măng đá đồ sộ. Nhiều dạng thạch nhũ và cấu trúc đá có hình thái độc đáo xuất hiện dày đặc, tạo nên cảnh quan kỳ vĩ.
Đặc biệt, đoàn thám hiểm còn ghi nhận số lượng lớn các cụm ngọc động có kích thước rất lớn. Những viên ngọc động tròn, trắng, bề mặt nhẵn bóng và lấp lánh nằm trong các hốc đá tự nhiên.
Theo Jungle Boss, ngay cả các chuyên gia hang động giàu kinh nghiệm của đơn vị cũng chưa từng bắt gặp số lượng và kích thước ngọc động như tại hang Thắng. Đây được xem là minh chứng rõ nét cho quá trình kiến tạo địa chất đặc biệt diễn ra trong lòng hang.
Sau khi hoàn tất khảo sát, Công ty TNHH Jungle Boss đã có văn bản gửi Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đề xuất bổ sung hang Thắng vào tuyến du lịch sinh thái khám phá hồ Ma Đa - hang Trạ Ang theo hành trình 2 ngày 1 đêm. Đề xuất này đã được Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng chấp thuận chủ trương.
Theo kỳ vọng của đơn vị khảo sát, hang Thắng sẽ trở thành điểm đến mới hấp dẫn, góp phần gia tăng sức hút cho loại hình du lịch khám phá thiên nhiên và hệ thống hang động tại Quảng Trị.
Tháng 3, người dân thủ đô lần đầu được tận mắt chiêm ngưỡng màn trình diễn đỉnh cao của nữ nghệ sĩ nổi danh Trung Quốc Dương Lệ Bình với vở vũ kịch “Khổng Tước” kinh điển. Ít ai ngờ rằng với mức giá từ 5 triệu đến 20 triệu đồng, tác phẩm múa đương đại mang tầm vóc quốc tế lại có thể kín ghế trong tất cả các suất diễn, thậm chí không ít người đã quay lại nhà hát Hồ Gươm để thưởng thức lần 2.
Cũng mới đây, chuỗi sự kiện biểu diễn ballet kinh điển của Nhà hát Russian State Ballet - Liên bang Nga tại Nhà hát Hồ Gươm với hai kiệt tác bất hủ của nghệ thuật ballet thế giới là“Kẹp hạt dẻ”, “Romeo và Juliet” tiếp tục tạo nên một làn sóng thưởng thức nghệ thuật hàn lâm của người Việt.
Sự xuất hiện của một loạt các show diễn chuyên chở tinh hoa nghệ thuật thế giới tại Việt Nam đã một lần nữa khẳng định định hướng phát triển văn hóa Việt Nam theo Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, với định hướng hiện đại, nơi tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại không chỉ là nhiệm vụ, mà còn là cơ hội để Việt Nam nâng cao vị thế, gia tăng sức mạnh mềm và đóng góp tích cực vào dòng chảy văn minh của nhân loại.
Bên cạnh các chương trình nghệ thuật đỉnh cao, các show diễn nghệ thuật, các liên hoan, lễ hội văn hóa mang tầm tóc quốc tế được tổ chức thường niên, quy mô với mức kinh phí hàng triệu đô cũng đang kiến tạo nên một ngành công nghiệp văn hóa đầy tiềm năng cho Việt Nam.
Một trong những lễ hội quy mô bậc nhất phải kể đến là Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng (DIFF), tuổi đời tính đến DIFF 2026 là 14 năm. Với sự đồng hành của Tập đoàn Sun Group trong suốt 8 năm, DIFF đã trở thành một cuộc chơi ánh sáng mà bất cứ đội thi pháo hoa lừng danh nào trên thế giới cũng muốn thử sức. Có đến hàng chục đội thi từ khắp các cường quốc pháo hoa trên thế giới, thời gian thi đấu kéo dài đến gần hai tháng, và tất cả những loại pháo hoa hiện đại nhất, những công nghệ tân tiến nhất được ứng dụng, DIFF đã đưa Đà Nẵng không chỉ trở thành thủ phủ pháo hoa Việt Nam, mà còn là điểm đến của sự kiện và văn hóa toàn cầu.
Thậm chí, bà Nadia Shakira Wong, Giám đốc điều hành Global 2000, công ty tư vấn pháo hoa hàng đầu thế giới còn khẳng định: “Tôi tin rằng hoàn toàn có thể đề xuất đưa DIFF 2025 vào Sách Kỷ lục Guinness”.
Có thể thấy, các sự kiện lễ hội văn hóa quy mô lớn như DIFF đã không chỉ đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới, mà còn góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế.
Theo thống kê, DIFF 2025 đã hút đến gần 2 triệu lượt khách đến Đà Nẵng, tổng doanh thu từ dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành của Đà Nẵng ước đạt 5.600 tỉ đồng. Tận dụng sức lan tỏa của lễ hội DIFF, một loạt các show diễn nghệ thuật đẳng cấp quốc tế được tổ chức tại Bà Nà Hills, các show diễn đường phố, lễ hội ẩm thực, liên hoan phim quốc tế… được tổ chức, biến Đà Nẵng trở thành thỏi nam châm hút khách trong nước và quốc tế.
Câu chuyện của Sun Group với lễ hội DIFF có thể được xem là một dấu ấn điển hình về vai trò động lực của kinh tế tư nhân trong sự phát triển ngành công nghiệp văn hóa quốc gia. Đó không chỉ là câu chuyện về nguồn lực về tài chính, với mức kinh phí lên đến hàng trăm tỷ đồng cho mỗi mùa DIFF, mà còn là tầm nhìn dài hạn và sức sáng tạo trong việc tạo nên những sản phẩm văn hóa tầm cỡ và có sức hút toàn cầu.
DIFF chỉ là một trong rất nhiều sản phẩm văn hóa du lịch mà tập đoàn này đã kiến tạo. Tại Phú Quốc, việc Sun Group đầu tư các công trình biểu tượng như Cầu Hôn, Thị trấn Hoàng Hôn và có đến hai show diễn đẳng cấp quốc tế với màn bắn pháo hoa 365 ngày trong năm đã đưa đảo Ngọc trở thành điểm đến mới của thế giới, và là hòn đảo duy nhất thế giới hai lần bắn pháo hoa hàng đêm.
Tại Fansipan - từng được biết đến với vẻ đẹp kỳ vĩ của “nóc nhà Đông Dương”, giờ đây còn được đón thêm làn gió của ngành công nghiệp văn hóa với các show diễn đậm sắc màu vùng cao như “Vũ điệu trên mây”, hay mới đây là show diễn nghệ thuật đặc sắc “Đỉnh thiêng du ký”…
Tại Đà Nẵng, Sun World Ba Na Hills đón hàng triệu du khách quốc tế đến mỗi năm không chỉ để check-in cây Cầu Vàng biểu tượng hay làng Pháp cổ kính, mà còn để hòa vào không khí sôi động của các show diễn nghệ thuật đa phong cách mang đẳng cấp quốc tế diễn ra suốt bốn mùa.
Có thể thấy, mỗi điểm đến du lịch giờ đây đều hấp dẫn du khách bởi những câu chuyện văn hóa được kiến tạo, chiều sâu văn hóa được gìn giữ, và những tinh hoa văn hóa thế giới được tiếp thu. Đây có thể được xem là sự định hình cho du lịch văn hóa thế hệ mới, nơi du khách đến không chỉ để giải trí, mà còn sẵn sàng chi trả để thụ hưởng các giá trị văn hoá.