Nghị quyết kéo dài miễn giảm thuế xăng dầu này có hiệu lực từ ngày 1.7 đến hết ngày 30.9 năm nay.
Theo đó, Chính phủ kéo dài thời hạn áp dụng Nghị quyết số 25/2026 và Nghị định số 72/2026 của Chính phủ đến hết ngày 30.9. Điều này đồng nghĩa với việc tiếp tục duy trì mức thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) đối với một số mặt hàng xăng, dầu và nguyên liệu sản xuất xăng, dầu theo quy định hiện hành thêm 3 tháng.
Đồng thời, Nghị quyết cũng kéo dài thời gian áp dụng các chính sách về thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng quy định tại Nghị quyết số 19/2026 của Quốc hội đến hết ngày 30.9 đối với xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu và nhiên liệu bay.
Tuy nhiên, riêng với thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, mục 2 điều 3 của Nghị quyết 34 quy định vẫn thực hiện theo quy định của luật Thuế tiêu thụ đặc biệt số 66/2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Đáng chú ý, Nghị quyết quy định trường hợp cần thiết để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh năng lượng và ổn định thị trường xăng dầu, Bộ Công thương sẽ chủ trì đề xuất điều chỉnh thời gian áp dụng (rút ngắn hoặc kéo dài), gửi Bộ Tài chính trình Chính phủ xem xét, quyết định.
Các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện thi hành Nghị quyết này.
Việc gia hạn được Chính phủ đưa ra trên cơ sở đánh giá diễn biến thị trường năng lượng thế giới, nhu cầu bảo đảm nguồn cung trong nước và mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp, người dân. Chính sách được kỳ vọng tiếp tục góp phần giảm chi phí nhiên liệu, vận tải, logistics và sản xuất kinh doanh, đồng thời hạn chế tác động đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong quý 3/2026.
Trước đó, Bộ Tài chính đã đề xuất kéo dài các chính sách ưu đãi thuế thêm 3 tháng nhằm duy trì mặt bằng giá xăng dầu ổn định, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và giảm áp lực lạm phát.
6 doanh nghiệp trong danh sách công bố lần này có số nợ thuế trên 100 tỉ đồng gồm Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ xây dựng Việt Hàn Sài Gòn nợ thuế hơn 493,2 tỉ đồng; Công ty TNHH Thương mại - Dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh nợ hơn 327,5 tỉ đồng; Công ty cổ phần Tập đoàn Yên Khánh nợ hơn 263,5 tỉ đồng; Công ty cổ phần Đầu tư Cái Mép nợ hơn 141,5 tỉ đồng; Công ty cổ phần Tập đoàn NRC nợ 136 tỉ đồng; Công ty cổ phần Thái Sơn E&C nợ hơn 110,5 tỉ đồng…
Kế đến là những đơn vị có số nợ thuế khác như HTX vận tải hàng hóa và hành khách Hải Âu nợ hơn 71 tỉ đồng; Công ty cổ phần dịch vụ bất động sản Danh Khôi Việt nợ hơn 67,1 tỉ đồng; Công ty TNHH Một Thành viên Đào tạo nghề Trương Anh nợ hơn 65,2 tỉ đồng; Công ty cổ phần Thanh Niên nợ hơn 52,6 tỉ đồng… Nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ăn uống, nhà hàng, phim ảnh… cũng rơi vào tình trạng nợ thuế lớn.
Điểm đặc biệt trong danh sách lần này là xuất hiện một số cá nhân có số nợ thuế lên hàng trăm tỉ đồng như bà Võ Thị Ngọc Phượng (88 Đồng Khởi, P.Sài Gòn) nợ hơn 158,9 tỉ đồng; ông Lâm Phước Hải (80 Đồng Khởi, P.Sài Gòn) nợ hơn 23,2 tỉ đồng. Ngoài ra, còn có một số cá nhân nợ thuế khác như ông Nguyễn Quang Cường (67 Hàm Nghi, P.Sài Gòn) nợ hơn 1,1 tỉ đồng; Hồ Thị Lài (Lê Thánh Tôn, P.Sài Gòn) nợ hơn 941 triệu đồng; Trần Thị Kim Phượng (Điện Biên Phủ, P.Tân Định) nợ hơn 912 triệu đồng… Người có mức nợ thuế thấp nhất trong danh sách này là Vũ Hồng Loan (Trần Hưng Đạo, P.Cầu Ông Lãnh) nợ 50 triệu đồng.
Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn - SJC tiếp tục giảm mỗi lượng vàng miếng 900.000 đồng, mua vào còn 167,2 triệu đồng, bán ra 169,7 triệu đồng. ACB giảm giá vàng miếng 600.000 đồng mỗi lượng, mua vào xuống 167,5 triệu đồng, bán ra 170 triệu đồng. Công ty Mi Hồng giảm giá mua vào 1,3 triệu đồng, xuống 167,5 triệu đồng; bán ra giảm 800.000 đồng, xuống 169,5 triệu đồng. Công ty Phú Quý giảm 900.000 đồng mỗi lượng vàng miếng SJC, mua vào còn 167,2 triệu đồng, bán ra 169,7 triệu đồng…
Giá vàng nhẫn cũng giảm 900.000 đồng mỗi lượng, Công ty Phú Quý mua vào còn 166,7 triệu đồng, bán ra 169,7 triệu đồng; Công ty SJC mua vào 167 triệu đồng, bán ra 169,5 triệu đồng… Những người mua vàng vào đầu tuần này nay lỗ khoảng 5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thế giới tăng 27 USD mỗi ounce, lên 4.748 USD. Trong phiên giao dịch Mỹ (đêm 21.4), kim loại quý thế giới giảm mạnh từ 4.788 USD mỗi ounce xuống 4.668 USD. Giá vàng giảm do đồng đô la Mỹ tăng mạnh và nỗi lo lạm phát gia tăng liên quan đến chiến sự Trung Đông. Nhà đầu tư bán tháo thể hiện căng thẳng ngày càng gia tăng trong hoạt động giao dịch vàng. Cuộc khủng hoảng địa chính trị ban đầu thúc đẩy các nhà đầu tư đổ xô vào vàng đang đe dọa kích hoạt chính việc thắt chặt tiền tệ, điều khiến vàng trở nên kém hấp dẫn hơn.
Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố sẽ không gia hạn thỏa thuận ngừng bắn nếu không đạt được thỏa thuận và eo biển Hormuz sẽ vẫn đóng cửa cho đến khi đạt được thỏa thuận. Việc đóng cửa này đã gây ra "cú sốc nguồn cung năng lượng lịch sử", một cú sốc làm gia tăng rủi ro lạm phát và làm tăng khả năng tăng lãi suất của ngân hàng trung ương. Lãi suất cao hơn là yếu tố kìm hãm giá vàng điển hình vì nó làm tăng chi phí cơ hội khi nắm giữ một tài sản không sinh lời. Kim loại quý này hiện đã giảm hơn 8% so với mức đỉnh điểm kể từ khi chiến tranh Iran bắt đầu.
Chương trình mang đến nhiều ưu đãi về thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại và giải pháp tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành và tăng năng lực cạnh tranh.
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế là nghiệp vụ cốt lõi, gắn liền với nhiều giao dịch như phát hành và thanh toán thư tín dụng (L/C), nhờ thu, chuyển tiền quốc tế và xử lý chứng từ. Mỗi nghiệp vụ phát sinh các loại phí riêng, phụ thuộc vào giá trị và tần suất giao dịch của từng doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp có quy mô giao dịch lớn hoặc phát sinh thanh toán thường xuyên, các chi phí này không còn mang tính đơn lẻ mà trở thành một cấu phần vận hành đáng kể khi cộng dồn theo thời gian, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI.
Ở chiều xuất khẩu, thời gian thu tiền phụ thuộc nhiều vào phương thức thanh toán và quá trình xử lý chứng từ. Việc phát sinh thêm chi phí hoặc kéo dài thời gian xử lý có thể ảnh hưởng trực tiếp đến vòng quay vốn và hiệu quả sử dụng dòng tiền của doanh nghiệp. Trong khi đó, doanh nghiệp nhập khẩu cần đồng thời đảm bảo thanh toán đúng hạn cho đối tác nước ngoài và kiểm soát chi phí để tối ưu giá vốn hàng hóa.
Trong bối cảnh biên lợi nhuận ngày càng thu hẹp, chi phí thanh toán quốc tế không còn là chi phí giao dịch đơn thuần mà gắn trực tiếp với hiệu quả sử dụng vốn và năng lực quản trị dòng tiền của doanh nghiệp. Đây cũng là lý do nhiều doanh nghiệp bắt đầu rà soát kỹ hơn các khoản phí ngân hàng phát sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, Eximbank triển khai chương trình CIB Trade Return 2026 với trọng tâm tối ưu chi phí tại các nghiệp vụ thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại có tần suất sử dụng cao.
Cụ thể, đối với doanh nghiệp xuất khẩu, chương trình áp dụng chính sách miễn phí nhận tiền, phí xử lý chứng từ và phí thông báo L/C, đồng thời giảm đến 70% phí thanh toán L/C và nhờ thu. Việc tối ưu chi phí tại các khâu giao dịch giúp doanh nghiệp cải thiện vòng quay vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng dòng tiền và tăng tính chủ động trong hoạt động thương mại quốc tế.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, Eximbank miễn phí chuyển tiền quốc tế và ký hậu vận đơn, đồng thời giảm đến 70% phí phát hành L/C, phí thanh toán L/C và nhờ thu. Cấu trúc ưu đãi được thiết kế theo nhu cầu giao dịch thực tế, hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát chi phí nhập khẩu, tối ưu kế hoạch tài chính và nâng cao hiệu quả vận hành.
Chương trình CIB Trade Return 2026 được triển khai xuyên suốt năm 2026, từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31.12.2026, áp dụng cho khách hàng doanh nghiệp lớn (có doanh thu từ 1.000 tỷ đồng trở lên) và doanh nghiệp FDI bao gồm các khách hàng mới hoặc chưa phát sinh doanh số thanh toán quốc tế tại Eximbank trong vòng 6 tháng gần nhất, cũng như các khách hàng hiện hữu đang giao dịch tại ngân hàng.
Trong bối cảnh doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần kiểm soát chi phí để duy trì biên lợi nhuận, các giải pháp tối ưu chi phí giao dịch và vận hành dòng tiền đang trở thành yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp có tần suất giao dịch cao và nhu cầu thanh toán thường xuyên.