“Chị 79 tuổi, mắc bệnh nan y. Dẫu đã biết, đã hiểu, đã chuẩn bị tinh thần, nhưng với chúng tôi, chị ra đi vẫn là hơi sớm. Chúng tôi vẫn chưa có người nào có thể giúp lấp đầy khoảng trống mà chị để lại”, ông Phan Kim Hổ, Chủ tịch hội, nhắn về từ Đức.
Ông Phạm Nam Hương, người đã nhiều năm cùng bà làm đại diện hội tại Việt Nam, ngậm ngùi. “Chị Phượng ra đi, còn một tâm nguyện chưa hoàn thành là căn nhà bán trú thứ 15. Chúng tôi tất nhiên sẽ tiếp tục công việc chị để lại, dù thiếu chị thì rất nhiều khó khăn…”.
Ông Nguyễn Thiện Tống không giấu được bàng hoàng khi nghe tin: “Mỗi năm, chúng tôi thường rất vui được gặp nhau trong các hoạt động của học bổng Tiếp sức đến trường cùng với báo Tuổi Trẻ. Nay mùa thi, mùa học bổng gần tới rồi thì lại vắng chị…”.
Những người gắn bó với công tác xã hội ở Tuổi Trẻ vốn đều rất quen với cô Phượng có nụ cười thật hiền, vóc dáng bé nhỏ trong bộ đồ giản dị. Cô thường rớm nước mắt khi dang tay ôm các bạn tân sinh viên, thường sốt ruột xuất hiện đầu tiên trong những ngày vận động quyên góp giúp đồng bào bị thiên tai, thường gọi điện thăm hỏi phóng viên nhờ cung cấp thông tin những trường học vùng sâu cần nhà lưu trú cho học sinh người dân tộc ở lại.
Cô cứ thế đã gắn bó với Tuổi Trẻ gần 30 năm qua nhiều chương trình “Vì ngày mai phát triển”, và chỉ mới đây thôi, những hoạt động kỷ niệm 50 năm ngày thành lập báo cô vẫn đến tham gia đầy đủ dù đang trong quá trình trị bệnh.
“Từ chị Phượng mà hội chúng tôi – dù đa số thành viên đều ở Đức – lại rất quen thuộc với các hoạt động của Tuổi Trẻ, nhiều hoạt động khác của hội cũng nhờ vào thông tin và các liên hệ của báo”, ông Phan Kim Hổ nhấn mạnh.
Ông kể những hoạt động chính của hội những năm gần đây: đóng góp học bổng Tiếp sức đến trường, xây nhà bán trú cho học sinh vùng sâu, quyên góp hỗ trợ đồng bào bị thiên tai, xây dựng tủ sách “Nhất nghệ tinh”… Quả thật đều là những hoạt động mật thiết với báo chí.
Trên trang web của hội, trong bức thư ngỏ giới thiệu tủ sách “Nhất nghệ tinh”, một câu chuyện được kể lại: “Vào tháng 3-2009, khi đi thăm nhà lưu trú ở An Lão – Bình Định, trên đường đi chúng tôi đã say sưa bàn bạc với anh Hàng Chức Nguyên và anh Phan Văn Đắc ở báo Tuổi Trẻ về tình trạng dư thầy thiếu thợ, tinh thần chuộng khoa bảng của người Việt và chương trình dạy nghề thiết thực ở Đức.
Sau đó vào tháng 8-2009, hội chúng ta trợ giúp 200 triệu cho học bổng niên khóa 2009 – 2010, trong đó có 80 triệu là học bổng “Nhất nghệ tinh” giúp các em học nghề.
Đến Tết Canh Dần, chúng tôi có dịp được gặp anh Võ Như Lanh, báo Saigon Times. Anh cho biết Saigon Times Group cũng trợ cấp cho học bổng ‘Nhất nghệ tinh’ và theo anh thì hiện nay trong nước có tình trạng mâu thuẫn: có công ty muốn kiếm thợ nhưng kiếm không ra, nhưng sinh viên học xong đại học thì kiếm việc không có, chương trình dạy nghề không nhất quán, nhất là thiếu sách giáo khoa về học nghề…
Nhận thấy việc dịch và xuất bản sách cho học sinh học nghề, thầy giáo dạy nghề, và cho những người đang hành nghề cũng đem lại lợi ích về kiến thức chuyên môn cho một số người, nên vào ngày 23-2-2010 chúng tôi đã cùng với Saigon Times Foundation (STF) ký kết thành lập dự án xuất bản sách dạy nghề tủ sách Nhất nghệ tinh”.
Chuyến đi khảo sát nơi xây dựng nhà lưu trú ở An Lão – Bình Định ấy, nhà báo Hàng Chức Nguyên vẫn còn nhớ: “Gần điểm trường, chúng tôi gặp những cái chòi lá mà phụ huynh tự dựng lên cho con em ở để theo học.
Có cái dựng dưới gốc cây, có cái chơ vơ giữa nắng bụi. Chị Phượng khom lưng vào một căn chòi, gặp em bé đang lui cui với chén cơm nguội và mớ củi, cái nồi, áo quần, sách vở lỏng chỏng. Chị ngồi xuống, bật khóc”.
14 căn nhà lưu trú dành cho học sinh vùng sâu đã được cô Phượng liên hệ qua báo chí để xây nên ở Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Cao Bằng, Tuyên Quang, và những cuốn sách “Nhất nghệ tinh” giảng dạy tỉ mỉ những ngành nghề điện, điện tử, cơ khí, cơ điện tử, kỹ thuật ô tô, xe máy, hóa học, thời trang… cũng đã được lần lượt xuất bản, được vinh danh với giải thưởng Vì sự nghiệp văn hóa giáo dục của Giải Văn hóa Phan Châu Trinh 2018.
Hàng trăm người trong Hội Tương trợ và hợp tác Đức – Việt đã được huy động vào nhóm dịch sách, mỗi chuyến đi khánh thành nhà lưu trú là cả một sự kiện được cả hội chuẩn bị rộn ràng cả tháng để sắp xếp tham gia.
Ông Phạm Nam Hương nhắc nhớ: “Nhắc về chị Phượng, ấn tượng nhất với tôi là sự dấn thân. Nhìn vẻ ngoài bình dị, hiền lành, nhưng khi vào công việc thì chị rất nghiêm túc, cương quyết, làm gì cũng đến nơi đến chốn, tỉ mỉ, chi tiết, kỹ lưỡng và không bỏ cuộc.
Chúng tôi cùng với nhau làm việc xã hội, tất cả trên tinh thần tình nguyện, nhưng không phải lúc nào cũng suôn sẻ, không phải việc gì cũng dễ dàng.
Có lúc cũng khó khăn trong quyên góp, có khi cũng khúc mắc trong lý giải việc lựa chọn, nhưng chị lúc nào cũng thuyết phục được mọi người: việc đúng thì nên làm, và trên tất cả là uy tín cá nhân mà chị đã xây dựng được bằng sự nhiệt huyết và vô tư của mình.
Kể cả việc hợp tác rất lâu dài với Tuổi Trẻ, cũng có người thắc mắc vì ở nước ngoài đôi khi thiếu thông tin hoặc nghe được dư luận trái chiều, chị đã chứng minh được cho mọi người rằng những việc Tuổi Trẻ làm hoàn toàn là cống hiến cho xã hội. Việc gì của hội mà chị Phượng đề xuất với chúng tôi đều là việc đáng tin tưởng, đáng làm cho bằng được”.
Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống nhắc lại lần nữa: “Chị Phượng và các anh chị ở hội Đức – Việt là những trí thức mang rất nhiều nhiệt tâm trong sáng với đất nước và xã hội, luôn sẵn lòng xắn tay vào các hoạt động đóng góp cho Việt Nam. Cùng chung chí hướng với nhau, chúng tôi có sự đồng cảm rất lớn. Những năm nay, lần lượt từng người đi xa, tôi mong mỏi nhiệt tâm của các anh chị, của chúng tôi, thế hệ sau sẽ còn kế thừa…”.
Nguyễn Hà Phương - nữ sinh lớp 12 chuyên Anh Trường THPT chuyên Nguyễn Chí Thanh (phường Nam Gia Nghĩa - Lâm Đồng, Đắk Nông cũ) - giành học bổng toàn phần gần 11 tỉ đồng của Haverford College, một trong những đại học khai phóng hàng đầu nước Mỹ.
Suất học bổng bao trọn học phí, ăn ở, tài liệu học tập, sách vở và bảo hiểm y tế trong suốt bốn năm học tại Mỹ. Đây là tin vui lớn của ngôi trường chuyên ở Tây Nguyên và đối với một học sinh được thầy cô đánh giá là "luôn đặt mục tiêu rất rõ và đi đến cùng".
Hà Phương sở hữu IELTS 8.0, SAT 1540. Từ lớp 10, Phương đã có tên trong đội tuyển quốc gia môn tiếng Anh của tỉnh.
Lên lớp 11, Phương giành giải nhất học sinh giỏi cấp tỉnh môn tiếng Anh và được trao danh hiệu "Học sinh 3 tốt" cấp trung ương năm học 2023 - 2024.
Điều khiến hồ sơ của Hà Phương trở nên khác biệt không nằm ở các con số. Nữ sinh này đã sáng lập, đồng điều hành và tham gia nhiều dự án về văn hóa, kinh tế, sức khỏe và cộng đồng tại khu vực Đắk Nông cũ. Phương được biết là người mê viết lách, từng xuất bản một cuốn truyện dành cho thiếu nhi.
Trên sân cầu lông, Hà Phương từng đoạt giải nhất đôi nữ, giải nhất đôi nam nữ lứa tuổi 16 - 18 tại giải vô địch các câu lạc bộ tỉnh năm 2025 và huy chương bạc Hội khỏe Phù Đổng cấp tỉnh hồi học lớp 10.
Bà Phạm Thị Hải, mẹ Hà Phương, cho biết gia đình tự hào nhất không phải vì các suất học bổng giá trị lớn, mà vì con luôn sống có mục tiêu.
"Phương từ nhỏ đã ham học, thích đọc sách và có ý thức tự lập. Có hôm con thức rất khuya để hoàn thành bài, làm dự án hay luyện tiếng Anh nhưng chưa bao giờ than vãn. Gia đình chỉ cố gắng đồng hành, động viên để con được sống với đam mê của mình", bà Hải chia sẻ.
Ngoài Haverford College, Hà Phương còn nhận học bổng hơn 6 tỉ đồng từ năm trường đại học khác của Mỹ: Lafayette College, Franklin & Marshall College, Trinity University, Furman University và Rhodes College.
Đặc biệt, Hà Phương là 1 trong 10 sinh viên được nhận vào chương trình Dyer Fellowship của Lafayette College. Chương trình kéo dài bốn năm, hướng đến phát triển tư duy khởi nghiệp, năng lực thực hiện dự án thực tế và tinh thần tạo ảnh hưởng tích cực cho cộng đồng.
Hà Phương kể rằng bạn thích thử sức ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Có lúc vừa học đội tuyển, vừa làm dự án cộng đồng, vừa chơi thể thao khiến bản thân bị áp lực khá lớn nhưng cô chưa bao giờ muốn bỏ cuộc. Mỗi trải nghiệm, theo Phương, đều giúp cô hiểu bản thân và trưởng thành hơn.
"Em nghĩ điều giúp hồ sơ của mình tạo được dấu ấn không chỉ là điểm số, mà còn là những trải nghiệm thật, những điều mình đã sống và đã cố gắng. Em muốn hội đồng tuyển sinh nhìn thấy một người trẻ luôn muốn học hỏi, muốn tạo ra giá trị tích cực cho cộng đồng", Hà Phương nói.
Phía sau hành trình của Hà Phương là sự đồng hành của gia đình, nhà trường và đặc biệt là cô Nguyễn Thị Phượng - giáo viên chủ nhiệm đồng thời là giáo viên phụ trách đội tuyển quốc gia môn tiếng Anh của em suốt ba năm phổ thông.
Cô Phượng đánh giá Hà Phương là học sinh có tư duy tốt, giàu nghị lực và tinh thần cầu tiến. "Điều tôi quý nhất ở Phương là sự nghiêm túc, khả năng tự học cao và luôn chủ động trong mọi việc. Dù đạt nhiều thành tích, em vẫn sống tình cảm, biết quan tâm mọi người và luôn biết ơn gia đình, thầy cô", cô Phượng chia sẻ.
Khoảng 1,3 tỉ người trên thế giới sống với khuyết tật, tức khoảng 16% dân số toàn cầu. Điều tra năm 2023 cho thấy Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật (khoảng 6,11% dân số).
Có thể nói số liệu trên đây là một bộ phận không nhỏ trong xã hội song vẫn đang gặp nhiều rào cản trong tiếp cận giáo dục, việc làm, giao thông, dịch vụ công… Rào cản lớn nhất không nằm ở bản thân khuyết tật mà ở môi trường chưa được thiết kế để mọi người cùng tham gia bình đẳng.
Một công trình không có lối đi phù hợp, một trang thông tin không thể truy cập bằng công nghệ hỗ trợ hay một doanh nghiệp từ chối tuyển dụng vì định kiến… tất cả đều là rào cản xã hội, tạo ra khuyết tật về cơ hội với người khuyết tật. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu chính sách mà là thiếu cơ chế thực thi hiệu quả và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Muốn xóa bỏ rào cản cần chuyển từ cách làm mang tính phong trào sang cách làm dựa trên chuẩn tiếp cận, có kiểm tra giám sát, có chế tài và có sự tham gia của chính người khuyết tật. Một trong những biểu hiện rõ nhất của rào cản xã hội là khoảng cách về việc làm. Tỉ lệ người khuyết tật trong độ tuổi lao động đang làm việc chỉ khoảng 23,5% (theo số liệu điều tra năm 2023).
Nhiều người khuyết tật không thiếu năng lực nhưng lại thiếu cơ hội tiếp cận. Họ không được đào tạo nghề phù hợp, không được hỗ trợ điều chỉnh môi trường làm việc và thường bị loại khỏi vòng tuyển dụng ngay từ đầu do định kiến.
Tăng cơ hội việc làm cho người khuyết tật không thể dựa vào thiện chí mà phải dựa trên hệ thống chính sách đồng bộ, từ chống phân biệt đối xử đến hỗ trợ doanh nghiệp và dịch vụ việc làm công.
Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm cho người khuyết tật song chính sách chưa thực sự tạo động lực. Chẳng hạn doanh nghiệp chỉ được hưởng ưu đãi thuế khi có từ 30% trở lên số lao động bình quân trong năm là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác). Đồng thời có quy mô từ 20 lao động trong năm trở lên.
Có những cơ sở đạt tỉ lệ lao động khuyết tật như quy định nhưng vẫn không được hưởng ưu đãi do không đáp ứng điều kiện về quy mô lao động tối thiểu.
Tương tự, doanh nghiệp phải bảo đảm tỉ lệ từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác) mới được hưởng chính sách ưu đãi vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động. Không ít doanh nghiệp không thể tiếp cận chính sách này do không đạt ngưỡng tỉ lệ lao động là người khuyết tật.
Do vậy yêu cầu đặt ra là điều chỉnh chính sách theo hướng bỏ hoặc linh hoạt hóa điều kiện về quy mô lao động, đặc biệt với cơ sở có tỉ lệ lao động là người khuyết tật cao.
Hoặc thiết kế cơ chế ưu đãi theo hướng lũy tiến hay đa ngưỡng thay vì áp dụng cứng tỉ lệ 30% nhằm ghi nhận cả những doanh nghiệp có đóng góp đáng kể nhưng chưa đạt ngưỡng.
Cần kết hợp đồng thời tiêu chí về tỉ lệ và số lượng tuyệt đối lao động là người khuyết tật, mở rộng hình thức hỗ trợ ngoài thuế như cải tạo nơi làm việc, công nghệ trợ giúp, đào tạo tại chỗ song song với tận dụng mua sắm công và chuỗi cung ứng.
Kinh nghiệm khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho thấy các quốc gia thành công thường kết hợp nhiều công cụ: ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật, cơ chế trách nhiệm và cả áp lực thị trường.
Phải chăng vì hết yêu nên mới chọn cách im lặng? Không hẳn. Đó là hệ quả của quá trình dài chúng ta mải mê "vận hành" thế giới bên ngoài mà quên mất cách hiện diện bên trong tổ ấm.
Sự im lặng trong hôn nhân hiếm khi đến từ một mâu thuẫn lớn hay nhỏ. Nó thường bắt đầu từ những thay đổi rất nhỏ: cách ta giao tiếp ứng xử, cũng như hiện diện trước đối phương.
Khi vị thế xã hội tăng lên, "cái tôi" thường bộc lộ rõ nét và có xu hướng xâm lấn bầu không khí gia đình.
Tại nơi làm việc, chúng ta quen với lối tư duy quản trị: quyết định nhanh, kiểm soát vấn đề và ưu tiên hiệu quả. Nhưng khi mang nguyên "công thức vận hành" ấy về nhà, cái ta nhận được đôi khi là khoảng cách vô hình.
Tôi đã chứng kiến một vài trường hợp: người chồng lạm dụng các câu cầu khiến, thái độ áp đặt khiến vợ của họ nảy sinh cơ chế tự vệ: thu mình lại và ít chuyện trò, tâm sự.
Rõ ràng, người vợ chọn cách im lặng không phải vì không có nhu cầu sẻ chia, mà vì không còn cảm thấy an toàn để bộc lộ những tổn thương hay suy nghĩ thật.
Ở một lát cắt khác, năng lượng cảm xúc của mỗi người là có hạn. Áp lực từ nhiều phía, trách nhiệm và sự kỳ vọng của xã hội phần nào đang âm thầm rút nguồn năng lượng này hằng ngày.
Sau một ngày dài phải đóng vai những cá nhân bản lĩnh và quyết đoán, nhiều người trở về nhà trong trạng thái kiệt sức tâm lý. Lúc này, một nghịch lý đau lòng xảy ra: Chúng ta sẵn sàng tinh tế, lịch thiệp với cả thế giới, nhưng lại thờ ơ và thiếu kiên nhẫn với người bạn đời.
Thật vậy, khi cạn kiệt năng lượng cảm xúc, chức năng giao tiếp tự thân sẽ bị đình trệ. Lúc này, trò chuyện không còn là nhu cầu kết nối, mà trở thành một nghĩa vụ. Từ ít nói dẫn đến lười chia sẻ, và cuối cùng rơi vào trạng thái "đóng băng" cảm xúc.
Cộng hưởng với đó là quy luật biến đổi sinh học theo tuổi tác. Sự sụt giảm nội tiết tố tác động trực tiếp đến "hệ thống phần thưởng" trong não bộ, mà còn làm suy giảm nhu cầu gần gũi và gắn kết.
Nếu những món ăn tinh thần như cử chỉ quan tâm, sự chạm khẽ hay những lời hỏi han không được duy trì như một thói quen, sợi dây liên kết giữa hai người sẽ lỏng lẻo dần theo quy luật tự nhiên.
Thêm một nghịch lý nữa là nhiều người còn suy nghĩ chủ quan rằng "sống với nhau lâu phải tự hiểu". Lâu dần, họ bỏ qua những cảm xúc, suy nghĩ của nhau.
Ngoài ra trong thời đại số, khoảng cách này càng rõ nét: mỗi người một thiết bị, một dòng thông tin, một thế giới riêng. Gần nhau về khoảng cách, nhưng xa nhau về cảm xúc.
Sự rạn nứt trong hôn nhân luôn phát đi tín hiệu từ rất sớm. Hãy thử rà soát lại mối quan hệ thông qua một vài "chỉ báo" sau đây:
- Khi bạn chia sẻ một vấn đề cá nhân, đối phương phản hồi bằng sự thấu cảm hay chỉ đơn thuần là xử lý thông tin?
- Sự im lặng giữa hai người là trạng thái thư giãn, bình yên hay là sự né tránh, ngột ngạt?
- Những cuộc trò chuyện gần đây chỉ xoay quanh việc vận hành đời sống (con cái, tiền bạc) hay có chỗ cho những cảm xúc riêng tư?
- Bạn có còn là người đầu tiên mà đối phương muốn chia sẻ không?
- Khi có xung đột, hai người tìm cách hiểu nhau hay tìm cách kết thúc nhanh?
Nếu các câu trả lời nghiêng về phía tránh né cảm xúc hoặc hỏi - đáp đơn thuần, đó là chỉ báo cho thấy cuộc hôn nhân đang thiếu đi chất lượng hiện diện.
Để khôi phục kết nối và hàn gắn, sau một "cái đầu lạnh" để nhận diện thực tế, chúng ta cần một "trái tim ấm" để thấu cảm.
Trong mọi mặt của đời sống, hiểu được xem là tiền đề của thương. Hãy nhìn sâu và đa chiều vấn đề để thấy phía sau sự im lặng của bạn đời có thể là sự mệt mỏi chưa được gọi tên, phía sau một phản ứng gay gắt có thể là những áp lực đang đè nặng.
Thay vì kỳ vọng đối phương phải "đọc vị" mình, mỗi người cần học cách bày tỏ nhu cầu và cảm xúc một cách rõ ràng, chân thành.
Sự chia sẻ, trò chuyện của những vợ chồng sống lâu với nhau cần được nuôi dưỡng bằng những nguyên liệu giản đơn hằng ngày: một bữa cơm chung không thiết bị để trò chuyện, một cuộc lắng nghe không ngắt lời, một lần chia sẻ cảm xúc thay vì chỉ trao đổi thông tin.
Quan trọng không kém là việc chăm sóc sức khỏe tinh thần cá nhân. Bởi lẽ một tâm hồn kiệt quệ sẽ rất khó để cộng hưởng và kết nối với một tâm hồn khác.
Hôn nhân phần lớn rạn nứt từ những điều nhỏ bé bị bỏ quên trong thời gian dài. Nhưng cũng chính vì vậy, nó có thể được hàn gắn từ những điều nhỏ bé nếu mỗi người đủ sẵn sàng thay đổi.
Suy cho cùng, điều giữ hai người ở lại bên nhau không phải là chúng ta đã đi cùng nhau bao lâu, mà là mức độ sẵn lòng để hiểu nhau trong mọi hoàn cảnh, tình huống.